Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức sự kiện

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 195175
Tin tức sự kiện
Những thách thức về quốc phòng - an ninh trên Biển Đông và vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới
Thứ 2, Ngày 27/04/2020, 11:00 | Ngọc Thuận
Ngày nay, chúng ta xây dựng đất nước trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường, hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; những thách thức về quốc phòng - an ninh trên Biển Đông tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Đảng ta nhận định: "Tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng… tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực".

Những thách thức về quốc phòng - an ninh trên Biển Đông và khu vực vùng biển, đảo của Việt Nam

Những năm qua, tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp khi Trung Quốc gia tăng các đòi hỏi chủ quyền vô lý, cải tạo các cấu trúc địa lý thành đảo nhân tạo và quân sự hóa trái phép. Bản chất vấn đề Biển Đông được mở rộng hơn, trở thành tâm điểm tập hợp lực lượng và cạnh tranh giữa các nước lớn. Các nước ngoài khu vực, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a… bắt đầu can dự vấn đề Biển Đông nhân danh an ninh, an toàn hàng hải, hàng không và bằng nhiều biện pháp khác nhau, chủ yếu là thông qua các biện pháp ngoại giao đa phương và trên thực địa; vấn đề quốc phòng - an ninh được mở rộng cả ở trên biển và trên không.

Như vậy, xét về bản chất, vấn đề Biển Đông hiện nay bao gồm ba lớp: Lớp trong cùng là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa Trung Quốc và một số nước trong khu vực, giữa các nước ASEAN có chồng lấn quyền chủ quyền trên Biển Đông. Lớp giữa là vấn đề an ninh khu vực giữa ASEAN và Trung Quốc. Lớp ngoài cùng là cạnh tranh chiến lược và tập hợp lực lượng giữa các nước lớn. Tình hình Biển Đông những năm qua căng thẳng hơn, phức tạp hơn, gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng của các sự cố; phạm vi các sự cố trên biển, trên không liên tục được mở rộng sâu xuống phía Nam và lên cả biển Hoa Đông; gia tăng đáng kể số bên liên quan tới tranh chấp, nhất là sự tham gia của các nước lớn ở những mức độ khác nhau; có xu hướng quân sự hóa và bán quân sự hóa rõ rệt; tính chất của vấn đề Biển Đông ngày càng thách thức luật pháp quốc tế, ngay cả khi phán quyết của Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 đã được đưa ra; vai trò của ASEAN chưa được phát huy toàn diện, còn hạn chế, các giải pháp ở cấp độ khu vực chưa có hiệu quả.

Với việc Nhóm các nền công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G-7) nhiều lần ra tuyên bố chung về vấn đề an ninh, an toàn hàng hải, trong đó đề cập đến Biển Đông và Tòa Trọng tài ra phán quyết cho thấy, vấn đề Biển Đông đã được quốc tế hóa ở mức cao nhất từ trước tới nay. Vấn đề Biển Đông đã có bước ngoặt lớn về mặt pháp lý và ngoại giao. Biển Đông đang trở thành một trong những "điểm nóng", mối quan hệ hàng đầu của thế giới và khu vực. Trong thời gian qua, Chính phủ, các nhà khoa học quân sự, chính trị, giới học giả và các hãng thông tấn báo chí nhiều nước đã đồng loạt lên án các hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền trên biển, thềm lục địa của Việt Nam. Đây là làn sóng dư luận rộng rãi nhất nhằm vào Trung Quốc kể từ khi nước này thực thi chính sách về đường lưỡi bò "9 đoạn" gây căng thẳng trong khu vực… Một trong những nguyên nhân chủ yếu, đồng thời là nguy cơ tiềm tàng gây mất ổn định an ninh, trên các vùng biển, đảo trong khu vực. Trước các động thái đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương, đường lối và nhiều biện pháp tích cực cùng các nước ASEAN nhằm hợp tác, phát triển và tăng cường đối thoại để giải quyết các tranh chấp chủ quyền biển, đảo, giữ vững an ninh chủ quyền quốc gia, ngăn ngừa xung đột, tạo môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Một số định hướng cơ bản bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới

          Xuất phát từ tình hình quốc phòng, an ninh trên Biển Đông và khu vực vùng biển, đảo hiện nay cho thấy, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia rất nặng nề, có yêu cầu cao. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, phải có sự nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Trước hết, cần tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: "Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội".

