Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHọc tập làm theo lời Bác

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 171847
 
Học tập làm theo lời Bác - Học tập làm theo lời Bác
 
Trên chặng đường lịch sử 75 năm xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với nguồn sức mạnh của sự gắn bó keo sơn thắm thiết quân dân. Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh.  
 
Ngay từ những năm tháng đầu tiên khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Công việc khẩn cấp bây giờ" đã cảnh báo sớm về những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh lười biếng. Nhận diện và đấu tranh phòng, chống bệnh lười biếng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là vấn đề rất cần thiết hiện nay.  
 
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tinh thần làm việc và trách nhiệm của "người đầy tớ"/"công bộc" trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là đi đúng đường lối quần chúng, "từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng", thể hiện ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, hiểu dân, học hỏi kinh nghiệm từ nhân dân để hoàn thành trọng trách được giao phó.  
 
Cách đây 75 năm, trước yêu cầu của cách mạng Việt Nam và thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đây là sự kiện chính trị, lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngày 22-12-1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng - được lấy làm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và cách đây 30 năm, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) đã ban hành Chỉ thị 381-CV/TW quyết định lấy ngày 22-12 là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.  
 
Đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) là những người trực tiếp tuyên truyền, thực hiện đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Hơn ai hết, đây là những người phải nắm chắc, hiểu sâu nguyên tắc của Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng để tuyên truyền đúng, đủ đến các tầng lớp nhân dân. Người CB, ĐV khi tiếp xúc, giao tiếp với nhân dân, với các c... 
 
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của mình, đồng chí Nguyễn Văn Chính đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược và những quyết định mang tính bước ngoặt lịch sử, cụ thể như sau:  
 
Đồng chí Nguyễn Văn Chính quê quán xã Tân Quý Tây, Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí gắn liền với quê hương Long An. Thời kỳ kháng Pháp những năm 1945, đồng chí tham gia phong trào Thanh niên Tiền Phong, hăng hái tham gia giành chính quyền tại địa phương.  
 
​ Dù trong hoàn cảnh nào, người Việt cũng cố gắng học tập, vươn lên. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Người Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, "tôn sư trọng đạo". Dù trong hoàn cảnh nào, người Việt cũng cố gắng học tập, vươn lên. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là ... 
 
​ Dân vận khéo góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo đời sống, quyền lợi của nhân dân. Trong bài Dân vận đăng trên báo Sự Thật ngày 15/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sótngười dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành ... 
 
Trong Tác phẩm "Dân vận" của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào ngày 15/10/1949 dưới bút danh X.Y.Z đăng trên báo sự thật, số 120, ngày 15/10/1949 đã chỉ rõ: "Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân… đều phải phụ trách dân vận. Lực lượng làm công tác dân vận là lực lượng của cả hệ thống chính trị - trước hết là của chính quyền. Điều ấy có nghĩa là, tất cả cán bộ chính quyền đều phải làm dân vận. Đây là đặc điểm nổi bật của công tác dân vận khi Đảng ta có chính quyền. Chính quyền của ta là công cụ chủ yếu của nhân dân. Chính quyền không những chỉ phải làm dân vận mà còn có điều kiện làm công tác dân vận thuận lợi hơn".  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước"New75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước"
Trên chặng đường lịch sử 75 năm xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với nguồn sức mạnh của sự gắn bó keo sơn thắm thiết quân dân. Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh.

 dkh.jpg

Ảnh tư liệu: Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát đồn Đông Khê tại Chiến dịch Biên giới năm 1950

Để tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc xây dựng lực lượng chính trị của cách mạng là điều cơ bản nhất, là việc phải làm đầu tiên, rồi mới xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang. Đó chính là quan điểm "người trước súng sau", là xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để trên nền tảng đó xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đuổi kẻ thù, giành lấy chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là luôn tăng cường và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động.

Trên tinh thần đó, vấn đề "tổ chức ra quân đội công nông" đã được khẳng định trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam mùa Xuân năm 1930). Tiếp đó, khởi đầu từ những Đội tự vệ đỏ trong phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đến đội vũ trang Cao Bằng, du kích Nam Kỳ, Bắc Sơn (sau đổi thành Cứu quốc quân), Ba Tơ,… cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng, thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập ngày 22/12/1944. Với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần) và từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động, đã phát triển từ đội thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, "nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam".

Từ buổi đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đội quân đó từ nhân dân mà ra nên phải dựa vào dân, luôn gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu để được dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc và chở che. Vì chỗ dựa vững chắc nhất của quân đội là lòng dân, cho nên "trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ" và "phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân". Đồng thời, thấm nhuần chỉ dẫn của Người: "Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kỳ việc gì khó cũng làm được và nhất định thắng lợi", trong mọi hoàn cảnh, quân đội "phải tăng cường công tác chính trị, luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội", phải làm cho "mỗi người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước"…

Đây chính là sức mạnh của quân đội cách mạng, thể hiện sâu sắc tư tưởng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, cho thấy sự khác biệt với quan điểm quân sự tư sản, lấy vai trò của chỉ huy với một đội quân nhà nghề cùng súng ống, vũ khí và trang bị kỹ thuật làm sức mạnh. Đó luôn là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và sản xuất, thực hiện tốt nhiệm vụ vừa tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là đội quân luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động, luôn thực hiện mối quan hệ quân dân gắn bó "như cá với nước" và nhận được sự góp sức người, sức của từ nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trong toàn quốc, thấu triệt quan điểm: 1) Mục đích của cuộc kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. 2) Tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. 3) Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, v.v..4) Tiến hành kháng chiến toàn diện, kết hợp các mặt trận và các hình thức đấu tranh; trong đó, đấu tranh quân sự là chủ chốt, Quân đội nhân dân Việt Nam (với các tên gọi Việt Nam giải phóng quân, Vệ quốc quân, Quân đội quốc gia Việt Nam và cuối cùng là Quân đội nhân dân Việt Nam) đã ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường.

Quân đội luôn được "tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo" thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu; đội ngũ cán bộ - "những người tướng giỏi của đoàn thể" và chiến sĩ quân đội luôn được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đã xuất phát từ thực tiễn và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên "lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh",v.v.. để từng bước chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công; đã kiên cường, mưu trí và kiên trì, sáng tạo giành thắng lợi to lớn trong trận Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

 Tuy nhiên chiến tranh chưa kết thúc, không chỉ giúp thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ, can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử. Quyết tâm đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cả nước đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân với tinh thần đoàn kết "triệu người như một", với niềm tin chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và ý chí "đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự".

Tiếp tục phát huy truyền thống "cả nước đánh giặc" của cha ông trong lịch sử, thấm nhuần lời dạy của Lênin, khi có chiến tranh phải "biến cả nước thành một dinh luỹ cách mạng", lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được xây dựng và ngày càng phát triển, hình thành thế trận bao vây và tiêu diệt địch. Để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xuất phát từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà". 

Để thực hiện lời Người, đồng thời để có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra sức rèn luyện, học tập nâng cao trình độ tác chiến trên chiến trường, phối hợp với quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đưa cách mạng tiến lên bằng những bước nhảy vọt. Cuối cùng, không chỉ phát triển về mọi mặt, không chỉ luôn rèn luyện và ngày một trưởng thành mà quân đội ta còn chớp đúng thời cơ và "thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa" để giành thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đát nước.

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

10/12/2019 10:00 CHĐã ban hành
Phòng, chống bệnh lười biếngPhòng, chống bệnh lười biếng
Ngay từ những năm tháng đầu tiên khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Công việc khẩn cấp bây giờ" đã cảnh báo sớm về những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh lười biếng. Nhận diện và đấu tranh phòng, chống bệnh lười biếng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là vấn đề rất cần thiết hiện nay.

phong-chong-benh-luoi-bieng-1.jpg 

Chủ tịch Hồ Chí Minh lao động tăng gia sản xuất cùng cán bộ, chiến sĩ bảo vệ. (Ảnh tư liệu)

LƯỜI BIẾNG CŨNG LÀ KẺ ĐỊCH

Trong tác phẩm "Cần, kiệm, liêm, chính", khi bàn về chữ "Cần", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Lười biếng là kẻ địch của chữ cần. Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc. Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn, hàng vạn người khác"(1). Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc": "Bệnh lười biếng - Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh"(2); Người giải thích cặn kẽ hơn: "Bệnh lười biếng - Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết, không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó. Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng. Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng, không đến nơi đến chốn. Kết quả nhỏ là: nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần. Kết quả nặng là: phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi. Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp"(3).

Người cảnh báo thái độ lười học tập, nhất là lười học tập lý luận chính trị, văn hóa và chuyên môn - nghiệp vụ: "Lười biếng: Không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ của mình về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ. Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế"(4).

Khi cho rằng, lười biếng cũng là đắc tội với đồng bào, với Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã đưa ra hình ảnh so sánh: "Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc"(5).

NGUỒN GỐC BỆNH LƯỜI BIẾNG 

Theo Hồ Chí Minh, cũng giống như bệnh "kiêu ngạo", bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên không tự nhiên sinh ra, không thuộc về bản chất vốn có của họ, lại càng không phải bản chất của Đảng ta, nó do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại. Về nguyên khách quan, từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc trong bài "Tình cảnh nông dân An Nam" đăng trên Báo La Vie Ouvrière, ngày 4-1-1924 đã viết: "Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp. Người nông dân An Nam nói riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản. Chính họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đói"(6). Tiếp đến, ở tác phẩm "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa", Người lý giải: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác"(7). Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người giải thích rõ hơn: "Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa"(8).

Về nguyên nhân chủ quan, Hồ Chí Minh cho rằng, nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: "… vì tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đẻ ra nhiều cái xấu như lười biếng, tham ô, đòi hưởng thụ, kèn cựa, địa vị... Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa"(9). Theo Người, "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng. Ví dụ: lười biếng, hủ hóa, suy tính tiền đồ"(10); "Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. "Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy". Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v.. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội"(11).

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ ra một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến bệnh lười biếng là: "…việc giáo dục chính trị còn sơ sài, thiếu sót. Vì vậy mà một số cán bộ và công nhân còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thái độ làm thuê, thiếu tinh thần làm chủ tập thể. Do đó mà có những hiện tượng xấu như: lười biếng, kèn cựa, thiếu kỷ luật, kém đoàn kết, tham ô, lãng phí"(12).

"PHƯƠNG THUỐC" KHẮC PHỤC BỆNH LƯỜI BIẾNG 

Theo Hồ Chí Minh, khắc phục bệnh lười biếng này là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu trước mắt là khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để nâng cao đời sống nhân dân: "Nước ta còn lạc hậu, dân ta còn nghèo, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn cải thiện đời sống, thì chúng ta càng phải Cần, phải Kiệm, phải chống lười biếng, chống lãng phí"(13). Hơn nữa, đó còn là mục tiêu của xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; "Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ. Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm trọn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau. Ai sợ khó, sợ khổ, muốn "ngồi mát ăn bát vàng", người đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa"(14).

Do đó, Người yêu cầu: "…phải gạt bỏ những thái độ sai lầm như: thỏa mãn với thành tích bước đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh nghiệm đã có, có ít nhiều tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng, hoài nghi những sáng kiến bình thường của quần chúng; lười biếng, không tích cực học tập cái mới, v.v.."(15).

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Hồ Chí Minh nêu ra những "phương thuốc" hữu hiệu để "chữa bệnh lười biếng" đó là:

"Cách chữa:

- Các cơ quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng. Mỗi việc gì đều phải chỉ bảo cách làm.

- Cấp trên phải hiểu rõ tình hình cấp dưới và tình hình quần chúng, để chỉ đạo cho đúng.

- Khi nghị quyết việc gì, phải cẩn thận, rõ ràng. Khi đã nghị quyết thì phải kiên quyết thi hành"(16).

Phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ mọi mặt, Hồ Chí Minh coi đó là biện pháp hết sức rất cần thiết. Người yêu cầu: "Phải chú ý học tập: Chống lười biếng, ngại học tập, muốn nghỉ ngơi. Muốn tiến bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì phải học tập các chính sách của Đảng và Chính phủ"(17). Đồng thời, phải ra sức học tập ở nhân dân, bởi: "Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra"(18).

Người cũng yêu cầu trong Đảng, trong Chính phủ, các cấp, các ngành và mọi đoàn thể cùng mỗi cá nhân phải "…cần có một cuộc vận động: Tiêu diệt lười biếng, nâng cao năng suất, củng cố kỷ luật lao động"(19).

Những lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng chẳng những có giá trị lịch sử, mà còn luôn có tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng nếu được quán triệt và vận dụng sáng tạo sẽ khắc phục có hiệu quả bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên, đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên "vừa hồng, vừa chuyên", công tâm, thạo việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới./.

Gia Khánh

Nguồn Tạp chí Tuyên giáo số 11/2019

 

05/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
Để làm trọn nhiệm vụ người đầy tớ thật trung thànhĐể làm trọn nhiệm vụ người đầy tớ thật trung thành
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tinh thần làm việc và trách nhiệm của "người đầy tớ"/"công bộc" trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là đi đúng đường lối quần chúng, "từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng", thể hiện ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, hiểu dân, học hỏi kinh nghiệm từ nhân dân để hoàn thành trọng trách được giao phó.

hoc-va-lam-theo-bac-de-tro-thanh-cong-boc-cua-dan-1.jpg 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị toàn quốc về phòng, chống tham nhũng. Ảnh: TTXVN

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa hồng vừa chuyên, vì Đảng vì nhân dân mà gương mẫu đi đầu trong mọi công việc, v.v.. là sự quan tâm chu đáo, nhất quán trong tư tưởng và hành động của Người ở mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm lịch sử. Thời chiến cũng như thời bình, Người luôn quan tâm công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển toàn diện, nhất là gương mẫu trong rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để trở thành những người công bộc tận tụy; và chính Người cũng là một mẫu mực của tấm gương người "công bộc"/"đầy tớ" thật trung thành của nhân dân.

Học tập và làm theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là người "công bộc"/"đầy tớ" tận tụycủa nhân dân, cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tập trung thực hiện những giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII ngày 15/5/2016 về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII ngày 30/10/2016 về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", với Quy định 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 về "Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm" và các quy định về nêu gương. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân thành nền nếp, tự giác, nhu cầu tự thân của mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời, nhận diện, chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của những kẻ vi phạm kỷ luật Đảng để không chỉ đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả với các việc làm sai trái mà còn kịp thời và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, xử lý đúng quy định những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bất kể là ai, ở vị trí công tác nào, đương chức hay đã nghỉ hưu.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện tự phê bình và phê bình gắn với tăng cường giám sát và kiểm tra trong mọi mặt công tác, bảo đảm thực chất, dân chủ, khách quan, trung thực, đầy đủ, có chất lượng theo nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa "xây và chống, lấy xây là chính". Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong công tác lãnh đạo, quản lý và kiểm tra, kiểm soát đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu theo định kỳ và đột xuất gắn với giám sát mở rộng và kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong nhiệm kỳ và hằng năm. Thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Chỉ thị 05 theo phương châm "trên trước, dưới sau", "từ trong ra, từ ngoài vào", "từ trên xuống, từ dưới lên", nhằm tăng cường đoàn kết nội bộ; đồng thời, gắn khen thưởng kịp thời với kỷ luật nghiêm minh, góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong mỗi tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị.

Ba là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong việc tăng cường cơ chế tự kiểm soát quyền lực của cán bộ, đảng viên; trong đó, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao càng phải xây dựng và thực hiện việc rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo chương trình của cấp ủy và kế hoạch đăng ký của cá nhân theo nội dung Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nghiêm túc, thực chất. Nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân thông qua sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình, qua hoạt động kiểm tra, giám sát, chất vấn, giải trình, đảm bảo khách quan, minh bạch, dân chủ. Kiên quyết không để lọt vào danh sách cán bộ quy hoạch các cấp, nhất là cấp chiến lược và các cấp uỷ nói chung, của Đại hội Đảng lần thứ XIII nói riêng những cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, cơ hội, vi phạm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng.

Bốn là, dựa vào nhân dân, nâng cao vai trò sự giám sát của nhân dân và đảng viên ở nơi công tác và địa bàn cư trú để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý những hành vi lạm dụng, trục lợi từ quyền lực, cậy quyền, ỷ thế, "lên mặt làm quan cách mạng" của những cán bộ, đảng viên được trao quyền. Các trường hợp vi phạm kỷ luật phải được xử lý nghiêm minh, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để giữ vững và củng cố niềm tin yêu, quý trọng của nhân dân. Trên tinh thần thống nhất giữa nói và làm, nêu gương làm trước, đi đầu trong mọi hoàn cảnh, tinh thần phục vụ tận tụy và thực hiện trách nhiệm "công bộc"/"đầy tớ" nhân dân của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị nói riêng phải được thấu triệt trong suy nghĩ và hành động cụ thể.

Năm là, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Đồng thời, nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực cũng, góp phần lan tỏa những "bông hoa đẹp" trong đời sống xã hội. Đi liền cùng đó, cần kịp thời thông tin về những biểu hiện tha hóa quyền lực, những vụ án tham ô, tham nhũng,v.v.. của cán bộ, đảng viên đã và đang bị xử lý theo pháp luật để không chỉ có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh, ngăn ngừa mà còn góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trước trọng trách, quyền lực được trao trong thực thi nhiệm vụ./. 

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

04/12/2019 10:00 CHĐã ban hành
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh làm nòng cốt cho sự nghiệp quốc phòng toàn dânXây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh làm nòng cốt cho sự nghiệp quốc phòng toàn dân
Cách đây 75 năm, trước yêu cầu của cách mạng Việt Nam và thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đây là sự kiện chính trị, lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngày 22-12-1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng - được lấy làm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và cách đây 30 năm, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) đã ban hành Chỉ thị 381-CV/TW quyết định lấy ngày 22-12 là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

phat_huy_truyen_thong_75_nam.jpg

Ảnh tư liệu: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đã cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, với 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ nhưng Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho trang sử truyền thống "bách chiến, bách thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chưa đầy một năm sau, Quân đội ta đã cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Và ngay sau đó, Quân đội ta đã cùng với lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá của thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng và nền độc lập, tự do của dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt; nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần quả cảm "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", cùng toàn dân trường kỳ kháng chiến, đánh bại chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh", âm mưu "bình định", "phản công" của địch, giành những thắng lợi quan trọng. Nổi bật là trên các mặt trận: Việt Bắc Thu - Đông 1947, Biên giới 1950 và cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", giáng đòn quyết định, đập tan dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân hiếu chiến, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam có bước phát triển, lớn mạnh vượt bậc cả về tổ chức lực lượng, trình độ chỉ huy tác chiến, nghệ thuật quân sự; từng bước hình thành các quân chủng, binh chủng, quân đoàn chủ lực cơ động mạnh, làm nòng cốt bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Mặc dù phải đương đầu với tên đế quốc sừng sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh vào loại bậc nhất thế giới, nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống anh hùng, tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, ý chí quyết chiến, quyết thắng, "dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng", cùng toàn dân đập tan hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không" tháng 12-1972, bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội và hậu phương lớn miền Bắc; lần lượt đánh thắng các chiến lược: "Chiến tranh đặc biệt"; "Chiến tranh cục bộ"; "Việt Nam hoá chiến tranh"; tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết lên trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh; hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa non sông thu về một mối, đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau ngày đất nước thống nhất, Quân đội ta đã thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng, đấu tranh làm thất bại kế hoạch hậu chiến của các thế lực thù địch; xung kích khắc phục hậu quả chiến tranh và một lần nữa lại anh dũng chiến đấu hy sinh, cùng toàn dân tộc tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững cuộc sống bình yên của nhân dân và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy bản chất cách mạng, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", thực hiện tốt chức năng "đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất" trong tình hình mới; chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu với Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kiên quyết, kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh cả trên không, trên biển, biên giới và nội địa, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, thể hiện rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc; luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ chiến đấu, Quân đội ta luôn đi đầu trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tham gia tích cực, có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng cơ sở chính trị, đời sống văn hóa mới,... nhất là trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; luôn xung kích, nòng cốt trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, v.v. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn có mặt ở những nơi xung yếu, khó khăn, nguy hiểm, xả thân để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và làm công tác dân vận đã tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ"; thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững mạnh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, Quân đội đã tích cực, chủ động hội nhập, thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng theo đúng chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, v.v..

Nhìn lại chặng đường 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, chúng ta vô cùng vinh dự, tự hào về những chiến công hiển hách và truyền thống vẻ vang của Quân đội ta. Những chiến công mà Quân đội giành được trước hết là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân; sự nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, anh dũng chiến đấu hy sinh của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Trong suốt 75 năm qua, bất luận trong hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; luôn đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; thực sự là quân đội cách mạng "của dân, do dân, vì dân"; xây đắp nên truyền thống "… Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 như lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng và danh hiệu cao quý "Bộ đội Cụ Hồ".

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, dựa vào dân, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân là quy luật phát triển, cội nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt 75 năm qua. Kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần đề cao trách nhiệm, gương mẫu trong lời nói, quyết liệt trong hành động, nhằm giữ gìn, phát triển mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó "máu - thịt", "cá - nước" giữa Quân đội và nhân dân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc, nên cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân càng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, chấp hành nghiêm kỷ luật trong quan hệ quân dân, gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí. Các đơn vị Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng "đội quân công tác"; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, hỗ trợ, giúp nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp xây dựng, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội, công tác "đền ơn đáp nghĩa", v.v.. Cùng với đó, Quân đội tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt, chỗ dựa tin cậy của nhân dân trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh, góp phần củng cố vững chắc "thế trận lòng dân", tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989/22-12-2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944/22-12-2019) là một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và Quân đội. Đây là dịp để toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân và nhân dân ta nhìn lại chặng đường đã qua, tự hào về truyền thống vẻ vang của Quân đội anh hùng, dân tộc anh hùng. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, với niềm tự hào dân tộc, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thật sự làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Gia Khánh
Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử

 


03/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
Tôn trọng kỷ luật Đảng là đạo đức cách mạng của người cộng sảnTôn trọng kỷ luật Đảng là đạo đức cách mạng của người cộng sản
 

Đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) là những người trực tiếp tuyên truyền, thực hiện đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Hơn ai hết, đây là những người phải nắm chắc, hiểu sâu nguyên tắc của Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng để tuyên truyền đúng, đủ đến các tầng lớp nhân dân. Người CB, ĐV khi tiếp xúc, giao tiếp với nhân dân, với các cơ quan báo chí phải phát ngôn đúng với chức trách, nhiệm vụ, vị trí công tác của mình; đặc biệt, cần bám sát các quy định, quy chế phát ngôn do các cơ quan chức năng cũng như cơ quan, địa phương mình ban hành.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Tăng cường kỷ luật đảng không phải để kỷ luật nhiều đảng viên mà quan trọng nhất là để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết cho đội ngũ CB, ĐV. Để bảo đảm kỷ luật được chặt chẽ, tự giác thì phải mở rộng, tăng cường dân chủ trong Đảng; có như vậy mới bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và từ đó tăng cường dân chủ.

Thực hiện nhất quán những vấn đề mang tính nguyên tắc trên, Đảng và Nhà nước ta luôn phát huy dân chủ, để mọi người được tham gia đóng góp, xây dựng Đảng, hệ thống chính quyền Nhà nước và đề đạt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến riêng của mình. Đảng mở rộng dân chủ trong đóng góp ý kiến, trong phát ngôn, nhưng phải trong khuôn khổ những quy định của nguyên tắc, Điều lệ Đảng. Do vậy, trong các hội nghị, trên các phương tiện thông tin đại chúng, CB, ĐV phát biểu ý kiến phải theo đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng; phải giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được phát ngôn tùy tiện, hoặc lợi dụng các diễn đàn, các cuộc hội thảo, hội nghị để đả kích tổ chức, phê phán lãnh đạo, bôi nhọ cá nhân và tuyên truyền các quan điểm sai trái. Tuỳ tiện phát ngôn sẽ tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và những phần tử xấu lợi dụng chống Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của các diễn đàn online, mạng xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết phải quản lý chặt chẽ CB, ĐV trong cả lời nói và việc làm. Những thông tin trên các diễn đàn, mạng xã hội rất khó kiểm soát, kiểm chứng về mức độ tin cậy. Bởi vậy, khi tham gia các diễn đàn này, bất kỳ một bình luận, phát ngôn nào của CB, ĐV cũng dễ trở thành chủ đề bàn luận, thậm chí bị các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá. Trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và đặt ra các yêu cầu, quy chế về việc phát ngôn đối với mọi đảng viên sinh hoạt ở chi bộ mình. Cấp ủy các cấp, các đảng bộ, chi bộ cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Đảng cho CB, ĐV; kịp thời ngăn chặn, xử lý khi có CB, ĐV vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm trái quan điểm, đường lối, quy định của Đảng và Nhà nước.

Cùng với việc siết chặt quản lý, cấp ủy các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những cá nhân có phát ngôn không đúng với chức năng, nhiệm vụ của mình; không đúng với đường lối, quan điểm của Đảng để giữ nghiêm nguyên tắc, kỷ luật phát ngôn của Đảng. Đồng thời, mỗi CB, ĐV phải nâng cao bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời nhận diện và đấu tranh trực diện chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, lợi dụng chống phá; nhất là khi tham gia các diễn đàn, mạng xã hội trên môi trường internet, từng CB, ĐV cần có nhận thức đúng đắn, không bị các thế lực thù địch, phản động dụ dỗ, lôi kéo, cài bẫy trong các bình luận, phát ngôn, làm tổn hại đến uy tín, thanh danh của Đảng.

Mọi CB, ĐV dù ở cấp nào cũng đều phải rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhất thiết không để CB, ĐV đứng ngoài sự quản lý của tổ chức. Mọi hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, gây chia rẽ, bè phái trong Đảng đều phải bị xử lý nghiêm minh. Đây là yêu cầu cấp thiết thường xuyên để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng. Hơn ai hết, CB, ĐV phải tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, gây mất đoàn kết, nghi kỵ nội bộ, tiếp tay cho những hành vi vi phạm. Có như vậy, kỷ cương, kỷ luật của Đảng không những được phát huy hiệu lực, hiệu quả, mà uy tín, vai trò, vị thế của Đảng ngày càng được tăng cường và khẳng định.

Gia Khánh

Theo Báo Quân đội nhân dân điện tử

 

03/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
Đồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà lãnh đạo sáng tạo, chủ động, bản lĩnh; có tầm nhìn đột phá, "dám nghĩ, dám làm"Đồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà lãnh đạo sáng tạo, chủ động, bản lĩnh; có tầm nhìn đột phá, "dám nghĩ, dám làm"
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của mình, đồng chí Nguyễn Văn Chính đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược và những quyết định mang tính bước ngoặt lịch sử, cụ thể như sau:

 

Cố-Tổng-Bí-thư-Lê-Duẩn-và-đồng-chí-Nguyễn-Văn-Chính.jpg 

Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn và đồng chí Nguyễn Văn Chính (người đứng) thăm cơ sở nuôi giấu, che chở cán bộ cách mạng tại tỉnh Long An (Ảnh tư liệu)

Đó là tinh thần chủ động, vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, Ban Chấp hành Trung ương (khóa II) tháng 01/1959 về đường lối cách mạng miền Nam, với sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương chung của Đảng về duy trì đường lối đấu tranh chính trị thi hành theo Hiệp định Giơnevơ 1954. Xác định Long An là vành đai cận kề Sài Gòn cần phải xây dựng lực lượng mạnh chủ động ứng phó, do đó Tỉnh ủy đã xúc tiến thành lập các Tiểu đoàn 506, Tiểu đoàn 508, đồng thời vận dụng nguyên tắc tổ chức cơ quan quân sự tỉnh để thành lập "Đảng ủy quân sự". Đây được xem là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của tập thể Tỉnh ủy Long An trong điều kiện Trung ương chưa cho phép các tỉnh đấu tranh vũ trang, nhưng Long An đã đi trước một bước xây dựng được lực lượng. Do đó, khi Nghị quyết 15 phát tín hiệu cho phép sử dụng bạo lực đấu tranh, chủ trương "quân sự đi trước một bước, lực lượng vũ trang làm đòn xeo cho quần chúng nổi dậy" được đồng chí Nguyễn Văn Chính - Bí thư Tỉnh ủy Long An cụ thể hóa trong phát động Đồng Khởi, đó là sự chuẩn bị lực lượng vũ trang, vũ trang tuyên truyền có thực lực được củng cố phát triển mạnh bằng 3 đợt tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, có sức lan truyền nhanh, hiệu quả. Thắng lợi của phong trào Đồng Khởi ở Long An trong những năm 1960-1961 đã thể hiện sự quán triệt đúng đắn đường lối đấu tranh của Trung ương Đảng với sự linh hoạt, sáng tạo vận dụng phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế địa phương của Bí thư Tỉnh ủy - Nguyễn Văn Chính.

Đồng chí Nguyễn Văn Chính còn là nhà lãnh đạo có tư duy đột phá, lãnh đạo tỉnh Long An mạnh dạn thực hiện một bước đột phá tư duy về quản lý kinh tế theo cơ chế mới bằng cải tiến phân phối và lưu thông hàng hóa một giá, bù giá vào lương, trở thành mô hình thành công về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, động lực cho các địa phương khác áp dụng, thử nghiệm, đóng góp không nhỏ thực tiễn và lý luận cho chủ trương đổi mới toàn diện của đất nước.

Một biểu tượng của lòng dũng cảm và sự dấn thân, đương đầu với thực tiễn của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Chính đó chính là lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An thực hiện chủ trương cải tạo, xây dựng và biến Đồng Tháp Mười từ vùng đất hoang sơ, hoang hóa và nhiễm phèn nặng thành vựa lúa trù phú bậc nhất miền Tây Nam bộ. Vượt qua rất nhiều khó khăn, thách thức, chương trình được hiện thực hóa bằng những hành động quyết liệt. Chủ trương phù hợp lòng dân đã đánh thức được tiềm lực vùng Đồng Tháp Mười, chứng minh được tầm nhìn và năng lực lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Văn Chính.

Phẩm chất đạo đức cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Chính được bồi đắp và hình thành trên nền tảng của truyền thống quê hương, gia đình và đặc biệt là thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Với tư tưởng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, trong suốt quá trình hoạt động từ hạt nhân phong trào cơ sở đến giữ những vị trí lãnh đạo chủ chốt Trung ương, đã thử thách và tôi luyện đồng chí Nguyễn Văn Chính từ một chiến sĩ cộng sản bản lĩnh trong lãnh đạo các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đến tư duy và bản lĩnh quyết đoán, tiên phong đột phá trong phát triển kinh tế, đồng thời khiêm tốn, dung dị, nhân văn với đồng bào, đồng chí.

Trên cương vị Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, phẩm chất yêu thương quần chúng, gần dân để hiểu nguyện vọng của nhân dân thông qua nhiều hoạt động, chủ trương hợp lý, thấu tình đã làm thay đổi cuộc sống của nông dân, qua đó thấy được sự thấu hiểu, gắn bó máu thịt với nhân dân của đồng chí Nguyễn Văn Chính.

Hơn 61 năm hoạt động cách mạng với 70 năm tuổi Đảng, sự hy sinh và cống hiến của đồng chí Nguyễn Văn Chính đối với cách mạng Việt Nam và quê hương Long An là vô cùng to lớn. Ban Tổ chức rất mong và tin tưởng các tham luận, các ý kiến tham gia hội thảo hôm nay sẽ góp phần minh họa, làm sáng tỏ, sâu sắc hơn chân dung chiến sĩ cách mạng chân chính, nhà lãnh đạo tâm huyết, bản lĩnh, trí tuệ, một nhân cách đạo đức chuẩn mực, người con của ưu tú của Long An giản dị, gần gũi, thân tình. Sự cống hiến và phẩm chất đạo đức của đồng chí Nguyễn Văn Chính là tấm gương sáng ngời, là chuẩn mực giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp tinh thần yêu nước, lòng tự hào của dân tộc cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tỉnh Long An học tập và noi theo./.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

30/11/2019 12:00 SAĐã ban hành
Đồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà cách mạng kiên trung, người lãnh đạo tiêu biểu của quê hương Long AnĐồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà cách mạng kiên trung, người lãnh đạo tiêu biểu của quê hương Long An
Đồng chí Nguyễn Văn Chính quê quán xã Tân Quý Tây, Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí gắn liền với quê hương Long An. Thời kỳ kháng Pháp những năm 1945, đồng chí tham gia phong trào Thanh niên Tiền Phong, hăng hái tham gia giành chính quyền tại địa phương.

Đồng-chí-Nguyễn-Văn-Chính.jpg

Ảnh tư liệu: Đồng chí Nguyễn Văn Chính và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Long An cùng đồng chí Nguyễn Văn Linh khảo sát vùng Đồng Tháp Mười (không rõ năm)

Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí gia nhập tự vệ chiến đấu quân của làng Tân Quý. Tháng 8/1946, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, phụ trách Chủ nhiệm Thôn bộ Việt Minh, Phó Bí thư Chi bộ làng Tân Quý. Tháng 4/1947, là Huyện ủy viên Cần Giuộc, chủ nhiệm Khu bộ Việt Minh khu Phước Điền Thượng.

Năm 1948, đồng chí làm Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc sau đó kiêm Chính trị viên Ban Chỉ huy Huyện đội huyện Cần Giuộc. Năm 1952, đồng chí là Phó Bí thư Huyện ủy kiêm Chính trị viên Ban Chỉ huy Huyện đội dân quân liên huyện Cần Giuộc - Cần Đước - Nhà Bè thuộc tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn. Sau đó, đồng chí được phân công là Trưởng ban Cán sự Đảng, phụ trách huyện Cần Giuộc.

Năm 1954, tỉnh Chợ Lớn được thành lập, đồng chí là Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc, được chỉ định làm Tỉnh ủy viên phụ trách công tác binh vận và 2 huyện Cần Giuộc, Cần Đước. Năm 1956, đồng chí là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Chợ Lớn, rồi Phó Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 10-1957, đồng chí Nguyễn Văn Chính tiếp tục làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Long An, phụ trách Tuyên huấn. Năm 1959, là Bí thư Tỉnh ủy Long An kiêm Chính trị viên Ban Chỉ huy Tỉnh đội. Năm 1973, đồng chí về Trung ương Cục, phụ trách Phó Trưởng ban Thường trực, Ban Tổ chức Trung ương Cục.

Sau năm 1975, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ nhất (4/1977), đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Từ năm 1977 đến 1984, Long An và cả nước đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách do chiến tranh biên giới, lũ lụt và nhất là cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp cản trở nặng nề đến sản xuất, đời sống của nhân dân, đồng chí Nguyễn Văn Chính đã lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và nghĩa vụ quốc tế, khai mở vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh, đi tiên phong cả nước trong việc đột phá vào cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp.

Năm 1984, đồng chí Nguyễn Văn Chính được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Lương thực. Tháng 02-1987, đồng chí được Quốc hội, Chính phủ bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước. Năm 1988, đồng chí được phân công là Phó Trưởng ban thứ nhất Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Năm 1992, đồng chí Nguyễn Văn Chính được bầu làm Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

 

29/11/2019 8:00 CHĐã ban hành
Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gươngMỗi thầy, cô giáo là một tấm gương
 

Dù trong hoàn cảnh nào, người Việt cũng cố gắng học tập, vươn lên. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Người Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, "tôn sư trọng đạo". Dù trong hoàn cảnh nào, người Việt cũng cố gắng học tập, vươn lên. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chính vì lẽ đó, nhiều năm qua, sự nghiệp GD&ĐT luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn xã hội hết sức quan tâm đầu tư nguồn lực, tâm huyết để đào tạo ra những công dân tốt, nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước. Công tác GD&ĐT cả nước nói chung, trong tỉnh nói riêng không ngừng phát triển, đạt nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp trồng người. Số trường học đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chí mới không ngừng tăng, số học sinh (HS) đúng độ tuổi ra lớp đạt và vượt chỉ tiêu. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn được duy trì, củng cố và nâng lên. HS Long An có tên trong bảng vàng các kỳ thi HS giỏi quốc gia không ngừng tăng. Năm 2019, tỷ lệ HS tốt nghiệp THPT quốc gia được giữ vững ở mức cao. Số HS đậu vào các trường đại học ngày càng nhiều...

Thành tích trên có sự đóng góp cực kỳ quan trọng của các thầy, cô giáo. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục yêu nghề, mến trẻ, tinh thần trách nhiệm cao, chủ động khắc phục khó khăn, tích cực học tập và rèn luyện chuyên môn, tay nghề đóng góp xứng đáng vào thành tích chung của tỉnh, góp phần tích cực phát triển KT-XH.