Để tăng cường quốc phòng - an ninh trên các vùng biển, đảo, ngăn chặn kịp thời hoạt động xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; các bộ, ban, ngành và lực lượng quốc phòng đứng chân trên các vùng biển, hải đảo, cần thực hiện tốt các định hướng cơ bản sau:

Trước hết, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho toàn dân, toàn quân về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây vừa là định hướng vừa là giải pháp cơ bản, bởi vì nó định hướng nhận thức, tư tưởng, trau dồi tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí, vai trò của biển, đảo, ý thức trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Thực hiện giải pháp này sẽ làm cho mọi người nhận thức rõ biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Tổ quốc, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Mặt khác, thời gian qua, vấn đề nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo và hành động của một bộ phận nhân dân chưa thống nhất, thậm chí sai lệch, bị lợi dụng, kích động. Vì vậy, phải tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và toàn dân. Đây cũng là từng bước xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Cùng với đó, tập trung lãnh, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ từ Trung ương tới các địa phương và phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành, các địa phương trong nước cũng như quốc tế để tiến hành các giải pháp có hiệu quả. Tập trung giáo dục chủ trương, quan điểm của Đảng về Chiến lược Biển, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, Luật Biển; các chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, đi sâu chính sách trong đấu tranh xử lý vấn đề Biển Đông sau khi Tòa Trọng tài quốc tế (PCA) có phán quyết về "đường 9 đoạn". Quán triệt và thực hiện tốt phương châm, tư tưởng chỉ đạo "4 Tránh", "3 Không" và "9 K". Theo đó, "4 Tránh" là: Tránh xung đột về quân sự, tránh đối đầu về kinh tế; tránh cô lập về ngoại giao; tránh lệ thuộc về chính trị; "3 Không" là: Không liên minh quân sự với nước ngoài; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự để chống lại các nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối với nước khác; "9 K" là: Kiên quyết đấu tranh, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích, kiềm chế, không nổ súng trước, không để nước ngoài lấn chiếm biển đảo, không để xảy ra xung đột.

Hai là, các lực lượng quốc phòng, trong đó bộ đội Hải quân đứng chân trên tuyến biển, đảo phải thường xuyên làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương. Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là yêu cầu cơ bản của các lực lượng quốc phòng, nhất là lực lượng Hải quân cần chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương trên các đảo về chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn đề mới nảy sinh, giúp đỡ địa phương ổn định cuộc sống, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát triển kinh tế gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh trên biển; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa bàn, từng đối tượng tuyên truyền vận động. Tăng cường kiểm tra, giám sát toàn diện các xã đảo, huyện đảo trên cơ sở đó đề xuất với địa phương kế hoạch xây dựng cơ sở chính trị tại các vùng biển, đảo nhạy cảm; tích cực tham gia củng cố các tổ chức quần chúng… nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, tham gia giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội góp phần xây dựng xã đảo, huyện đảo vững mạnh.

Ba là, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được để bị động, bất ngờ, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.  Khi có nguy cơ xảy ra tình huống trên biển, đảo thì phải có lập trường, thái độ và hành động dứt khoát, cương quyết, không do dự, không thỏa hiệp, nhất là đối với các đối tượng phản động, các "ngọn cờ" do thế lực thù địch xây dựng nhằm tập hợp lực lượng xâm phạm chủ quyền quốc gia trên các vùng biển, đảo. Các đơn vị đứng chân trên biển, đảo phải sử dụng tổng hợp các biện pháp, đối sách, phát huy nguồn lực từ quá trình hội nhập để bảo vệ chủ quyền quốc gia theo hướng tạo đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng thể của các quốc gia, dân tộc trong khu vực, với các lực lượng quốc phòng, an ninh, cơ quan, bộ, ban, ngành và địa phương; chú trọng nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng trong thế trận quốc phòng toàn dân (nhất là các tổ chức phi chính phủ, các tầng lớp nhân dân, giới trí thức, doanh nghiệp…).

Lực lượng quốc phòng đứng chân trên các vùng biển, đảo cần tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về tăng cường lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới, qua đó giúp các cấp ủy, tổ chức đảng thấy rõ tình hình trong nước và những tồn tại, nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên các vùng biển, hải đảo; quan tâm và tìm hiểu những bức xúc của các tầng lớp nhân dân về những vấn đề phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền biển, đảo, trong đó tập trung đánh giá những bức xúc của ngư dân và nhân dân trong và ngoài nước, trên cơ sở đó tham mưu để cấp ủy và chính quyền địa phương thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhất là chính sách về an sinh xã hội; xử lý nghiêm các vụ tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; tập trung giải quyết các vụ khiếu kiện, không để kéo dài, không tạo ra các "điểm nóng" để các thế lực thù địch có điều kiện kích động quần chúng hoạt động chống phá Đảng, chống phá chính quyền.