Tuy nhiên, hiện nay xã hội vẫn còn băn khoăn trước một số hạn chế trong lĩnh vực GD&ĐT. Đó là tình trạng tiêu cực trong thi cử; bạo lực học đường, một số thầy, cô giáo thiếu kỹ năng xử lý các tình huống sư phạm, một số giáo viên thiếu rèn luyện đạo đức, chuyên môn; tình trạng dạy thêm, học thêm và bệnh thành tích còn diễn ra,...

Để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình, phát huy truyền thống tốt đẹp của nhà giáo, xứng đáng với sự tôn trọng, ngưỡng mộ của xã hội, mỗi thầy, cô giáo phải ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phấn đấu là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo. Không ngừng học tập, rèn luyện, nghiên cứu để có phương pháp hay, hiệu quả, kiến thức vững, mới, bổ ích trong những trang giáo án dành cho HS. Bên cạnh dạy văn hóa, tri thức của nhân loại, cần dạy lễ - dạy các em làm người có đức, có tài, dạy kỹ năng sống, biết quan tâm người khác, biết yêu thương gia đình, người thân và yêu quê hương, đất nước, sống có lý tưởng, hoài bão,...

Dù còn những hạn chế nhất định, có lúc bị "những con sâu làm rầu nồi canh" nhưng phải khẳng định: Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý; thầy, cô giáo là những "kỹ sư tâm hồn", có ảnh hưởng quan trọng đến thế hệ trẻ; những nhà giáo đang thiết thực góp phần viết tiếp bức tranh tương lai của quê hương, đất nước. Xin dành sự tri ân và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất cho những "kỹ sư tâm hồn", "người đưa đò thầm lặng" nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11./.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

20/11/2019 7:00 SAĐã ban hành
Dân vận khéo để chăm lo cho dânDân vận khéo để chăm lo cho dân

 Dân vận khéo góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo đời sống, quyền lợi của nhân dân. Trong bài Dân vận đăng trên báo Sự Thật ngày 15/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót

người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể giao cho". Thực hiện lời dạy của Người, các địa phương xây dựng nhiều mô hình thiết thực, mang lại lợi ích cho dân, góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Qua đó, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, huy động sức dân trong phát triển KT-XH ở địa phương.

Thấm nhuần phương châm "Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" của Bác, cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ ở cơ sở, tích cực tuyên truyền, vận động người dân hưởng ứng các phong trào, phần việc do địa phương phát động: Chung tay xây dựng nông thôn mới, chăm lo cho người nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn,…

Mục đích công tác dân vận là làm cho dân hiểu, dân tin, dân đồng tình và chung tay thực hiện. Dân vận khéo để chăm lo cho dân và công tác này cần thường xuyên được đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp sao cho thật gần gũi, dễ hiểu với những chương trình cụ thể, chăm lo thiết thực đời sống người dân./.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

22/10/2019 9:00 SAĐã ban hành
Đức Huệ vận dụng, thực hiện tốt công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí MinhĐức Huệ vận dụng, thực hiện tốt công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong Tác phẩm "Dân vận" của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào ngày 15/10/1949 dưới bút danh X.Y.Z đăng trên báo sự thật, số 120, ngày 15/10/1949 đã chỉ rõ: "Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân… đều phải phụ trách dân vận. Lực lượng làm công tác dân vận là lực lượng của cả hệ thống chính trị - trước hết là của chính quyền. Điều ấy có nghĩa là, tất cả cán bộ chính quyền đều phải làm dân vận. Đây là đặc điểm nổi bật của công tác dân vận khi Đảng ta có chính quyền. Chính quyền của ta là công cụ chủ yếu của nhân dân. Chính quyền không những chỉ phải làm dân vận mà còn có điều kiện làm công tác dân vận thuận lợi hơn".

dan van.jpg

Ảnh minh họa

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua, hệ thống chính trị huyện Đức Huệ tăng cường công tác dân vận ở tất cả lĩnh vực đời sống - xã hội và đạt được nhiều thành quả đáng tự hào, nhất là việc thực hiện công khai các chủ trương, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của Nhân dân.

Đức Huệ là một huyện vùng sâu, biên giới của tỉnh. Từ năm 2005 trở về trước, hệ thống giao thông vận tải đường bộ của huyện chưa được thông thương, phương tiện vận tải chủ yếu bằng đường thủy, trình độ dân trí thấp, đời sống của đa số người dân thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng với sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh cùng với sự đồng lòng, quyết tâm của toàn Đảng bộ và nhân dân địa phương, đến nay, huyện Đức Huệ dần khởi sắc trên các lĩnh vực. Cơ sở hạ tầng từng bước hoàn thiện nhất là đường giao thông liên xã, liên ấp nối liền; kinh tế - xã hội đang trên đà phát triển; đời sống vật chất tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên.

Ban Thường vụ Huyện ủy tập trung triển khai, thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và xem đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị. Các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến nhân dân. Công tác dân vận của Đảng, của các tổ chức chính trị, xã hội và của chính quyền ngày càng tăng cường, phát huy hiệu quả. Qua đó, người dân đã thông suốt, sẵn sàng hiến đất và những tài sản có giá trị khác cùng với Nhà nước để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Các công trình trọng điểm, chương trình đột phá thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ huyện (nhiệm kỳ 2015 - 2020) được triển khai và tổ chức thực hiện thuận lợi, đạt kết quả khả quan. Chương trình xây dựng vùng sản xuất chuyên canh lúa chất lượng cao với diện tích 1.347/1.200 ha, đạt 112,3% so kế hoạch; Chương trình xây dựng vùng sản xuất chuyên canh cây chanh thực hiện với diện tích 1.830/2.000 ha, đạt 91,5% so kế hoạch; Công trình láng nhựa đường cặp kênh Bà Mùi đã hoàn thành, đưa vào sử dụng và công trình nâng cấp láng nhựa đường số 01 nối dài đã thi công hoàn thành láng nhựa mặt đường, cống thoát nước và vỉa hè đoạn từ cầu chữ Y đến cầu Mỹ Thành; đang thi công công trình cầu Sập. Bên cạnh đó những công trình lớn có vốn đầu tư của Trung ương, của tỉnh trên địa bàn huyện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đem lại niềm tin, phấn khởi trong nhân dân, nhất là các tuyến đường tỉnh 838, 839, 822, 816,... Một số công trình đang triển khai thi công như: bờ kè thị trấn Đông Thành; đường Giồng Nhỏ - Mỹ Bình,... cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển sản xuất và đời sống nhân dân.

bua com tinh thuong.jpg

Ảnh: Mô hình bữa cơm tình thương đến với bệnh nhân nghèo

Ngoài ra, các xã, thị trấn thực hiện tốt quy trình tổ chức lấy ý kiến đóng góp của người dân vào các chương trình, dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tổ chức lấy ý kiến nhân dân từ khâu quy hoạch, bồi thường giải phóng mặt bằng đến tham gia giám sát các công trình xây dựng cơ bản do UBND huyện và các xã, thị trấn làm chủ đầu tư.

Không dừng lại ở đó, vai trò của Mặt trận, đoàn thể từ huyện đến cơ sở trong việc vận động nhân dân thực hiện tốt các mô hình "Dân vận khéo" gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từng bước được nâng lên với phương châm "nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin". Từ đó, nhiều mô hình "Dân vận khéo" được xây dựng và triển khai thực hiện trong các cơ quan, đơn vị, địa phương cơ sở và trường học, điển hình như: mô hình "Bữa cơm tình thương đến với bệnh nhân nghèo" tại Trung tâm y tế huyện Đức Huệ của Hội LHPN xã Mỹ Thạnh Tây; "Tiếp sức đến trường" của Hội Khuyến học xã Mỹ Thạnh Bắc; "Hội viên góp vốn giúp nhau phát triển kinh tế" của Hội Cựu chiến binh xã Mỹ Thạnh Tây; "Hỗ trợ hộ nghèo thoát nghèo bền vững" của MTTQ xã Mỹ Bình; "Tiết kiệm chi tiêu giúp đỡ các cá nhân có hoàn cảnh khó khăn" của Ban Công tác Mặt trận ấp 2, xã Bình Hòa Nam; mô hình "Tiết kiệm điện, nước, văn phòng phẩm; môi trường xanh, sạch, đẹp";  "Chung tay phục vụ nhân dân thực hiện các thủ tục hành chính" của UBND thị trấn Đông Thành; "Cảm hóa, giáo dục người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư" của Ban Công tác Mặt trận ấp 6, xã Mỹ Quý Đông; "Hủ gạo tình thương" của Hội LHPN xã Bình Hòa Hưng; khối các cơ quan huyện, mỗi cơ quan cũng xây dựng một đến hai mô hình "Cơ quan xanh, sạch, đẹp", "Tiết kiệm điện, nước, văn phòng phẩm" và xây dựng phong cách phục vụ người dân "ân cần, chu đáo, lắng nghe, thấu hiểu",....  Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tích cực vận động cá nhân, tổ chức đến khám bệnh và phát thuốc miễn phí, tặng quà cho hộ nghèo, gia đình chính sách và học sinh nghèo hiếu học trên địa bàn huyện.

Ngoài ra, công tác chăm lo đời sống, giúp dân phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng luôn được quan tâm thực hiện. Trong những năm qua, toàn huyện đã vận động xây dựng và sửa chữa hàng trăm căn nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, nhà đồng đội, nhà tình nghĩa, mái ấm công đoàn... cho những gia đình chính sách, hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở và hỗ trợ vay vốn từ các nguồn ủy thác của Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, quỹ vì người nghèo, quỹ hỗ trợ nông dân …  đã góp phần giúp các hộ dân chăn nuôi, trồng trọt, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nhờ đó nhiều hộ vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng.

Có được những kết quả nêu trên là do có sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Thường vụ Huyện ủy và tâm huyết của hệ thống chính trị trong việc công khai  minh bạch các chủ trương của Đảng và nhà nước cấp trên và của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện vẫn còn khó khăn; nhiều công trình đã được công khai nhưng vẫn còn một số hộ dân không đồng thuận, đòi bồi thường.

Để tiếp tục thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, củng cố niềm tin của người dân đối với cấp ủy Đảng, chính quyền, tạo mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, hệ thống chính trị huyện Đức Huệ nói chung và hệ thống dân vận nói riêng tiếp tục quan tâm thực hiện tốt hơn nữa việc công khai các chủ trương, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân để "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

Anh Kiều

 

 

04/10/2019 12:00 CHĐã ban hành
Phụ nữ Đức Huệ làm theo BácPhụ nữ Đức Huệ làm theo Bác
Thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", thời gian qua, Hội LHPN huyện Đức Huệ đã triển khai việc học Bác gắn với các phong trào thi đua của Hội như  "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc", "Gia đình 5 không, 3 sạch", "Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc", và nhiều mô hình như: mô hình "Hủ gạo tình thương", "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương", "Nuôi heo đất', "Bữa cơm nghĩa tình",…

15-5-2019 Mo hinh dan gio xach cua chi em phu nu xa Binh Hoa Bac.jpg 

Ảnh: Mô hình đan giỏ xách của hội viên phụ nữ xã Bình Hòa Bắc

Riêng từ tháng 5/2018 – 5/2019, các cấp Hội phụ nữ của huyện đã vận động xã hội hóa trao tặng 08 căn nhà cho hội viên phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở với kinh phí 340 triệu đồng; vận động hỗ trợ 4.975 phần quà, 1.475 kg gạo và 500 quyển tập với số tiền trên 930 triệu đồng cho gia đình hội viên phụ nữ nghèo, gia đình chính sách, học sinh nghèo hiếu học.

Ngoài ra, Hội LHPN huyện còn vận động mạnh thường quân mỗi tháng tặng 600 phần cơm và bún chay cho phụ nữ nghèo trên địa bàn Thị trấn Đông Thành và bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn đang nằm điều trị bệnh tại bệnh viên Đa khoa huyện Đức Huệ. Đồng thời, vận động hội viên ở gần các khu vực chợ tham gia thực hiện việc thu gom, xử lý rác, dọn dẹp cây hai bên đường, đổ đá làm đường, cầu liên xóm… nhằm góp phần bảo vệ môi trường với kinh phí gần 50 triệu đồng và 150 ngày công lao động

 nhom bat com nghia tinh o khu pho 2 thi tran Dong Thanh (2).jpg

Ảnh: Mô hình Bát cơm nghĩa tình của chi hội phụ nữ khu phố 2, Thị trấn Đông Thành

"Xác định thực hiện các phong trào thi đua làm theo lời Bác phải thường xuyên, cụ thể và mang lại hiệu quả cao, Hội LHPN các xã – thị trấn đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện của địa phương bằng nhiều việc làm hết sức ý nghĩa và thiết thực lan tỏa trong hội viên phụ nữ và công đồng dân cư. Qua đó, các chị thấy được vai trò của mình trong học tập và lao động, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc. Thông qua các mô hình, các cấp Hội đã quyên góp hàng trăm triệu đồng giúp đỡ chị em phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện" – bà Huỳnh Thị Phương Quyên – Chủ tịch Hội LHPN huyện Đức Huệ cho biết.

Những việc làm trên mới chỉ phản ánh một phần chương trình của các cấp Hội phụ nữ huyện Đức Huệ được thực hiện trong thời gian qua. Nhưng có thể khẳng định từ việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đến học tập và làm theo tư tưởng đạo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành việc làm thường xuyên, đem lại lợi ích thiết thực, nhất là đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng, sức sáng tạo của hội viên phụ nữ huyện Đức Huệ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Kim Tiến

03/10/2019 10:00 SAĐã ban hành
Đánh giá cán bộ phải thực chất theo Di chúc của BácĐánh giá cán bộ phải thực chất theo Di chúc của Bác

Việc đánh giá cán bộ (CB) là khâu cơ bản và quan trọng của công tác CB. Đánh giá không đúng dẫn đến sử dụng CB một cách tùy tiện và làm mất đi động lực phấn đấu của cá nhân khác. Do đó, công tác CB nói chung và việc đánh giá CB nói riêng phải đúng thực chất để làm căn cứ bố trí, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm,…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh giá CB phải đánh giá đúng về đức và tài, ý thức chính trị, lập trường và lòng trung thành với lý tưởng cách mạng; phải theo từng bước, lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm nền tảng và toàn bộ quá trình phấn đấu của CB, từ đó nhận xét, đánh giá một cách khoa học, công khai, khách quan và dân chủ. Đây là công việc khó khăn, phức tạp nên không thể tùy tiện, tránh đánh giá một cách hình thức, chủ quan, qua loa, nể nang và dĩ hòa vi quý.

Để thực hiện Di chúc của Bác về đánh giá CB, trước hết, CB lãnh đạo, quản lý khi xem xét, đánh giá phải công tâm, tránh cảm tính, một chiều hoặc xuất phát từ lợi ích của người đánh giá; phải có phương pháp khách quan, toàn diện, xem xét cả quá trình phát triển của CB. Ngoài ra, việc đánh giá phải phát huy tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, được tập thể cấp ủy và từng đơn vị, địa phương góp ý trên tinh thần thẳng thắn và dân chủ, tạo động lực để CB tiếp tục phấn đấu và rèn luyện.

Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là tìm ra những giải pháp thiết thực để sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm sau đánh giá.

Tăng cường kiểm tra, giám sát CB về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, quan hệ công tác và sinh hoạt giúp cấp ủy có điều kiện thấy rõ quá trình phấn đấu, rèn luyện của CB, đảm bảo việc đánh giá thực chất, qua đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn những dấu hiệu vi phạm.

Đánh giá CB một cách công khai, thống nhất vừa giúp CB phát huy năng lực vừa là căn cứ để bố trí, bổ nhiệm CB đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

26/09/2019 6:00 CHĐã ban hành
Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về chủ đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" tỉnh Long An đợt VIII (2019-2020)Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về chủ đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" tỉnh Long An đợt VIII (2019-2020)
 

Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về chủ đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" tỉnh Long An đợt VIII (2019-2020).

06052019_ The le cuoc vdong sang tac ve hoc tap Bac.pdf

 Ban biên tập

21/09/2019 6:00 CHĐã ban hành
Không để hiện tượng mượn phê bình làm điều xấuKhông để hiện tượng mượn phê bình làm điều xấu
Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng ta đã chỉ ra, đó là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng".

29.jpg 

Ảnh minh họa

Vấn đề này cần được khắc phục để tự phê bình và phê bình (TPB&PB) ngày càng trở thành liều thuốc hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng.

Từ lời dạy của Bác Hồ

Vì sao phải phê bình? Từ rất sớm, trong chuyên mục Thường thức chính trị, trên Báo Cứu quốc, từ ngày 16-1 đến ngày 23-9-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật".

Mục đích của TPB&PB theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: Với tổ chức, "cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ"; "để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng". Nếu đoàn kết làm nên sức mạnh của Đảng thì TPB&PB được coi là cội nguồn sức mạnh bậc nhất của Đảng. Với các đảng viên, "một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau"; "là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm".

TPB&PB là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Người cho rằng: "Chúng ta vì dân, vì nước mà làm cách mạng. Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung".

Phê bình như thế nào? Mục đích đã đúng thì lại cần phải có một tinh thần, thái độ, cách thức thực hiện phù hợp. Đây chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Người căn dặn: "Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người khác ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét".

Để phê bình có hiệu quả, theo Người, phải phê bình toàn diện, đa chiều; do đó, trong bài Thuốc đắng dã tật nói thật mất lòng, Người nhấn mạnh: "Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn". Người cũng căn dặn: Phải kết hợp giữa phê bình và tự phê bình; phải thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đúng nguyên tắc và nêu gương trước cấp dưới, trước quần chúng.

Đặc biệt, phê bình phải trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đây là điều căn cốt nhất và phương thức hiệu quả nhất khi thực hành phê bình. Trong Di chúc, Người căn dặn "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu nhau".

Phải dân chủ trong phê bình và tôn trọng đối tượng được phê bình. Ngày 30-5-1957, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên Hải Phòng, Người ân cần nói: "Phê bình phải dân chủ, nghĩa là Bác phê bình các cô, các chú, trái lại các cô, các chú có thể phê bình Bác, có cái hay phải học, cái khuyết điểm thì phê bình. Các cô, các chú yêu Bác, muốn Bác tiến bộ thì phải phê bình". Phong cách phê bình của Người thể hiện sự gần gũi, yêu thương nhau giữa các thành viên trong một đại gia đình lớn; vừa mềm dẻo, vừa cương quyết để đạt được mục đích của TPB&PB mà không "cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc" dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí phản tác dụng.

Những bất cập đáng lo ngại

Trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, Đảng ta một lần nữa yêu cầu: Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt TPB&PB. Xây dựng quy định TPB&PB, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". TPB&PB trong Đảng nói chung, đối với cán bộ, đảng viên của Đảng nói riêng đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hiệu quả, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đến nay. Tuy nhiên, vấn đề này hiện nay vẫn tồn tại những bất cập đó là:

Thứ nhất, tự phê bình thì mạnh dạn nhưng phê bình còn e dè, nể nang. Đây là một trong những bất cập khá phổ biến trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Như một lẽ tự nhiên, tự phê bình thường không "động chạm", còn phê bình lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền và lợi ích của một tổ chức hay một cá nhân. Do đó, không ít cán bộ, đảng viên còn biểu hiện "dĩ hòa vi quý", e dè, nể nang, ngại va chạm nhất là khi phê bình cấp trên.

Thứ hai, lợi dụng phê bình để hạ thấp uy tín người khác. Vì mục đích vụ lợi, không ít cán bộ, đảng viên lợi dụng việc phát huy dân chủ, đề cao phê bình để công khai nói xấu, công kích để hạ thấp uy tín của người được phê bình hoặc lợi dụng phê bình để tranh cãi, gây mất đoàn kết hoặc khuyết điểm chưa rõ thì tìm cách che dấu… Bên cạnh đó, thái độ trông trước ngó sau, đón ý cấp trên để phê bình cho "trúng" hoặc xem người khác nói gì rồi hùa theo. Một tình trạng nữa là có những người lợi dụng phê bình làm công cụ để hạ bệ người không cùng phe cánh. Phê bình không khách quan, không kịp thời nhắc nhở đồng chí, đồng nghiệp mà "tích lũy khuyết điểm" của người khác để kết tội. Với "chiếc áo" phê bình, họ kéo bè, kéo cánh để công kích những người không ưa, gây mất đoàn kết nội bộ, làm rối loạn cơ quan, đơn vị...

Thứ ba, tinh thần đấu tranh TPB&PB của cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa nêu cao tính xây dựng, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên. Tâm lý "thứ nhất ngồi lỳ, thứ nhì đồng ý" hay "thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án" hoặc "gió chiều nào theo chiều ấy" để tạo cảm giác "an toàn" cho mình khiến một số cán bộ, đảng viên ngại phát biểu biểu ý kiến trong sinh hoạt Đảng (việc phát biếu ý kiến chỉ tập trung vào đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, cán bộ, đảng viên lớn tuổi, còn một số đảng viên trẻ rất ít phát biểu trong các kỳ sinh hoạt), nếu phát biểu cũng phê bình chung chung, chiếu lệ, né tránh những vấn đề nhạy cảm, gai góc. Không ít tổ chức đảng mất đoàn kết nội bộ hoặc đoàn kết xuôi chiều vì có những cán bộ, đảng viên "dĩ hòa vi quý" hoặc có thái độ hành vi "đạo đức bốn mặt" ("Đạo đức bốn mặt": Trước mặt nói rất tốt, rất hay về người này, người khác nhưng lại nói xấu người nọ, chê bai người kia sau lưng; trước cấp trên thì xum xoe, nịnh bợ, luồn cúi; trước nhân dân thì thờ ơ, vô cảm, "sống chết mặc bay").

Thứ tư, người được phê bình thường có biểu hiện không thừa nhận khuyết điểm, thái độ cầu thị không tốt, thậm chí tiếp nhận các ý kiến phê bình của người khác một cách cực đoan; từ đó, cán bộ, đảng viên là cấp trên tìm cách để ý, trù dập những người phê bình mình là cấp dưới.

Vì vậy, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra đó là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng". Còn tồn tại những bất cập có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân cơ bản là do tư tưởng "ngại va chạm", tính chủ động, tinh thần trách nhiệm, tinh thần TPB&PB của một số cán bộ, đảng viên chưa cao. Nguyên nhân chính là do cán bộ, đảng viên còn bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, bị ràng buộc bởi lợi ích "được gì? mất gì?"; toan tính lợi ích cá nhân, cục bộ, bản vị vì lợi ích trước mắt, chưa vì lợi ích tập thể và lợi ích lâu dài. Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên còn do cán bộ, đảng viên chưa có văn hóa phê bình. Vì vậy, trong nhiều "vụ án ngàn tỷ" thời gian gần đây, có những người vi phạm rất nghiêm trọng, làm thất thoát tài sản lớn của Nhà nước, nhưng khi bị cơ quan pháp luật xét xử cũng chỉ nhận khuyết điểm là do hạn chế về nhận thức.

Phê bình chân chính và có văn hóa

Thực hiện thường xuyên TPB&PB là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Cấp ủy, các tổ chức đảng cần quyết liệt thực hiện TPB&PB theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII. Khắc phục tình trạng nể nang, dĩ hòa vi quý, đoàn kết xuôi chiều, bị tình cảm cá nhân chi phối; đồng thời, nghiêm khắc xử lý những biểu hiện lợi dụng phê bình để đấu đá, làm mất uy tín của nhau, gây rối đối với tổ chức, ảnh hưởng đến đoàn kết trong tổ chức đảng, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng kích động, chia rẽ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải phê bình một cách thẳng thắn, chân thành nhằm giúp đồng chí, đồng đội nhận rõ sai lầm, sửa chữa khuyết điểm để không ngừng tiến bộ, tuyệt đối không vì mâu thuẫn cá nhân, động cơ cá nhân mà phê bình theo kiểu "vạch lá tìm sâu", "bới lông tìm vết" nhằm trù dập, đấu đá, hạ bệ lẫn nhau. Do đó, các tổ chức đảng khi tiến hành TPB&PB, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh. Mỗi cán bộ, đảng viên kiểm điểm phải bảo đảm tính trung thực trong tự kiểm điểm, người phê bình thì công khai dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng và cán bộ cấp trên phải làm gương cho cấp dưới. Đồng thời, phải kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng và cá nhân không thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt TPB&PB, không tự nhận sai lầm, khuyết điểm và che dấu những hạn chế, khuyết điểm cho nhau. Việc góp ý cho nhau, cùng nhau tiến bộ, nâng cao phẩm chất con người, phát huy tính tích cực của con người; cần nhận thức sâu sắc hơn, thực hiện triệt để hơn nguyên tắc TPB&PB để Đảng luôn trong sạch, làm cho uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao.

Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực TPB&PB. Đảng ta yêu cầu mọi tổ chức đảng và mọi đảng viên đều phải thực hiện tốt TPB&PB. Theo đó, phê bình không phải là sỉ vả, xúc phạm danh dự của nhau mà là sự thể hiện tình cảm đồng chí trong sáng, chân thành; phê bình là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ và để đoàn kết tốt hơn; phê bình phải mang tính khách quan, vô tư, có lý, có tình, cổ vũ ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhược điểm; phê bình phải trên nguyên tắc tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, chống thổi phồng hoặc bóp méo sự thật; phải biết phân tích ưu điểm, khuyết điểm của đồng chí mình theo quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể... Chỉ có phê bình như thế mới là phê bình chân chính và mới có tác dụng; nói cách khác là phê bình có văn hóa.

Ban biên tập

Nguồn tuyengiao.vn

11/09/2019 9:00 SAĐã ban hành
Hội Phụ nữ xã Bình Hòa Hưng  nhân rộng Mô hình "Hũ gạo tình thương" Hội Phụ nữ xã Bình Hòa Hưng  nhân rộng Mô hình "Hũ gạo tình thương"
 

Năm 2011, Hội LHPN xã Bình Hòa Hưng tuyên truyền, vận động triển khai đăng ký thực hiện mô hình "hủ gạo tình thương" trong chi hội. Kết quả có 100% cán bộ, hội viên phụ nữ chi hội ấp 2 và chi hội ấp 4 đăng ký thực hiện. Vào ngày họp lệ tổ các chị em phụ nữ mang gạo đến đóng góp vào "Hủ gạo tình thương", cứ mỗi một quý chi hội mang tặng cho các chị hội viên nghèo trong ấp; đến cuối năm 2011 chi hội đã đóng góp được số gạo là 210 kg gạo, tặng cho 14 chị có hoàn cảnh khó khăn.

Đến năm 2012, Hội nhân rộng mô hình "Hủ gạo tình thương" trong toàn xã; ngoài số gạo chị em đóng góp, chi hội còn vận động mạnh thường quân ở nơi khác đóng góp vào mô hình "Hủ gạo tình thương" tặng cho HVPN và người dân nghèo trên địa bàn xã. Đến cuối năm 2012 mô hình "hủ gạo nghĩa tình" vận động được 450 kg gạo, tặng cho 13 hộ phụ nữ nghèo và 03 hộ nghèo trong xã.  Từ năm 2013 đến nay mô hình tiếp tục duy trì phát triển Với tinh thần "Tương thân tương ái" gắn kết yêu thương, mô hình "Hũ gạo tình thương" của Hội LHPN xã Bình Hòa Hưng duy trì thực hiện thời gian qua đã phát huy hiệu quả. Từ mô hình này, hàng năm đã giúp đỡ hỗ trợ được cho nhiều trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, phụ nữ nghèo neo đơn, người tàn tật có động lực vươn lên và hàng chục học sinh nghèo hiếu học được tiếp sức đến trường.

Mô hình "Hũ gạo tình thương" đã được Hội LHPN xã Bình Hòa Hưng phát động, duy trì thực hiện từ nhiều năm nay và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo hội viên, mạnh thường quân, các nhà hảo tâm. Mô hình nhanh chóng được triển khai tới  chi hội ấp 4 và ấp 2 với mục đích giúp đỡ, hỗ trợ cho các HV có hoàn cảnh khó khăn, người già neo đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi và trợ giúp những gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn đột xuất cần giúp đỡ. Đã thành thông lệ, cứ vào đầu tháng 2, các chi hội lại sôi nổi phát động phong trào. Hội tổ chức tuyên truyền, vận động HV, các nhà hảo tâm quyên góp, ủng hộ. Ai có gạo thì ủng hộ gạo, ai có tiền thì ủng hộ tiền tùy theo tấm lòng của mỗi người. Tổng số gạo, tiền quyên góp được từ gia đình HV và các nhà hảo tâm sẽ được quy đổi ra mua gạo giúp đỡ, hỗ trợ các đối tượng khó khăn, đau ốm… Chỉ riêng trong 8 tháng đầu năm 2019, Hội LHPN xã đã quyên góp hơn 3.160kg gạo trao tận tay cho hội viên, người dân có hoàn cảnh khó khăn, người tàn tật trên địa bàn. Ngoài ra, hội cũng hỗ trợ cho các gia đình khó khăn 65 thùng mì tôm tập vở, quần áo để tiếp sức cho con em họ được tới trường như bạn bè cùng trang lứa. Riêng những trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hội đã hỗ trợ thường xuyên cho 15 hộ mỗi tháng 10kg gạo/1 hộ.

Từ những hành động, việc làm thiết thực, cùng với sự quan tâm hỗ trợ của địa phương, những hũ gạo ngày càng chứa chan tình cảm, chia sẻ, làm thay đổi hành động của nhiều HV cũng như nhiều mảnh đời bất hạnh trên địa bàn xã. Tiêu biểu trong phong trào hũ gạo tình thương, đồng hành với người nghèo ở xã Bình Hòa Hưng, có thể kể đến như chị Tạ Thị Quy, anh Hồ Văn Tiếp, chị nguyễn Thị Tuyết, chị Võ Thị Nga ở ấp 4, Vựa phân cây trồng KT2, chị Huỳnh Thị Chung ở Đoàn 4, Chị Hồ Thị Thu Thảo ở ấp 2 xã Bình Hòa Hưng. Tinh thần đóng góp tự nguyện của các HV, nhà hảo tâm đã giúp cho nhiều hộ gia đình khó khăn, nhiều học sinh nghèo hiếu học được tiếp tục đến trường.

Trong những năm qua, nhờ sự kiên trì tuyên truyền, vận động của cán bộ Hội, hiệu quả của mô hình "Hũ gạo tình thương" ngày một được nâng cao, trở thành một mô hình thân thuộc đối với HV. Mặc dù 10kg gạo, 1 thùng mì hay số tiền hỗ trợ hàng tháng có giá trị không lớn, nhưng là động lực tinh thần, mang lại niềm vui cho người có hoàn cảnh khó khăn. Đó cũng là sợi dây gắn kết HV, xây dựng tình cảm để các hộ gia đình xích lại gần nhau hơn, góp phần phát huy tinh thần tương thân tương ái".

Có thể thấy, "Hũ gạo tình thương" của Hội LHPN xã duy trì thực hiện thời gian qua là mô hình hiệu quả, giàu ý nghĩa. Từ những nắm gạo tình thương, đồng bạc lẻ tưởng như ít ỏi nhưng lại mang giá trị lớn lao, kết nối yêu thương, sẻ san hạnh phúc, đậm tình người. Sự phát triển, lan tỏa của mô hình đã góp phần nhân thêm nghĩa cử cao đẹp, giúp đỡ những người khó khăn, neo đơn, chung tay thực hiện tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn xã.

Nguyễn Thị Vân Anh

10/09/2019 3:00 CHĐã ban hành
Khai mạc Triển lãm ảnh 'Long An - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh'Khai mạc Triển lãm ảnh 'Long An - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh'
Sáng 02/9, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Long An (phường 2, TP.Tân An), UBND tỉnh Long An tổ chức Khai mạc Triển lãm ảnh "Long An - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Ủy viên Trung ương Đảng, Bí Thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh - Phạm Văn Rạnh; Chủ tịch UBND tỉnh - Trần Văn Cần dự.

tham quan trien lam.jpg 

Ảnh: Đại biểu tham quan triển lãm ảnh

Triển lãm lần này trưng bày hơn 200 ảnh màu, phóng ép nhám (khổ ảnh 40cm x60cm), 1 mô hình nhà sàn Bác Hồ bằng chất liệu gỗ (kích thước 100cm x 150cm). Trong đó, 100 tác phẩm ảnh có chủ đề xuyên suốt thể hiện nội dung ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản Di chúc của Người và cách làm sáng tạo của những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

Bản Di chúc Người để lại là văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân, trọn đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập, tự do Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đây cũng là lời căn dặn cuối cùng của một lãnh tụ thiên tài, một nhà cách mạng lỗi lạc có tầm nhìn xa, trông rộng, một chiến sĩ cộng sản suốt đời yêu thương, trân trọng con người, phấn đấu hy sinh vì tự do, hạnh phúc của con người.

Những tư tưởng lớn, những phẩm chất đạo đức trong sáng, tuyệt vời và chủ nghĩa nhân văn cộng sản toả sáng từ Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là nguồn sức mạnh tinh thần dẫn dắt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trên con đường xây dựng Tổ quốc Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngoài ra, triển lãm còn giới thiệu đến công chúng những hình ảnh tiêu biểu của toàn Đảng, toàn quân và dân Long An thực hiện Di chúc của Bác trong 50 năm qua. Đó là những hình ảnh dũng cảm trong chiến đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào!"; thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả sau chiến tranh; những đóng góp của Long An trong việc thực hiện cơ chế một giá, góp phần tích cực vào quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng; thành tựu trong quá trình chủ trương khai mở, lấp kín Đồng Tháp Mười; những thành tựu kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh Long An qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh.

Phát biểu tại buổi lễ khai mạc, Chủ tịch UBND tỉnh - Trần Văn Cần nhấn mạnh: Triển lãm ảnh "Long An - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh" có nhiều ý nghĩa thiết thực như thực tốt công tác tuyên truyền nội dung bản Di chúc Bác; khẳng định ý nghĩa, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh; tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ nhận thức, thực hiện nhiệm vụ chính trị của cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, nhất là thế hệ trẻ nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, tình yêu quê hương, đất nước và có những việc làm thiết thực theo gương Bác Hồ vĩ đại.

​Anh Trần Tuần Khương, cán bộ Công an huyện Tân Trụ chia sẻ: "Qua buổi triển lãm này, tôi có dịp tận mắt nhìn thấy những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Bác. Đây thật sự là một nơi lý tưởng để những bạn trẻ có thể học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác".

Được biết, để triển lãm đảm bảo được chất lượng và hiệu quả tuyên truyền đến mọi tầng lớp, Ban tổ chức đã có sự chuẩn bị chu đáo và kỹ lưỡng.

Triễn lãm sẽ được diễn ra từ nay đến hết ngày 06/9 tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Long An./.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

03/09/2019 1:00 CHĐã ban hành
Triển lãm ảnh 'Long An - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh' từ 02 - 06/9Triển lãm ảnh 'Long An - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh' từ 02 - 06/9
Theo kế hoạch, triển lãm ảnh "Long An - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh" do UBND tỉnh tổ chức, diễn ra từ ngày 02 đến 06/9 tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh, với 200 bức ảnh.

trie3n lam.jpg 

Ảnh: Ngành Văn hóa -Thể thao và Du lịch treo pa nô tuyên truyền cho triển lãm

Trong đó, các bức ảnh giới thiệu về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Bác Hồ với nền văn hóa Việt Nam; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; gương điển hình trong thực hiện Di chúc của Bác; thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh,...

Ngoài xem triển lãm ảnh, các đại biểu còn được thưởng thức chương trình nghệ thuật với chủ đề "Bác Hồ với biển, đảo thiêng liêng của Tổ Quốc", đồng thời được xem phim giới thiệu về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phóng sự về thành tựu của tỉnh Long An sau 50 năm thực hiện Di chúc của Người.

Tham gia triển lãm ảnh, các huyện, thị xã, thành phố còn tham gia 1 gian hàng triển lãm về thành tựu của địa phương sau 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Triển lãm nhằm tuyên truyền nội dung Di chúc, khẳng định ý nghĩa, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh; tôn vinh và tri ân sâu sắc công lao cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam; khẳng định cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong lòng người dân Việt Nam; thiết thực chào mừng Kỷ niệm 74 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 02/9,...

Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Phạm Tấn Hòa đề nghị các ban, ngành, đoàn thể tỉnh, huyện, thị xã, thành phố đã được phân công, giao trách nhiệm phải thực hiện nghiêm túc, đúng kế hoạch đề ra; các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh phải đăng thông tin triển lãm ảnh "Long An- 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh" trên website của cơ quan, đơn vị nhằm cổ động, tuyên truyền cho triển lãm ảnh đến nhiều đối tượng; các gian hàng của các địa phương cần chọn những sản vật đặc trưng, nhất là phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; ngành Công an chú ý bảo đảm an ninh, trật tự trước, trong và sau triển lãm; Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An đẩy mạnh tuyên truyền về triển lãm,.../.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

30/08/2019 2:00 CHĐã ban hành
50 năm thực hiện Di chúc của Bác và những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam50 năm thực hiện Di chúc của Bác và những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam
Thực hiện bản Di chúc bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, 50 năm qua cách mạng Việt Nam đã không ngừng tiến lên giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.