Bốn là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên vùng biển, đảo, gắn với "thế trận lòng dân" vững chắc. Đây vừa là định hướng chiến lược vừa là nhiệm vụ, bởi vậy xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên vùng biển, gắn với "thế trận lòng dân" vững chắc sẽ góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự trên biển, khi xây dựng nắm vững yêu cầu: phải dựa vào dân; phải gắn với thế bố trí của các lực lượng quốc phòng trên biển, hải đảo, với các ngành kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao và các lực lượng đứng chân trên biển… nhằm tạo thành "thế trận tổng hợp, đa năng, nhiều tầng, nhiều tuyến nhằm mục tiêu đối phó thắng lợi với mọi tình huống, nhưng trước hết là bảo vệ vững chắc chủ quyền các vùng biển, đảo. Đảng ta yêu cầu: "Xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên tuyến biển. Có kế hoạch ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến". Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, toàn diện, từ xa, liên hoàn, vững chắc, linh hoạt phải tập trung vào các vùng biển đảo trọng điểm, hướng chiến lược, có khả năng chuyển hóa nhanh chóng, tạo được sự răn đe đối với thù trong và giặc ngoài. Đảng ta nhấn mạnh cần: "Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược". Trong đó, một số nội dung được nhấn mạnh như những định hướng để gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia như: tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch; xây dựng kết cấu hạ tầng; xây dựng các khu vực phòng thủ then chốt trên tuyến ven biển chiến lược. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay được thể hiện ngay từ khâu thẩm định các khu công nghiệp, khu kinh tế tập trung, các dự án ven biển, trên đảo; quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng gắn với xây dựng thế trận quốc phòng, bao gồm các tuyến đường giao thông, hệ thống các sân bay, bến cảng, kho, hệ thống thông tin...Bởi vậy, cần tập trung đẩy nhanh quy hoạch bố trí nâng cao chất lượng tổ chức xây dựng các khu dân cư, khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trọng điểm trên tuyến biển, đảo gần bờ; xác định và tổ chức xây dựng các đơn vị Hải quân trong điều kiện mới; hoàn chỉnh thế bố trí lực lượng chuyên trách thời bình, thời chiến; hoàn thành cơ bản bố trí các khu kinh tế - quốc phòng trên các vùng biển, hải đảo, kết hợp quốc phòng với kinh tế; kinh tế với quốc phòng. Chăm lo cải thiện nâng cao đời sống nhân dân, quy hoạch bố trí lại các vùng dân cư trên một số tuyến biển, đảo.

Năm là, kiên trì đối thoại tìm kiếm giải pháp hòa bình, tham gia xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông, kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý bảo vệ biển, đảo. Trước những vấn đề chủ quyền biển, đảo ngày càng nóng, Việt Nam luôn chủ trương, chủ động xử lý đúng đắn nhiều vấn đề nhạy cảm bằng đối thoại, thương lượng thông qua con đường ngoại giao. Việt Nam luôn đưa ra yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông, tuân thủ cam kết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của Luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường các nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an toàn biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau nghiêm chỉnh thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký năm 2002 giữa một bên là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và một bên là Trung Quốc, hướng tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử (COC) để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển, vì lợi ích của tất cả các nước trong khu vực, vì an ninh chung của khu vực và trên toàn thế giới.

Tích cực tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quốc hội các giải pháp tốt nhất, dự báo những vấn đề chiến lược về bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cần mở rộng quan hệ đối ngoại, tiếp tục đàm phán giải quyết vấn đề về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của ta trên các vùng biển, đảo giữa Việt Nam - Trung Quốc… nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị hợp tác lâu dài, phát triển bền vững với các nước láng giềng và khu vực, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý, bảo vệ chủ quyền, biển, đảo của Tổ quốc.

Dự báo tình hình quốc phòng - an ninh khu vực Biển Đông hiện nay đang và sẽ có những thay đổi sâu sắc, ngày càng xuất hiện nhiều yếu tố tiềm ẩn khó lường, nhất là về cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực. Bên cạnh chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta đã được định hướng như đã nêu trên, cần tính tới một số điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Trước hết, cần sử dụng các cơ chế trong các quan hệ đối ngoại của ASEAN, góp phần duy trì vai trò trung tâm trong khối ASEAN, nêu được vấn đề Biển Đông ở mức phù hợp, góp phần cùng ASEAN quản lý các mối quan hệ đối ngoại, nhất là tại các diễn đàn quan trọng như Cấp cao Đông Á (EAS), khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+)… Việt Nam đề cao tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không ở khu vực, tôn trọng luật pháp và các chuẩn mực quốc tế; tranh thủ sự hợp tác với các nước trên thế giới để bảo vệ các lợi ích quốc gia. Xử lý khéo léo, kịp thời các vụ, việc phát sinh, đồng thời tăng cường củng cố thực lực quốc phòng, quân sự, năng lực của các lực lượng trên biển. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước. Đồng thời, kiến nghị với Đảng, Nhà nước, chỉ đạo các bộ, ban, ngành chức năng sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, quy định, quy chế phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới.

Ngọc Thuận

Nguồn: Thông tin Báo cáo viên số 03 tháng 3 năm 2020


Lượt người xem:   58
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Ảnh
Video
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ
Chịu trách nhiệm chính:​  Ông Lê Văn Nên - PCT.UBND huyện. ​
Địa chỉ: ​Khu phố 2 thị trấn Đông Thành huyện Đức Huệ, Long An.
Điện thoại : (072) 3854230​ * Fax: (072) 3854771 ​ * Email: bbtduchue​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​