 2-1560311640350.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước (Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ IV) diễn ra tại Hà Nội tháng 12/1966. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Thực hiện Di chúc của Người: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn", dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân cả nước triệu người như một, phát huy sức mạnh cao độ của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975 mà đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, Đảng ta đã tập trung trí tuệ lãnh đạo nhân dân ta tiến hành sự nghiệp cách mạng trên cả nước. Mặc dù tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều biến động phức tạp, vừa phải thường xuyên đối phó với những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, vừa phải xây dựng đất nước từ một nền kinh tế lạc hậu, đi lên từ đống tro tàn đổ nát của chiến tranh, vừa phải thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh: "Giúp cho bạn cũng là giúp cho mình", dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phấn đấu gian khổ và thu được những kết quả hết sức quan trọng là khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh; thiết lập và củng cố chính quyền nhân dân trên phạm vi cả nước; phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Thực hiện Di chúc của Người, trải qua 9 kỳ Đại hội Đảng, kể từ Đại hội IV đến Đại hội XII, Đảng ta đã ngày càng xác định rõ hơn những quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, Đảng ta xác định: "Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, xây dựng nền văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội". Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tiến hành sau hơn 30 năm đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành và phát triển. GDP tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa – xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố và tăng cường. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Để thực hiện những điều căn dặn về xây dựng Đảng của Bác viết trong Di chúc, Đảng ta đã xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt trong mỗi giai đoạn cách mạng. Đảng ta luôn xác định tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng nhằm tăng cường sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng đã đặt ra trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng. Các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề ra những chủ trương và biện pháp quan trọng về xây dựng Đảng, củng cố, kiện toàn và làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh công tác tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; khắc phục những yếu kém trong bộ máy các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong đó hết sức chú trọng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà Đảng đã xác định là giặc "nội xâm".

Có thể nói, chưa bao giờ cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này được Đảng, Nhà nước tiến hành quyết liệt và đạt được những kết quả quan trọng như thời gian qua. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội được mở rộng góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển. Qua các đợt vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng từ Trung ương đến cơ sở đã có những chuyển biến nhất định, sức mạnh và tính chiến đấu của nhiều tổ chức đảng và đảng viên được nâng lên rõ rệt, góp phần xây dựng Đảng ta không ngừng vững mạnh và ngang tầm với nhiệm vụ. Cùng với kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động và đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và trong toàn xã hội để chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chính trị chủ đạo trong đời sống đất nước.

Cùng với điều đó, Bộ Chính trị cũng ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Chỉ thị 05-CT/TW về "Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" góp phần thiết thực vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng ta cũng gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, củng cố bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, chất lượng, hiệu quả chính là hành động thiết thực làm theo Di chúc của Bác, xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho uy tín của Đảng ta ngày càng cao và mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ngày càng trở nên bền chặt, máu thịt.

Thực hiện Di chúc của Bác: "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết", Đảng ta luôn chú ý đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ làm người kế tục sự nghiệp cách mạng của thế hệ cha anh. Các nghị quyết về công tác thanh niên, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ… đều đề cập nhiệm vụ giáo dục, chăm lo thế hệ trẻ, coi thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những năm qua, công tác lãnh đạo đối với hoạt động của thanh niên và tuổi trẻ có nhiều đổi mới và chuyển biến tích cực. Các hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên Việt Nam ngày càng lôi cuốn, thu hút nhiều đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia. Những tấm gương điển hình tiên tiến, xung kích đi đầu trong chiến đấu, lao động, học tập và công tác, nhất là trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đã tiếp tục khẳng định vị thế và vai trò quan trọng của thế hệ trẻ.

Trên cơ sở quán triệt: "Xây dựng Đoàn là xây dựng Đảng trước một bước", các tổ chức cơ sở Đoàn đã phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của đoàn viên, thanh niên, sinh viên trong thi đua thực hiện các nghị quyết của Đảng, hưởng ứng và tích cực tham gia Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" với nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, hấp dẫn, sôi nổi để góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cơ quan, đơn vị. Thông qua đó, tạo môi trường để thế hệ trẻ trải nghiệm, từ rèn luyện mình, từng bước trưởng thành, phấn đấu, bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế vô sản, đề ra nhiệm vụ đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, với các dân tộc bị áp bức, coi đó là một nguyên tắc, một trong những nhân tố quyết định thành công của cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng xác định củng cố sự đoàn kết với các phong trào cách mạng các nước, đồng thời nắm vững phương châm ngoại giao linh hoạt, có nguyên tắc trên tinh thần Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển; nhất quán coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các phong trào cách mạng, các xu hướng và trào lưu tiến bộ của thời đại vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; nêu cao nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, phát huy sức mạnh dân tộc, sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở sức mạnh bên trong vừa tranh thủ và tận dụng sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các lực lượng bên ngoài. Thực thi đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

50 năm thực hiện Di chúc của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thực hiện trọn vẹn 05 lời thề đối với Bác – đạt được những thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến và trong sự nghiệp đổi mới. Tiếp tục thực hiện Di chúc của Người, chúng ta nguyện chung sức đồng lòng đoàn kết chung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng để xây dựng đất nước theo mục tiêu của Đảng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Gia Khánh

Nguồn Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

 

24/08/2019 7:00 CHĐã ban hành
Mỹ Thạnh Bắc biểu dương các mô hình học tập tiêu biểu giai đoạn 2014 – 2019Mỹ Thạnh Bắc biểu dương các mô hình học tập tiêu biểu giai đoạn 2014 – 2019
Sáng ngày 20/8/2019, Hội Khuyến học xã Mỹ Thạnh Bắc tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và biểu dương các mô hình học tập lần thứ I giai đoạn 2014 - 2019. Bà Nguyễn Thị Thanh Vân – Chủ tịch Hội Khuyến học huyện Đức Huệ kiêm Phó Ban chỉ đạo xây dựng xã hội học tập huyện cùng lãnh đạo UBND xã Mỹ Thạnh Bắc, các ban ngành, đoàn thể xã, đại diện  9 chi hội và 50 gia đình học tập tiêu biểu trên địa bàn xã tham dự hội nghị.

bieu duong MTB.jpg 

Ảnh: Khen thưởng cho các tập thể, cá nhân xuất sắc trong thực hiện các mô hình

Theo báo cáo của Hội Khuyến học xã Mỹ Thạnh Bắc, giai đoạn 2014 – 2019, việc xây dựng các mô hình học tập theo Quyết định 281/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về "Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020" đã được cấp ủy, chính quyền xã quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả.

Toàn xã có 50 gia đình học tập tiêu biểu của 5 chi hội, 5 dòng họ học tập tiêu biểu của 3 ấp, 5 cộng đồng học tập của 5 ấp, 4 đơn vị học tập của 3 chi hội trường và ban khuyến học xã luôn tích cực trong thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các mô hình này đã tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới, đời sống văn hóa,… góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của địa phương.

Bên cạnh đó, hoạt động của Trung tâm Văn hóa Thể thao và Học tập cộng đồng xã từng bước được đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động đã góp phần quan trọng trong việc duy trì, phát triển phong trào học tập suốt đời trong nhân dân, xóa đói giảm nghèo, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe các báo cáo tham luận về xây dựng gia đình học tập, dòng họ học tập ở ấp 5, cộng đồng học tập của ấp 5 và đơn vị học tập của trường THCS Mỹ Thạnh Bắc.

Phát biểu tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Thanh Vân – Chủ tịch Hội Khuyến học huyện Đức Huệ đánh giá cao những kết quả mà Hội Khuyến học xã Mỹ Thạnh Bắc đã đạt được trong thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; biểu dương sự nỗ lực cố gắng và những đóng góp của các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong việc lan tỏa "sự học" đối với cộng đồng. Đồng thời yêu cầu Hội khuyến học xã nâng cao chất lượng hoạt động, tăng cường phối hợp với các trường học trên địa bàn tiến hành điều tra, khảo sát nhu cầu học tập của các em học sinh,…

Dịp này, UBND xã Mỹ Thạnh Bắc đã biểu dương, khen thưởng cho 10 tập thể, 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào khuyến học – khuyến tài, xây dựng xã hội học tập của xã giai đoạn 2014 – 2019.

Nguyễn Tấn Phát

 Đài xã Mỹ Thạnh Bắc

 

21/08/2019 10:00 CHĐã ban hành
Hoài bão của Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhấtHoài bão của Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất

kltr_8a.jpg 

Ảnh tư liệu: Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam năm 1969. 

Độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát vọng cháy bỏng của mọi người dân Việt Nam yêu nước; là mục tiêu phấn đấu, thể hiện rõ trong mọi thời ​điểm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Vì vậy mà, trong những thời điểm khác nhau, phát biểu ở các diễn đàn khác nhau, nhưng hoài bão của Người về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất đều thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt, đó là: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu"(12/1920); "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy" (9/1945); "Kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước"(1946), "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" (7/1966); "Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào/Bắc Nam sum họp/Xuân nào vui hơn" (Thơ mừng xuân 1969); "Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà" (Di chúc, 1969),v.v..

Trong hành trình hoạt động cách mạng và đấu tranh để đạt được hoài bão đó, Người đã không chỉ đến với chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về Việt Nam - vào trong phong trào công nhân và phong trào đấu tranh yêu nước; chuẩn bị về mọi mặt và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa hồng vừa chuyên; tập hợp, cổ vũ, động viên quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh cách mạng trong Mặt trận dân tộc thống nhất, trong các đoàn thể chính trị, các hình thức hội phù hợp yêu cầu từng giai đoạn cách mạng để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc…

Ngay sau khi ra đời ngày 3/2/1930, trong Cương chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam là trải qua hai giai đoạn: trước hết là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tập hợp quần chúng, đã lãnh đạo và đưa quần chúng ra đấu tranh với tinh thần và ý chí "toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời, khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và dân tộc. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy" trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Tuy nhiên, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và trước nguy cơ mất nước một lần nữa; trân trọng giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do và không cam tâm làm nô lệ, với tinh thần và ý chí "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", hưởng ứng lời hịch cứu nước của Người: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!", toàn thể nhân dân Việt Nam đã quyết tâm "thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khó khăn, thử thách ấy, không chỉ đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, Người và Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước kiên trì kháng chiến và kiến quốc; từng bước giành thắng lợi và và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng một "Điện Biên Phủ chấn động địa cầu".

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo tinh thần của Hiệp định, cuộc tổng tuyển cử tự do, thống nhất hai miền Nam - Bắc sẽ được thực hiện vào năm 1956. Tuy nhiên, thực hiện học thuyết Trurman; lo ngại sự sụp đổ dây chuyền của khu vực Đông Nam Á bởi cộng sản, Mỹ đã phá hoại hiệp định Giơnevơ, can thiệp vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Vậy là, khát vọng về một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất - non sông liền một dải của Người và toàn thể nhân dân ta chưa thể trở thành hiện thực.

Tiếp tục thực hiện khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước, để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, so sánh thế và lực giữa ta và địch, nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.

Trong khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã liên tục thay đổi các chiến lược chiến tranh ở miền Nam, âm mưu và tìm mọi cách chia rẽ hai miền Nam - Bắc; ngày càng mở rộng quy mô cuộc chiến tranh, tăng cường xây dựng chế độ ngụy quyền Sài Gòn, xây dựng quân đội ngụy và tăng cường đội quân của các nước chư hầu vào tham chiến; tăng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm hủy diệt cơ sở vật chất và tinh thần của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã một mặt nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ và thắng Mỹ; đồng thời, tăng cường đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại. Mặt khác, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm xây dựng, bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, chi viện cho miền Nam đánh Mỹ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giải phóng miền Nam, để miền Nam ruột thịt, với vị trí là tiền tuyến lớn, trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai luôn nhận được sự chi viện không ngừng nghỉ sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc.

Sau phong trào Đồng Khởi 1959-1960, cách mạng miền Nam ngày càng phát triển... Quân dân ta đã lần lượt đánh bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đơn phương" và "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong bối cảnh đó, tháng 3/1965, Tổng thống Mỹ Johnson đã quyết định thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Tình hình cách mạng miền Nam diễn biến hết sức phức tạp, chiến tranh lan rộng ra cả nước, vận mệnh dân tộc đứng trước thử thách thức nghiêm trọng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ngày càng quyết liệt. Để khẳng định niềm tin và quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngày 17/7/1966, trong Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa (…), song nhân dân việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do", nêu cao tinh thần và thúc giục quân dân cả nước quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trên toàn miền Nam, quân dân ta đã giành được những thắng lợi quan trọng sau gần hai năm trực tiếp đương đầu với quân Mỹ, quân đồng minh và quân đội Việt Nam cộng hòa. Tuy gặp nhiều tổn thất, song đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ chiến tranh xâm lược ở miền Nam. Chúng tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc…

Trong những năm tháng đó, thực tiễn cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng ở miền Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự chi viện về mọi mặt của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam đã chứng minh rằng, càng mở rộng chiến tranh, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngày càng lún sâu vào "đường hầm không lối thoát". Bởi rằng, dù đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam và phá hoại, hủy diệt miền Bắc xã hội chủ nghĩa, song chúng cũng "không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng" với với sự đồng tâm, đồng chí, đồng lòng của một dân tộc quyết tâm thực hiện khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Không áp lực nào ngăn cản được sự thật, ngăn cản được tinh thần và ý chí của nhân dân hai miền Nam- Bắc đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Tinh thần, quyết tâm của quân dân cả nước về nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được thể hiện rõ trong từng quyết sách của Trung ương Đảng, trong nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt trong bản Di chúc lịch sử Người để lại trước khi đi xa.

Trong Di chúc của Hồ Chí Minh, khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và niềm tin tất thắng về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta được Người nhắc đến nhiều lần, cháy bỏng hơn bao giờ hết: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn"; "Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải rút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà"; "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn"; "Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ và góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc"…

Bản Di chúc vốn không dài; nội dung Người viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng không nhiều, song chữ "nhất định" được lặp lại trong từng câu, thể hiện khát vọng cháy bỏng và niềm tin tưởng tuyệt đối của Người vào thắng lợi của nhân dân ta vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất.

Gia Khánh

Nguồn Tuyengiao.vn

17/08/2019 8:00 CHĐã ban hành
Đọc lại Di chúc Bác Hồ lúc này, càng nhớ những lời Bác dặnĐọc lại Di chúc Bác Hồ lúc này, càng nhớ những lời Bác dặn
Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng những điều Bác viết trong Di chúc trước lúc vĩnh biệt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vẫn còn in đậm trong trí nhớ mỗi người Việt Nam yêu nước, thậm chí có người đã thuộc lòng từng trang, từng đoạn.

CT.jpg 

Có thể nói, đó là lời từ trái tim vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, suốt đời chỉ canh cánh bên lòng điều tâm huyết cháy bỏng: Làm cho nước nhà được độc lập, tự do; đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc và được học hành.

Xét trên bình diện nội dung một văn bản chính trị, thì đó là một công trình tổng kết lý luận-thực tiễn rất sâu sắc về mục đích cách mạng, phương thức tiến hành để đạt được mục tiêu cao đẹp mà cả Đảng và dân tộc đều mong muốn. Xét trên góc độ tuyên truyền, thì bản Di chúc coi như một "lời hịch" động viên, cổ vũ toàn dân ta đoàn kết lại, chung lòng, chung sức đánh thắng ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất, giàu mạnh, hùng cường, góp sức tích cực vào phong trào cách mạng thế giới.

Một trong những điều Bác căn dặn đầu tiên là "Trước hết nói về Đảng". Khẳng định những thành tựu lớn lao của Đảng từ ngày thành lập, Bác chỉ rõ nguyên nhân hàng đầu là nhờ Đảng ta "đoàn kết chặt chẽ", đoàn kết trong nội bộ Đảng, đoàn kết với nhân dân và đoàn kết quốc tế. Vì vậy, không ngẫu nhiên, trong số lượng chữ có hạn của bản Di chúc, Bác 7 lần nhắc chữ đoàn kết và nhấn mạnh rằng: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình".

Đây là sự tổng kết sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng trên cương vị là lãnh tụ cao nhất từ ngày lập Đảng đến lúc đi xa, với bao trải nghiệm từ khi Đảng mới có 5.000 đảng viên đã tiến hành tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, cho đến khi giành chính quyền về tay, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, khi thuận lợi, lúc khó khăn; có thời kỳ mắc sai lầm, vấp váp. Vì thế, một "phương thuốc kỳ diệu" là "Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng".

Nhưng theo Bác, "Đảng ta là một Đảng cầm quyền", Đảng là "con nòi của dân tộc", nhưng lại là công bộc, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Vì vậy, "mỗi cán bộ và đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư".

Từ Chỉ thị 03 ban hành năm 2003, đến Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (năm 20016) về "Tiếp tục học và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", tiếp đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa XI, XII ra Nghị quyết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trên thực chất là cụ thể hóa lời Bác căn dặn trong Di chúc từ năm 1969. Các tầng lớp nhân dân đồng tình và hoan nghênh sự chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới: "Xây thường xuyên, chống quyết liệt" với phương châm "đánh chuột không vỡ bình", "kỷ luật một vài người để cứu muôn người", "xử lý nghiêm túc và nhân văn"… Đến nay đã có hơn 60 cán bộ cao cấp (cả đương chức và về hưu) đã bị nhận kỷ luật ở các mức khác nhau, trong đó có cả 9 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương (một Ủy viên Bộ Chính trị).

Mới đây, tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn về chủ đề này, đồng chí Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn tiếp tục, không ngừng nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Thực tiễn ấy đã lấy lại niềm tin của nhân dân vào Đảng; và, việc đoàn kết trong nội bộ Đảng dần được tăng cường; quan hệ giữa dân và Đảng thêm gắn bó. Đó chính là động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển (năm 2018, tốc độ tăng trưởng đạt 7,08% - vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra).

Nhưng đoàn kết trên cơ sở nào? Trong Di chúc, Bác Hồ chỉ rõ: "nhờ một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc" cho nên Đảng ta đã đi từng thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, đoàn kết được hình thành từ ba nhân tố quan trọng: Phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Do đó, nếu mỗi cán bộ, đảng viên chỉ tìm cách vun đắp lợi ích riêng, coi nhẹ hoặc quay lưng lại lợi ích chung thì lập tức nội bộ nảy sinh sự thiếu thống nhất về chủ trương, chính sách; mà một khi tình trạng đó kéo dài, thì dẫn đến hiện tượng mất đoàn kết.

Thực tiễn chỉ ra rằng, ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương để xảy ra mất đoàn kết chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân, là sự "kéo bè kéo cánh" của các "nhóm lợi ích" về kinh tế, về cán bộ… Do đó, trong Di chúc, Bác lưu ý, chỉ có thể khắc phục chủ nghĩa cá nhân khi "mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư".

Với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã cụ thể hóa lời dạy của Bác, nêu rõ 27 biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; về "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII lại ra Nghị quyết về trách nhiệm nêu gương, trước hết là người đứng đầu, trong đó là các Ủy viên Trung ương, Ban Bí thư và Bộ Chính trị. Đây là chủ trương đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, được nhân dân hoan nghênh và kỳ vọng…

Sau phần căn dặn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; bồi dưỡng các thế hệ thanh niên thành lớp người "vừa hồng vừa chuyên", Bác nói về "nhân dân lao động". Từ đây đến cuối Di chúc, có 14 lần Bác nhắc chữ nhân dân.

Là nhà chính trị lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất, Bác thấm sâu truyền thống "lấy dân làm gốc" của các vị vua anh minh, nhân hậu trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mà người Anh hùng Nguyễn Trãi đã tổng kết "việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"; "chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân". Bác đề cao phẩm chất cao đẹp của nhân dân ta: "rất anh hùng, rất dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng". Nhưng với Bác, để thể hiện lòng yêu kính, biết ơn nhân dân, không thể là lời nói suông, dùng những tính từ hoa mĩ, mà phải thật sự hành động, chăm lo cả về vật chất và tinh thần, "không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân", để "cây đại thụ nhân dân" sâu rễ, bền gốc.

Trong phần viết bổ sung Di chúc vào tháng 5/1969, Bác đề nghị: Sau khi kết thúc chiến tranh, Nhà nước nên miễn thuế nông nghiệp một năm cho nông dân. Trước đó, trong một bài viết, Bác đã biểu dương kinh nghiệm của Quảng Bình dựa vào nhân dân để thực hiện chiến tranh nhân dân, khơi gợi sức mạnh của mọi người dân để góp sức "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Đã không ít lần, Bác căn dặn các cơ quan, đơn vị, địa phương: "Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nên cố gắng làm; việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng hết sức tránh". Bác viết câu ca dao có tính chất triết lý sâu xa: "Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân".

Đến đây, tôi càng hiểu vì sao năm 1950, các đồng chí lãnh đạo quân đội nhân dân xuất bản tờ nhật báo khổ rộng, xin ý kiến Bác đặt tên báo, Bác nói ngay: Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vậy nên đặt tên báo là báo Quân đội nhân dân. Sau này, nhiều đồng chí mới thấm thía vì sao Bác đề nghị ủy ban các cấp đều mang tên là ủy ban nhân dân; nhiều tờ báo mang tên nhân dân, như Công an nhân dân, Người đại biểu nhân dân, v.v… Riêng báo Nhân Dân, theo măng sét mới từ năm 1997, có thêm dòng thứ hai là: "Tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam".

Và một điều tưởng là nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất thiêng liêng, đó là khi Quốc hội khóa XIII thảo luận thông qua Hiến pháp 2013 (sửa đổi và bổ sung) đã nhất trí viết hoa chữ Nhân Dân trong đạo luật gốc của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

Vậy là, toàn bộ tư tưởng, tình cảm của Bác Hồ được thể hiện sâu sắc qua Di chúc, trong đó tư tưởng lấy dân làm gốc, đã, đang và mãi mãi soi sáng con đường xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phấn đấu sánh vai với các cường quốc năm châu - như tâm nguyện của Người từ trước lúc đi xa!

Ban biên tập

Trích bài viết của PGS.TS. Nguyễn Hồng Vinh-Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân đăng trên Tuyengiao.vn

 

06/08/2019 6:00 CHĐã ban hành
Những lời dạy của Bác Hồ đối với Công đoànNhững lời dạy của Bác Hồ đối với Công đoàn
Trong những năm 1920, cùng với quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã làm hết sức mình để giác ngộ và thức tỉnh giai cấp công nhân Việt Nam đến với phong trào đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc. Người luôn giành sự quan tâm sâu sắc đến quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động.

nhung-loi-day-a.jpg
Ảnh: Bác Hồ với thợ mỏ Quảng Ninh

Người cho rằng: Giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam cần phải có một tổ chức, đó là tổ chức Công hội. Người đã khái quát một số chức năng, nhiệm vụ của Công hội đó là: "Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình với nhau, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới"(1). Ngày 28-7-1929, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đã cử đồng chí Nguyễn Đức Cảnh triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam tiền thân của Công đoàn Việt Nam ngày nay.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu không chỉ là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, mà Người còn đặt cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thành lập và phát triển tổ chức Công đoàn Việt Nam – một tổ chức quan trọng đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.

Trong suốt quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng sau này, Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới từng bước đi, bước trưởng thành của Công đoàn Việt Nam. Người thường xuyên quan tâm đến công tác Công đoàn và phong trào công nhân lao động; dành nhiều thời gian để đi thăm, nói chuyện và chỉ dẫn về công tác Công đoàn tại các nhà máy, xí nghiệp, lâm trường… Trực tiếp Bác Hồ đã ký Sắc lệnh ban hành Luật Công đoàn, trong đó chỉ rõ mục đích của tổ chức công đoàn: "Công đoàn là phải cải thiện đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung"(2). ; đồng thời giao cho tổ chức công đoàn quyền quản lý, điều hành Quỹ bảo hiểm xã hội để duy trì hoạt động công đoàn và bảo đảm lợi ích thiết thực của người lao động.

Về nhiệm vụ của Công đoàn, trong chuyến thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên và học viên Trường cán bộ Công đoàn ngày 19-1-1957, Người nêu rõ 6 nhiệm vụ cơ bản là:

"1. Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chính sách chung của Đảng, vì Đảng mình là Đảng của giai cấp vô sản. Đường lối chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc. Bởi thế, Công đoàn phải hiểu để giải thích cho công nhân hiểu: Công nhân không có sự lãnh đạo của Đảng thì không làm cách mạng thành công được, không thắng lợi được. Vậy phải tuyên truyền sâu rộng chính sách chung của Đảng trong hàng ngũ giai cấp công nhân.

2. Công đoàn phải giáo dục cho công nhân về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng.

3. Công đoàn và cán bộ công đoàn phải học trước để hiểu biết khoa học.

4. Nội bộ công nhân phải đoàn kết, nhà máy này đoàn kết với nhà máy khác, cán bộ công nhân miền Nam và miền Bắc phải đoàn kết. Ta kháng chiến thắng lợi cũng nhờ đoàn kết. Ta xây dựng nền hòa bình thắng lợi cũng nhờ đoàn kết. Ta đoàn kết nội bộ công nhân đồng thời củng cố sự liên minh của công nhân và nông nhân là hai giai cấp lớn nhất, mạnh nhất.

5. Công đoàn và cán bộ công đoàn phải tìm cách này hay cách khác giải thích cho công nhân hiểu rõ tình hình trong nước và ngoài nước… phải giải thích cho họ hiểu. Nếu không họ sẽ hoang mang… Do hiểu được tình hình mà nâng cao tinh thần yêu nước của công nhân.

6. Công đoàn phải lãnh đạo, hướng dẫn công nhân. Lãnh đạo phải cụ thể, không quan liêu. Phải dân chủ bàn bạc với anh em công nhân. Phải kiểm tra. Làm mà không kiểm tra thì không biết kết quả ra sao, không hiểu sai lệch thế nào để kịp thời sửa chữa"(3).

Về cán bộ Công đoàn, Bác căn dặn: "Cán bộ công đoàn phải là người hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công nhân, viên chức, phải hiểu chính sách của Đảng, phải hiểu hiểu quản lí kinh tế, khoa học kỹ thuật…"(4); và trong công tác: "Cán bộ công đoàn phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc và bàn bạc với công nhân".

Về công tác Công đoàn, Người chỉ rõ tầm quan trọng của tổ chức công đoàn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội: "Muốn tổ chức và phát triển lực lượng xây dựng to lớn của giai cấp công nhân thì cần có Công đoàn mạnh và cán bộ công đoàn tốt"(5). Người yêu cầu công đoàn các cấp phải chủ động xây dựng quan hệ đoàn kết và phối hợp giúp đỡ nhau giữa các tổ chức và các ngành nghề; phải chống tư tưởng chờ đợi, ỷ lại và cục bộ; phải có kế hoạch bồi dưỡng các anh hùng và chiến sĩ thi đua để phát huy vai trò kiểu mẫu và tác dụng đầu tàu của họ; đối với anh em lao động trí óc và cán bộ khoa học kỹ thuật, phải có kế hoạch giúp đỡ họ không ngừng tiến bộ và đoàn kết; Công đoàn phải làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải thực sự chăm nom nơi ăn, nhà ở của công nhân viên chức. Công đoàn các cấp cần phải cải tiến lề lối làm việc, sâu sát và thiết thực".

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II, tháng 2-1961, Bác nhấn mạnh: "Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay… Nếu Công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng"(6). Và "Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân, phải tùy khả năng cộng với cố gắng mà nâng cao dần đời sống vật chất của họ; phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh…"(7).

Từ những lời dạy của Bác, tổ chức công đoàn các cấp đã không ngừng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, dấy lên nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao góp phần làm giàu cho đất nước. Trong những năm 1960, nhiều phong trào thi đua lớn đã được phát động mang lại những kết quả vô cùng to lớn như: Phong trào "Thi đua ái quốc", phong trào "Tăng gia sản xuất", "Tất cả cho tuyền tuyến", "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt", "Năng suất – chất lượng – hiệu quả", "Lao động giỏi", "Giỏi việc nước, đảm việc nhà", "Thi đua hai tốt"… đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử phong trào công nhân và lịch sử Công đoàn Việt Nam.

Làm theo lời dạy của Bác, tổ chức Công đoàn Việt Nam không ngừng phát triển và trưởng thành, trở thành điểm tựa cho đông đảo công nhân, viên chức, lao động của cả nước; Công đoàn Việt Nam đã thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy của Đảng và Nhà nước, là lực lượng đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục thực hiện "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" với khẩu hiệu: "Đổi mới, sáng tạo, vì lợi ích của đoàn viên, công nhân, viên chức lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước", "Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh, xứng đáng là giai cấp tiên phong, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".

——————–

(1)  Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập 2, trang 302. (2)  Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, Tập 8, trang 297. (3)  Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, Tập 8, trang 295, 296. (4)  Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập 12, trang 568. (5)  Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập 10, trang 586. (6) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập 10, trang 291. (7)  Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập 10, trang 291.

Gia Khánh

Nguồn Tạp chí Xây dựng Đảng

 

27/07/2019 10:00 CHĐã ban hành
Ghi nhớ lời Bác căn dặn về công tác Đền ơn đáp nghĩaGhi nhớ lời Bác căn dặn về công tác Đền ơn đáp nghĩa
Tình cảm thiêng liêng của Bác Hồ dành cho thương binh, liệt sỹ được thể hiện một cách nhất quán trong nhiều bài nói, bài viết, hành động và việc làm của Người. Chúng ta thế hệ hôm nay cần tổ chức học tập và làm theo để góp một phần làm cho công tác Đền ơn đáp nghĩa ngày càng đi vào chiều sâu và mang lại ý nghĩa, hiệu quả thiết thực.

Bac voi TBLS.jpg

Ảnh tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gương lớn về sự nêu gương truyền thống "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn"  đã được các thế hệ người Việt Nam chúng ta gìn giữ, phát triển theo suốt chiều dài lịch sử đất nước.

Phát huy truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc, động viên các đối tượng là thương binh, thân nhân các gia đình liệt sỹ.

Nhiều hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, các phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm sóc con liệt sỹ mồ côi, đi tìm hài cốt đồng đội, tu sửa, nâng cấp các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sỹ... ngày càng thu hút sự tham gia của toàn xã hội trong phạm vi cả nước.

Bác Hồ luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới những người có công với đất nước: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, liệt sỹ - những người đã cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm "Ngày thương binh" để nhân dân ta có dịp bày tỏ lòng hiếu kính đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và những người có công với đất nước.

Thực hiện chỉ thị của Người, tại Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, ban, ngành ở trung ương và địa phương đã họp ở xã Phú Minh (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) bàn bạc, đề nghị lấy ngày 27/7/1947 làm "Ngày thương binh, liệt sỹ". Và từ đó tới nay, ngày 27/7 hàng năm trở thành "Ngày thương binh, liệt sỹ" trong cả nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Máu đào của các liệt sỹ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sỹ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sỹ…".

Dù Người bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn luôn dành thời gian để quan tâm, thăm hỏi, động viên các đồng chí thương binh, liệt sỹ cùng gia đình họ.

Trong lá thư đầu tiên Hồ Chí Minh viết nhân dịp 27/7, Người nhấn mạnh đến mục đích cao cả này với những lời thống thiết: "Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sỹ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy".

Lòng thương người của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở sự đồng cảm với những người thân trong gia đình bị mất con, người thân vì hy sinh cho Tổ quốc, song rất đỗi tự hào vì được "Tổ quốc ghi công".

Xuất phát từ lòng thương người đã hình thành quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng giúp đỡ thương binh không mang ý nghĩa nhất thời mà phải lâu dài, cơ bản.

Tạo mọi điều kiện cho họ có khả năng hòa nhập tự nhiên, thích nghi với đời sống cộng đồng, có công cụ để hoạt động phù hợp với khả năng từng đối tượng, bảo đảm cuộc sống cho họ và gia đình.

Ngoài những việc làm nghĩa cử của bản thân, đối với thương binh, liệt sỹ, Người cũng nhấn mạnh: Để phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" trở thành một phong trào có sức lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, có hiệu quả và thiết thực, toàn Đảng, toàn dân phải vinh danh, ghi nhận công lao to lớn của thương binh, liệt sỹ và làm tốt hơn nữa công tác "Đền ơn đáp nghĩa".

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng của Người, Bác của chúng ta cũng đã có biết bao điều căn dặn:

"Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh".

Đối với các liệt sỹ, thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét".

Bản thân Bác cũng là tấm gương sáng về đền ơn, đáp nghĩa:

Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người tích cực đi đầu thực hiện công tác đền ơn, đáp nghĩa thương binh, liệt sỹ.

Ngay từ tháng 11/1946, Người đã ra thông báo về việc nhận con các liệt sỹ làm con nuôi, hàng năm đều có thư thăm hỏi động viên, khuyến khích thương binh, gia đình liệt sỹ.

Trong vòng 22 năm (1947-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 14 lần gửi quà, tiền nhân ngày thương binh, liệt sỹ.

Quà tặng thường là những đồ dùng thiết yếu (quần áo, khăn mặt, vải, thuốc men, chăn...) và tiết kiệm tiền lương gửi vào quỹ thương binh toàn quốc.

Việc làm của Người vừa thiết thực, vừa tạo thành một phong trào xã hội rộng lớn với nhiều hình thức phong phú và vô cùng cảm động đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

Ngọc Thuận

Nguồn sưu tầm

 

17/07/2019 2:00 CHĐã ban hành
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề
50 năm trước, trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đọc Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước anh linh của Người, trong đó có 5 lời thề nguyện.

50-nam-thuc-hien-di-chuc-cua-chu-tich-ho-chi-minh-nghi-ve-5-loi-the-1.jpg 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với đại biểu Thanh niên xung phong dự Đại hội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước toàn miền Bắc (tháng 1/1967). (Ảnh tư liệu: TTXVN)

50 năm trước, trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân Việt Nam, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đọc Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước anh linh của Người, trong đó có 5 lời thề nguyện mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng.

 Những ngày này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 50 năm ngày Bác mất và 50 năm thực hiện Di chúc của Người (1969-2019) thì 5 lời thề lại soi rọi, nhắc nhở.

Giáo sư, tiến sỹ triết học Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp, thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Viện Khoa học nghiên cứu nhân tài-nhân lực (ISSTH), người đã có hơn 40 năm nghiên cứu về cuộc đời, tư tưởng, sự nghiệp của Bác Hồ, cho biết ngày 9/9/1969, trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân Việt Nam, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đọc Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước anh linh của Người, trong đó có 5 lời thề nguyện hoàn thành Di nguyện của Hồ Chủ tịch để đưa đất nước tới thắng lợi cuối cùng.

 Suốt 50 năm qua, đất nước đã thực hiện nghiêm 5 lời thề: nén đau thương biến thành sức mạnh, quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Bắc Nam sum họp một nhà; kiên trì lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam; giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình; phát huy tinh thần quốc tế cao đẹp, làm tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nguyện học tập, làm theo đạo đức trong sáng, mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh với 4 chữ "cần-kiệm-liêm-chính."

 Giáo sư, tiến sỹ Hoàng Chí Bảo đánh giá lời thề thứ nhất và lời thề thứ hai đã được thực hiện xuất sắc. Lời thề thứ ba, vào lúc này là hết sức thiêng liêng và đang được Đảng hạ quyết tâm thực hiện, đẩy mạnh, coi là nhiệm vụ của mọi nhiệm vụ, then chốt của mọi then chốt.

 Trong Di chúc, Người nói là "Trước hết nói về Đảng," "trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng," "Đầu tiên là công việc đối với con người." Bác là người sáng lập ra Đảng. Người biết mọi chỗ mạnh, chỗ yếu của Đảng nên đặc biệt nhấn mạnh đến trọng trách lịch sử của Đảng, tính tiền phong gương mẫu và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, suốt đời chăm lo cho cuộc sống của dân, tận tụy trung thành với dân, với nước. Mong muốn của Bác là phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau và những công việc quan trọng khác.

 "Ba tháng trước khi mất, Người gửi thư cho Đảng bộ Nghệ An. Nội dung chỉ có 3 câu: Không được để dân đói, Không được để các cháu bỏ học. Từ chi bộ các thôn làng đến cơ quan lãnh đạo của Tỉnh ủy không được để xảy ra mất đoàn kết. Bây giờ nhìn lại thì thấy đâu phải Bác dạy mỗi Nghệ An mà Bác dạy chung cho toàn Đảng, cho tất cả chúng ta," giáo sư, tiến sỹ Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh.

 Theo giáo sư, tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, lời thề thứ tư đối với Người, chúng ta đã thực hiện suốt 50 năm qua và bây giờ đang tiếp tục thực hiện trong thời kỳ hội nhập.

 Lời thề thứ năm là lời thề về "đạo đức" và lời thề này sống động nhất hiện nay khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện "cần, kiệm, liêm, chính."

Về vấn đề đạo đức, Bác có 6 Điều dạy Công an là: "Với tự mình phải cần, kiệm, liêm chính. Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ. Với nhân dân phải kính trọng, lễ phép. Với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành. Với công việc phải tận tụy. Với kẻ địch phải cương quyết, khôn khéo."

 Sáu điều dạy ấy không chỉ dành cho công an mà cho toàn Đảng, toàn dân. Bác cũng đã dạy: Trời có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một phương thì không thành đất. Thiếu một đức thì không thành người. Phải đủ cả bốn đức mới là người vẹn toàn. Nhưng ở đời nhân vô thập toàn, không ai là hoàn toàn cả, ai cũng có cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Nếu muốn trở thành người vẹn toàn thì phải rèn luyện bản lĩnh cách mạng, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

 Chống chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng của Bác là chống lối sống vụ lợi, vị kỷ, lợi mình hại người, còn từng cá nhân phải vun trồng cho nó phát triển. Chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm. Giặc nội xâm còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm. Đấy là một triết lý về rèn luyện đạo đức, đó là lời căn dặn, nhắn nhủ trong việc rèn đạo đức. Chống giặc nội xâm, chống chủ nghĩa cá nhân là chống lại chính bản thân mình, chống lại những thói hư, tật xấu, những hư hỏng thoái hóa trong mình, cho nên sẽ có không ít sự đau đớn ở trong lòng.

 Bác bảo: Rèn đạo đức thì như giã gạo, nhưng dùng người thì tuyệt đối không dùng theo lối giã gạo, thấy tốt thì nhấc lên, đề bạt, bổ nhiệm, rồi không kiểm tra, giáo dục, giám sát, mắc lỗi lầm thì vùi dập xuống. Cứ nhấc lên đập xuống như vậy ba lần thì hỏng cả một đời cán bộ. Cho nên, phải nghiêm khắc mà bao dung; nghiêm khắc với khuyết điểm nhưng bao dung nhân ái để mở rộng đường cho con người hướng thiện và hoàn lương.

 Vừa qua, Bộ Chính trị Khóa XII có Chỉ thị số 05 về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh." Chỉ thị này đặt tấm gương đạo đức của Bác vào tổng thể tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người.

 Chúng ta đang nỗ lực thực hiện bằng được chủ trương lớn của Đảng. Đây là một chiến lược, là chìa khóa để trả lời câu hỏi Đảng có trong sạch, vững mạnh được hay không. Đây cũng là một cơ hội tốt để mỗi người chúng ta thật thà tự phê bình và phê bình, xem xét lại mình một cách nghiêm túc, thấy rõ những sai lầm để sửa chữa, thấy rõ những ưu điểm để phát huy thêm. Từ đó, tất cả mọi người đem lòng đoàn kết với tình thương yêu đồng chí, đồng loại và giúp nhau tiến bộ, vứt bỏ chủ nghĩa cá nhân để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như Bác Hồ vẫn hằng mong đợi. Đồng thời, đây là dịp để mỗi người Việt Nam biến những tư tưởng, tình cảm cao đẹp của mình thành những việc thiết thực, giáo sư, tiến sỹ Hoàng Chí Bảo khẳng định.

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

09/07/2019 1:00 CHĐã ban hành
Học theo Bác: Noi gương phải thực chất, không phải tạo ra hình ảnhHọc theo Bác: Noi gương phải thực chất, không phải tạo ra hình ảnh
Nêu gương phải thực chất, tránh hình thức, cố tạo ra hình ảnh, phải thật sự chân thực trong công việc.

di chuc.jpg 

Ảnh tư liệu: Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương cao đẹp, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ".

50 năm đã trôi qua, đọc lại Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người, đặc biệt là cán bộ đảng viên càng thấm nhuần lời dạy của Người, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, để không ngừng tự hoàn thiện mình. Nêu gương thật sự là tự tu dưỡng hướng tới những gì tốt đẹp, cao cả, cũng là sự phòng ngừa những sai phạm.

Nhiều năm qua, việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động của sự kính yêu Bác, niềm tin vào con đường và sự nghiệp cách mạng của Người, để mỗi người sống và làm việc tốt hơn.

Thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong 3 năm qua đã khen thưởng hàng chục vạn tập thể, cá nhân điển hình. Đáng chú ý, năm ngoái, tỉnh Bình Phước khen thưởng, biểu dương 787 tập thể, cá nhân ở các cấp; tỉnh Đồng Tháp khen thưởng, biểu dương 3 nghìn 610 tập thể, cá nhân...

Học tập và làm theo Bác, Giáo sư, bác sỹ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ đã nghiên cứu và có nhiều đóng góp to lớn cho nền y học nước nhà, mang tới sự kỳ diệu cho nhiều gia đình ở Việt Nam.

Chia sẻ quan điểm về y đức, Giáo sư, bác sỹ Nguyễn Thị Ngọc Phượng cho rằng: "Tôi nghĩ y đức như Bác Hồ dạy "lương y như từ mẫu". Lương y tức là thầy thuốc giỏi. Khi Bác Hồ dạy, "thầy thuốc giỏi phải tinh thông nghề nghiệp, phải kiến thức vững vàng, tay nghề lão luyện. Thầy thuốc như mẹ hiền thì không để đổ thừa là vì tôi kém mà tôi làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người dân".

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, sau ngày thắng lợi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng. Theo chỉ dẫn của Người, Đảng đã chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã đề ra những giải pháp toàn diện, đồng bộ để tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên sai phạm. Cùng với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, pháp luật, Đảng đã ban hành nhiều văn bản về trách nhiệm nêu gương, đặc biệt là quy định của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII.

Nêu gương của cán bộ, đảng viên là tỏ rõ sự biết ơn Bác, tự hào và nguyện làm theo Bác. Nêu gương về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao.

Thực hiện theo lời dạy của Người, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Hải Dương Nguyễn Mạnh Hiển cho rằng: Nêu gương về đạo đức, lối sống trong sáng; về bản lĩnh, trách nhiệm, niềm tin. Nêu gương phải thực chất, tránh hình thức, cố tạo ra hình ảnh, phải thật sự chân thực trong công việc, cuộc sống của mỗi người lãnh đạo phải bình dị, giản dị như cuộc đời của Bác.

"Muốn nêu gương, thì nói đi đôi với làm. Tôi chỉ tâm niệm 1 điều, mình nói cái gì thì mình làm cái đó cho chuẩn. Suy nghĩ và hành động phải đặt lợi ích chung lên trên hết, từ công tác cán bộ cho đến quá trình chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, nhất là phải có tư duy để sự phát triển chung của tỉnh tốt hơn. Mong muốn của tôi là Đảng phải mạnh, chính quyền phải hành động, nói đi đôi với làm", ông Nguyễn Mạnh Hiển nói.

Từ học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đến quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao là bước phát triển rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. 

Trách nhiệm nêu gương được đề cao, từ quy định của Đảng đến tự giác thực hiện của mỗi người là bồi đắp tính tiền phong của Đảng và phẩm chất cao quý của cán bộ, đảng viên, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. 

Mỗi người, từ chính công việc, cuộc sống nêu được gương tốt cũng là niềm tự hào của bản thân, để không ngừng tự hoàn thiện mình. Nêu gương thật sự là tự tu dưỡng hướng tới những gì tốt đẹp, cao cả, cũng là sự phòng ngừa những sai phạm.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: "Đọc Di chúc của Bác nghĩ về trách nhiệm  nêu gương, tôi nghĩ mỗi người làm đúng theo lương tâm, trách nhiệm của mình chắc chắn sẽ tạo chuyển biến tích cực theo quy định nêu gương tại Hội nghị Trung ương 8, chứ nếu 5 triệu Đảng viên mà cứ bình bình, không mang hết tâm huyết, nhiệt tình thực thi công việc thì sẽ chẳng tạo ra chuyến biến gì".

Học tập và làm theo theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành hành động tự giác, là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, ở mọi thời kỳ cách mạng, ở mọi công việc, mọi suy nghĩ và hành động.

Cuộc đời, sự nghiệp, tấm gương của Bác luôn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Càng yêu kính Bác, mỗi người càng phải ra sức nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện và hoàn thiện bản thân. Đặc biệt, luôn nhớ lời nhắc nhở của Người khi sinh thời: "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau", đó là lời khen chân thành của nhân dân và cũng là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Gia Khánh

Nguồn VOV.VN

 

03/07/2019 9:00 CHĐã ban hành
Chống "Tự chuyển hóa" về đạo đức, lối sống!Chống "Tự chuyển hóa" về đạo đức, lối sống!
Đạo đức cách mạng là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác Hồ viết nhiều tác phẩm cũng như bài nói, bài viết về vấn đề này như: "Sửa đổi lối làm việc", "Đạo đức cách mạng", "Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn", "Cần kiệm liêm chính", "Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh"...

hcm.jpg 

Đi sâu vào tâm tư của người dân thì đạo đức, lối sống luôn được các tầng lớp nhân dân trong xã hội quan tâm nhất trong giai đoạn cách mạng hiện nay và cả dòng chảy của thời đại, người dân cảm thấy bất an những điều tai nghe, mắt thấy về sự suy thoái, xuống cấp của một bộ phận cán bộ, đảng viên tiếp tay, bảo kê, mua quyền, mua chức, tham nhũng, hối lộ...

Với trình độ giác ngộ và dân trí ngày càng cao, không phải cứ nghe cán bộ nói là quần chúng sẽ làm theo mà người dân còn xem việc cán bộ làm. Bác Hồ đã chỉ ra rằng nhân dân chỉ quý mến những người có phẩm chất và tư cách đạo đức tốt, vì vậy muốn hướng dẫn họ thì mình phải làm mực thước "Cần phải có óc suy nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh... Phải thật thà nhúng tay vào việc" khi đó hỏi sao dân không nghe, không tin.

Để có một xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân dân thực sự được hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày càng giàu mạnh, bình đẳng, văn minh, hơn lúc nào hết lối sống mình vì mọi người, mọi người vì mình, phương châm và nguyên tắc sống "Nói thì phải làm" cần phải được thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm được như vậy thì việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mới thực sự đi vào cuộc sống.

Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, người dân biết được rất nhiều thông tin, nhất là các thông tin liên quan đến mặt trái của xã hội, trong đó có nhiều hiện tượng, vụ việc tiêu cực. Điều đó đã được người dân phản ánh lo ngại về đạo đức xã hội. Tuy nhiên, nếu nói rằng đạo đức xã hội gần đây xuống cấp hơn trước thì chúng ta phải có cái nhìn tổng thể hơn, trên nhiều khía cạnh, chỉ số, trong đó cũng phải đánh giá những hiện tượng tiêu cực trong mối quan hệ với sự biến đổi, phát triển nhiều mặt của đời sống xã hội, cũng không nên tách riêng hiện tượng tiêu cực để khẳng định ngay là xuống cấp nghiêm trọng. Thực tiễn trên là do chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng phát triển; lối sống, đạo đức của một số cán bộ khi thi hành công vụ thì thường vòi vĩnh "ra điều kiện", hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, học giả bằng thật khá phổ biến; trên bảo dưới không nghe, "trên có chính sách, dưới có đối sách", "phép vua thua lệ làng"... Thậm chí còn có người cho rằng cái thiếu nhất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay là lương tâm và cái thừa nhất là nói dối (báo cáo sai sự thật, giấu giếm và bao che khuyết điểm vi phạm, bưng bít và gây nhiễu thông tin...). Như vậy đã đến lúc đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự thật một cách nghiêm túc về vấn đề đạo đức, lối sống.

Trước tình trạng trên, Đảng ta đã chủ động, tích cực tìm các giải pháp nâng cao đạo đức cách mạng, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân. Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành Chỉ thị số 03-CT/TW về "Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" đã khẳng định đây là một chủ trương lớn, vừa đáp ứng yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Đặc biệt, Đảng ta đã ban hành và yêu cầu phải thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Để khắc phục tình trạng trên, phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống, nâng cao đạo đức cách mạng trong tình hình mới cần phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, trước mắt cần phải tập trung vào một số giải pháp chủ yếu: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI và khóa XII) và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" đi vào chiều sâu. Bên cạnh đó, cần phải xây dựng các chuẩn mực đạo đức, lối sống mới phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển. Mặt khác, không ngừng có giải pháp rèn luyện nâng cao đạo đức, lối sống mẫu mực của cán bộ, đảng viên; đồng thời phải xây dựng chuẩn mực đạo đức, lối sống chung của toàn xã hội và các thang giá trị, chuẩn mực đạo đức của từng giai tầng xã hội để mọi người ở vị trí, cương vị của mình có căn cứ, cơ sở, điều kiện tu dưỡng, rèn luyện. Cuối cùng là phải tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội. Trước hết là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức. Người đứng đầu phải là tấm gương sáng về đạo đức, lối sống để mọi cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và nhân dân noi theo.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bản tin Thông tin nội bộ số 02/2019 – Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An

                                                               

20/06/2019 11:00 CHĐã ban hành
Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt NamBác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam
Với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 94 năm qua báo chí cách mạng Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức; cũng như sự lớn mạnh chưa từng có của đội ngũ những người làm báo.

bac-ho-1.jpg

​Ảnh tư liệu 

Từ ngày Báo Thanh niên ra số đầu tiên 21/6/1925 đến tháng 8/1945, trong vòng 20 năm, hoạt động báo chí nước ta luôn gắn liền với cuộc vận động cách mạng của nhân dân. Sau bao năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước và sáng lập tờ Việt Nam độc lập, nhằm kêu gọi nhân dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp.

Hàng loạt tờ báo, tạp chí khác cũng được thành lập như Cứu quốc, Cờ giải phóng, Tạp chí Cộng sản và nhiều tờ báo ở các địa phương đã góp phần tuyên truyền đường lối cứu nước trong cán bộ, nhân dân.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, báo chí cách mạng được Đảng trao cho sứ mệnh tiên phong trong việc tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với quan điểm xuyên suốt: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đây cũng là mục tiêu, là tiêu chí quy định chức năng, nhiệm vụ; đồng thời cũng là môi trường phát triển của nền báo chí nước nhà.

Với Bác Hồ, mặc dù bận rất nhiều công việc của một vị Chủ tịch nước, nhưng Người vẫn luôn quan tâm đến sự phát triển của nền báo chí cách mạng. Nói về mục tiêu của báo chí cách mạng, trong phát biểu tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II (4/1959), Người chỉ rõ: "Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là đề tài thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là chống thực dân, đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó".

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2.000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Theo Người, giữa cách mạng và báo chí có sự thống nhất hữu cơ, bởi vì "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với một vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó, quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý".

Để thực hiện được chân lý đó, Người khẳng định: "Phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên, các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng". Tính tư tưởng cao của báo chí suy cho cùng chính là điều này.

Xuất phát từ mục đích hoạt động của nền báo chí cách mạng là vì dân và từ vai trò to lớn của báo chí đối với xã hội, Người nhắc nhở những người làm báo: "Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn". Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, Người khẳng định: "Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo", và "không riêng gì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân".

Cũng là để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, nên với Hồ Chí Minh, báo chí không chỉ là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể; mà còn là vũ khí sắc bén chống lại mọi biểu hiện phản động, tiêu cực đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước; báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp.

Trong bức điện gửi Hội Nhà báo Á Phi (ngày 24/4/1965), Người viết: "Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng". Với đội ngũ các nhà báo nước ta Người nhắc nhở: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén", "ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà", "cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu".

Trong cách thể hiện, Người cho rằng, để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối giữa các quốc gia, là phương tiện để các cộng đồng hiểu biết nhau hơn, "cho nên, làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết".

Theo tư tưởng đó, Đảng ta khẳng định: báo chí, một mặt phải chủ động, sáng tạo "làm tốt công tác thông tin đối ngoại, giúp cho cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thông tin kịp thời, đúng đắn về tình hình đất nước, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân ta". Mặt khác "không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ, nghề nghiệp, từng bước hiện đại hóa".

Thực tế đã chứng minh, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 94 năm qua báo chí cách mạng Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức; cũng như sự lớn mạnh chưa từng có của đội ngũ những người làm báo.

Đặc biệt, qua hơn 30 năm đổi mới, báo chí nước ta đã đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; là một trong những động lực trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Ban biên tập

Theo vanhoadoanhnghiepvn.vn

 

20/06/2019 11:00 CHĐã ban hành
Thực hiện Di chúc Bác Hồ: "Đoàn kết" - Đề tài thường trực của báo chíThực hiện Di chúc Bác Hồ: "Đoàn kết" - Đề tài thường trực của báo chí
Sự nghiệp vẻ vang của Đảng, của dân tộc 50 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, ở đó, có công đóng góp không hề nhỏ của báo chí Việt Nam. Bởi, vâng theo Di chúc của Người: "Đoàn kết" - Mãi là đề tài thường trực của báo chí. "Đoàn kết" - Báo giới Việt Nam luôn trong một nhà!

bac-ho-voi-bc.jpg 

Ảnh tư liệu

Năm mươi năm đã qua đi. Vậy mà, tôi không sao quên được 9 giờ, ngày 9/9/1969. Thời khắc ấy, tôi vừa bước chân lên phà Bến Gót, Việt Trì qua sông Lô sang Bến Hạc để về thôn Lạc Trung, xã Bình Dương ghi nỗi niềm của Anh hùng lâm nghiệp Nguyễn Văn Tần (cán bộ miền Nam tập kết) với Bác Hồ kính yêu khi Người về với thế giới người hiền. Đúng lúc ấy, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình được Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi qua sóng phát thanh, âm vang trên những chiếc loa ở đôi bờ bến sông. Không cầm được nước mắt, không kìm nổi tiếng nấc bởi giọng nghẹn ngào của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ Nhất đọc Di chúc của Bác và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: "Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!...". Tôi bật khóc. Mọi người òa khóc!...

Ngày tháng đau thương xé lòng ấy dần qua đi, nhưng lời Di chúc của Bác và 5 lời thề trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ ấy cứ thấm đẫm trong tôi từng câu, từng chữ về tình cảm của Người với non sông đất nước, với Đảng, với dân: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta" (Di chúc của Bác). Lời Người chắt ra từ tâm khảm, từ vô vàn niềm tin yêu với chúng ta và các thế hệ mai sau: "Đoàn kết là một truyền thống...!". Người nhắc: "Các đồng chí từ Trung ương đến các Chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình" (Di chúc của Bác). Đó là tư tưởng, là đạo đức, là văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Di chúc lịch sử - Tiếng lòng của Người thêm lần khắc họa: Bác của chúng ta là người Việt Nam đẹp nhất. Người luôn lấy con người làm trung tâm của mọi tư duy, làm chủ đích cho mọi hành động. Chân lý hiển nhiên với Người, vì con người luôn là nhân tố quyết định mọi thành bại của cách mạng.

Trong bài nói chuyện tại trường Đại học Nhân dân (ngày 8/12/1956), Người mượn câu mở đầu trong Tam tự kinh "Nhân tri sơ, tính bản thiện" làm tiêu đề cho bài nói, rằng: "Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân! Bản thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang. Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân"! Xuất phát từ quan điểm ấy, nên Người luôn dạy phương pháp làm việc cho cán bộ, đảng viên phải hết lòng vì dân.

Trong thư gửi các kỳ, tỉnh, huyện, làng ngày 17/10/1945, Người viết: "Nếu nước độc lập mà người dân không hạnh phúc tự do, độc lập cũng chẳng ý nghĩa gì. Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của nhân dân"... Người định ra phương cách làm việc rất rõ ràng cho cán bộ: "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta"!...

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người nhấn mạnh: Cán bộ phải có 5 đức tính căn bản: "Nhân - Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm"! Cán bộ, đảng viên phải mẫu mực, có tư cách, nêu cao tinh thần phê và tự phê. Phải luôn ý thức xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc!

Với những người làm báo là hội viên trong tổ chức Hội Nhà báo Việt Nam, Người dạy: "Đó là một tổ chức chính trị và nghề nghiệp. Nhiệm vụ của Hội Nhà báo là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghề nghiệp" (Đại hội II - Hội Nhà báo Việt Nam - 1959).

Quan điểm, tư tưởng, đạo đức nhất quán ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là đề tài, là chủ đề tư tưởng để khai thác, thể hiện trong tất cả các thể loại báo chí, các phương tiện thông tin, để góp sức cùng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc.

Bởi lẽ hiển nhiên, như lời Điếu mà đồng chí Lê Duẩn đọc: "Người dạy: Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí..."! Trong toàn bộ Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh là vấn đề Người đặc biệt quan tâm suốt cuộc đời hoạt động cách mạng.

 Đoàn kết thống nhất trong Đảng là tư tưởng nổi bật nhất ở Người. "Đoàn kết làm ra sức mạnh! Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta"! Trong đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc, Người coi đoàn kết là chiến lược để tập hợp lực lượng. Đoàn kết là chính sách, là mục tiêu, là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Đoàn kết là nền tảng để liên minh công - nông - trí thức. Đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của Đảng để phụng sự Tổ quốc. Khi gặp gỡ đồng bào, chiến sĩ, Người nhắc cán bộ đảng viên "Đó không phải là đoàn kết hình thức, giả tạo. Nó phải thể hiện trong tư tưởng, hành động".

Với nhân dân, Người căn dặn: "Dân ta phải nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!" Với tổ chức của Đảng, người chỉ rõ nguyên tắc đoàn kết để tạo ra sức mạnh, thì: "Phải thực sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ ý kiến của mình!" "Đảng viên phải nghiêm túc phê bình và tự phê bình. Đây là cách tốt nhất để phát triển và củng cố sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng. Đây cũng là quy luật phát triển Đảng" (Sách TTHCM-NXBCTQG) .

50 năm thực hiện Di chúc của Bác kính yêu và thực hiện Lời thề của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước anh linh Người, các hội viên nhà báo và báo giới Việt Nam luôn luôn tuân theo sự lãnh đạo và định hướng tư tưởng của Đảng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp Cách mạng của dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong đó, đoàn kết thống nhất trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng vì lợi ích dân tộc trở thành ý thức thường trực của các nhà báo, của các cơ quan báo chí. Nhận thức ấy đã thành tâm thức thường trực khi tác nghiệp, tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin và quyết định loan tin của nhà báo.

Quán triệt quan điểm đoàn kết thống nhất của Người, báo chí luôn luôn nêu cao đạo đức của Đảng, xây dựng cái tốt đẹp của Đảng cho con người, cho xã hội; quyết liệt đấu tranh, phê phán căn bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí; cá nhân chủ nghĩa, xa dân... mà lúc sinh thời Người chỉ danh chỉ diện là "giặc nội xâm"! Báo chí luôn góp sức tuyên truyền để Đảng ta thực hiện đúng Di chúc của Người: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân"!

Ở thời hội nhập, hơn lúc nào hết, nội bộ báo giới càng phải đoàn kết chặt chẽ, thống nhất trên nguyên tắc của Đảng. Coi trọng phê và tự phê trên tình đồng chí, thương yêu, giáo dục, bồi dưỡng lòng nhân ái cho nhau. Giúp nhau học tập nắm vững quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng trong từng thời kỳ để nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin.

Cho nên, báo giới có thể hãnh diện thưa với anh linh Bác kính yêu, rằng: 50 năm qua, thực hiện Di chúc của Người, báo giới Việt Nam đã làm tròn bổn phận là cơ quan ngôn luận của Đảng, là phương tiện thông tin đại chúng hữu hiệu của Nhà nước, là diễn đàn tin cẩn của nhân dân!

Báo chí đã tinh tường hơn, dũng cảm hơn, mạnh mẽ hơn, sâu sắc, đa chiều, tương tác hơn trong chỉnh đốn xây dựng Đảng vững mạnh về năng lực. Thẳng thắn phê phán những cán bộ đảng viên hư hỏng, vi phạm pháp luật; cá nhân, cơ hội chủ nghĩa, mất đoàn kết nội bộ, thoái hóa, biến chất; cục bộ, địa phương, phe nhóm lợi ích, thiếu công tâm. Đoàn kết đảng viên, đặc biệt là cấp lãnh đạo luôn là gương đẹp lan tỏa ra cộng đồng dân cư, nên luôn được báo chí coi trọng. Để Đảng thân yêu của chúng ta luôn thực hiện tâm nguyện: "Vĩnh biệt Người, chúng ta thề: Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi"!

Ban biên tập

Nguồn Báo tainguyenmoitruong.vn

20/06/2019 11:00 CHĐã ban hành
Đức Huệ lan tỏa việc học tập và làm theo gương BácĐức Huệ lan tỏa việc học tập và làm theo gương Bác
Thực hiện đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trên địa bàn huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xuất hiện nhiều gương điển hình với những việc làm cụ thể, thiết thực, gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao cũng như công việc hàng ngày, mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, xã hội.

 khen thuong HCM.jpg

Ảnh: Đại diện Chi hội Phụ nữ ấp Voi, xã Mỹ Thạnh Tây (thứ 3, trái qua) và Chi bộ ấp 1, xã Bình Hòa Nam (thứ 5, trái qua) nhận giấy khen của Chủ tịch UBND huyện vì có thành tích tiêu biểu trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW

Trong năm qua, tập thể Chi hội Phụ nữ (PN) ấp Voi, xã Mỹ Thạnh Tây có nhiều việc làm thiết thực, góp phần vào công tác an sinh xã hội ở địa phương. Chi hội vận động hội viên (HV) PN và một số nhà hảo tâm đóng góp trao tặng gạo, học bổng, tập sách cho con em HV có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tổng số tiền 12,5 triệu đồng; tặng 600kg gạo cho HV già neo đơn; tặng 100 phần quà và 140 suất gạo cho các gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo của xã.

Xuất phát từ ý tưởng giúp đỡ những bệnh nhân nghèo, Chi hội PN ấp Voi còn thực hiện mô hình Bữa cơm tình thương, hàng tháng hỗ trợ 100 phần cơm, tổng trị giá 48 triệu đồng cho bệnh nhân nghèo điều trị tại Trung tâm Y tế huyện.

"Chi hội còn vận động 25 triệu đồng xây dựng 1 cây cầu giao thông nông thôn tại ấp Voi, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và học sinh trong việc đi lại. Điều cảm động nhất là dù cuộc sống còn bộn bề lo toan nhưng với tấm lòng sẻ chia, các chị em trong chi hội vẫn âm thầm giúp đỡ những mảnh đời kém may mắn hơn mình trong xã hội" - bà Trần Thị Thu - Chủ tịch Hội Liên hiệp PN xã Mỹ Thạnh Tây, chia sẻ. 

Với quan điểm, muốn nói dân nghe thì phải nghe dân nói, Chi bộ, Ban Công tác Mặt trận ấp 1, xã Bình Hòa Nam tuyên truyền, vận động và công khai, minh bạch các khoản đóng góp nên người dân đồng thuận cao khi triển khai thực hiện các phong trào do địa phương phát động.

Cụ thể, thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", nhờ sự tuyên truyền, vận động của Chi bộ, Ban Công tác Mặt trận ấp, người dân địa phương tích cực góp tiền và ngày công lao động trị giá trên 1,7 tỉ đồng rải đá xanh tuyến đường cặp kênh Tư Lơ dài khoảng 1,5km; hiến đất với tổng trị giá trên 600 triệu đồng để làm tuyến đường Dòng Thủ Tính 2 dài khoảng 1km.

Ngoài ra, người dân trong ấp còn đóng góp kinh phí xây dựng cầu kênh Lò Đường, nạo vét và làm đê bao tuyến kênh Hoàng Thủy với tổng kinh phí hơn 830 triệu đồng. Chi bộ, Ban Công tác Mặt trận ấp 1 còn vận động người dân lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng trên đoạn đường dài 1km cặp tuyến Đường tỉnh 816, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự địa phương.

Phó Bí thư Chi bộ ấp 1 - Phan Tấn An chia sẻ: "Ấp còn tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp.

Các đoàn thể ấp vận động HV, người dân thay đổi tập quán sản xuất, áp dụng khoa học - kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng nông sản. Đồng thời tạo điều kiện cho HV, người dân tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển sản xuất, giảm nghèo, cải thiện cuộc sống,...".

Trên địa bàn huyện còn rất nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo gương Bác, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi và có sức lan tỏa sâu, rộng trong đời sống.

Đó là những nông dân "tay lấm chân bùn" nhưng tìm tòi sáng tạo trong lao động, sản xuất, chủ động trong tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật để nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện thu nhập cho gia đình.

Hay những thầy, cô giáo tận tụy với nghề, tận tâm với học sinh, tận tình giúp đỡ đồng nghiệp cùng tiến bộ. Đó còn là những y, bác sĩ luôn nêu cao y đức, lấy nụ cười của bệnh nhân làm tiêu chí trong khám và điều trị bệnh, xứng đáng với lời dạy của Bác: "Lương y như từ mẫu"; những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vừa hồng, vừa chuyên, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc, ra sức phục vụ nhân dân; những người hết lòng vì cộng đồng, chăm lo công tác an sinh xã hội, giàu lòng nhân nghĩa, góp phần làm đẹp cho đời,...

Dù mỗi cá nhân, tập thể có một việc làm, mô hình học tập và làm theo gương Bác khác nhau nhưng đều thể hiện được trách nhiệm, tấm lòng của mình trong quá trình xây dựng, phát triển của địa phương./.

Hồng Luyn

 

20/06/2019 10:00 CHĐã ban hành
Báo chí cách mạng việt nam - Cội nguồn, đặc trưng, trọng tráchBáo chí cách mạng việt nam - Cội nguồn, đặc trưng, trọng trách
Cuối năm 1924, khi về đến Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc chuẩn bị xuất bản một tờ báo chính trị, đồng thời mở những lớp huấn luyện các thanh niên ưu tú đưa từ trong nước sang để làm nòng cốt cho cách mạng sau này. Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí là học trò của Người thực hiện công việc trọng đại này trên căn gác nhỏ thuộc khu phố buôn bán sầm uất ở trung tâm Quảng Châu. Căn gác này cũng là nơi thành lập và là trụ sở của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.

bac ho.jpg 

Ảnh tư liệu: Bác Hồ với các phóng viên báo chí

Tại thời điểm này, các số báo Thanh niên được thực hiện, nhân ra trên những bản bằng giấy sáp, rồi được chuyển bí mật về nước. ở Việt Nam, tờ báo Thanh niên được các cơ sở cách mạng chép tay thành nhiều bản rồi chuyền tay cho các đồng chí của mình đọc và truyền đạt tới nhân dân.

Số đầu tiên của tờ Thanh niên, cơ quan của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được xuất bản ngày 21/6/1925 và tiếp tục xuất bản đều đặn hàng tuần. Với gần 90 số, báo Thanh niên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử: Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong nhân dân ta, góp phần tích cực chuẩn bị về mặt lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra một dòng báo chí mới - Báo chí cách mạng Việt Nam.

Sau báo Thanh niên, Nguyễn ái Quốc lập ra báo Kông Nông (1926), Báo Đường Kách Mệnh (1927). Ngày 1/10/1929, báo Búa Liềm - cơ quan ngôn luận của Đông Dương Cộng sản Đảng ra số đầu tiên. Tháng 8/1929, chi bộ An nam Cộng sản ở Thượng Hải ra báo Đỏ viết tay trên giấy sáp. Kể từ tờ Thanh niên mở đường đến cuối năm 1929, báo chí cách mạng Việt Nam đã có trên 50 tờ báo và tạp chí là cơ quan của các cấp hội của Hội Việt Nam thanh niên cách mạng và 2 tổ chức Cộng sản là: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng.

Ngày 3/2/1930, tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn ái Quốc đã thông qua một nghị quyết về báo chí. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, vấn đề Đảng Cộng sản lãnh đạo là vấn đề tự thân của báo chí, đặc biệt ở một nước mà lịch sử lựa chọn sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện sự nghiệp vĩ đại: Giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, tiến đến CNXH như ở nước Việt Nam ta.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng Việt Nam từ tờ báo đầu tiên - báo Thanh niên xuất bản ngày 21/6/1925 - qua mỗi thời kỳ cách mạng đều có sự phát triển mạnh mẽ, đến nay là một hệ thống quốc gia các cơ quan thông tin đại chúng gồm nhiều loại hình, ở nhiều cấp, thuộc nhiều cơ quan chủ quản, xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng các dân tộc thiểu số, bằng ngoại ngữ, với những chức năng và nhiệm vụ hết sức đa dạng, nhằm nhiều loại đối tượng và sử dụng nhiều công nghệ hiện đại.

Trong lịch sử phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam đã có những cống hiến to lớn vào lịch sử đấu tranh và phát triển của dân tộc ta; thể hiện tập trung vào những cống hiến nổi bật sau:

Thứ nhất, là người tuyên truyền, cổ động, tổ chức tập thể việc thực hiện cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, báo chí cách mạng Việt Nam đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh CNH-HĐH, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thứ hai, là một bộ phận rất quan trọng của văn hóa Việt Nam, báo chí cách mạng Việt Nam cùng với văn học, nghệ thuật đã có những cống hiến xuất sắc trong việc hiện đại hóa và thống nhất ngôn ngữ Việt Nam; truyền bá hệ giá trị văn hóa Việt Nam thông qua các tác phẩm báo chí và các tác phẩm văn học, nghệ thuật, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và bồi dưỡng con người mới Việt Nam.

Thứ ba, là phương tiện giao lưu nhanh chóng và hiệu quả, báo chí cách mạng Việt Nam đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao vị thế và mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam, đang góp phần thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập quốc tế.

Tự hào về những thành tựu mà báo chí cách mạng Việt Nam đã đạt được trong hơn 90 năm qua, để hiểu sâu sắc quá trình phát triển và nhất là cắt nghĩa cội nguồn tính chất cách mạng kiên định và nhất quán của báo chí cách mạng Việt Nam. Tác phẩm "Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925 - 2010)" đã chỉ rõ:

- Báo chí cách mạng Việt Nam bắt nguồn trước hết từ khuynh hướng yêu nước dân chủ trong báo chí hợp pháp, đặc biệt từ khi báo chí quốc văn ra khỏi giai đoạn phôi phai, nặng chất công báo để dần dần trở thành hệ thống báo chí với đầy đủ những đặc trưng của các cơ quan thông tin ngôn luận như: Xuất bản định kỳ, lưu hành rộng rãi, có độc giả ổn định, có đội ngũ người làm báo chuyên nghiệp…

- Trong cội nguồn nội tại, có thể gọi là truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam, một nguồn rất quan trọng chính là thơ văn yêu nước và cách mạng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đó là những sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Đoàn Hữu Trưng, Nguyễn Xuân Soạn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thượng Hiền…(cuối thế kỷ XIX) và của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Trần Quí Cáp, Đỗ Quang Cơ…(đầu thế kỷ XX). Những tác phẩm báo chí, thơ văn yêu nước và cách mạng, hoặc được công bố qua các phương tiện thông tin, hoặc lưu truyền qua nhiều kênh khác đều là cội nguồn trực tiếp và nội tại của báo chí cách mạng Việt Nam.

- Báo chí cách mạng Việt Nam còn bắt nguồn từ báo chí cách mạng, dân chủ và tiến bộ thế giới, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền báo chí ấy, nhưng vẫn giữ được đậm đà tính chất dân tộc.

Lịch sử hơn 90 năm báo chí cách mạng Việt Nam đã thể hiện nổi bật một số đặc trưng chủ yếu sau:

Một là, báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí kiểu mới, do tổ chức cách mạng là Đảng Cộng sản tổ chức, lãnh đạo; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng chính trị tư tưởng. Đó là nền báo chí của nhân dân, vì lợi ích cao cả của nhân dân mà hoạt động, chịu sự giám sát của nhân dân. Lý tưởng, mục tiêu, tôn chỉ cao nhất của báo chí cách mạng Việt Nam là góp phần vào sự nghiệp đấu tranh lật đổ ách thống trị thực dân, phong kiến, xóa bỏ các hình thức bóc lột, giành độc lập dân tộc, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân; xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước theo hướng XHCN. Từ mục tiêu, tôn chỉ, báo chí cách mạng Việt Nam có tính khuynh hướng dứt khoát, có lập trường chính trị kiên định, tính chiến đấu cao luôn đi tiên phong trong mọi phong trào.

Hai là, báo chí cách mạng Việt Nam không đồng nhất, không chỉ là báo chí của Đảng. Có những tờ báo, tạp chí là của Đảng, do tổ chức Đảng trực tiếp điều hành. Có những cơ quan thông tin đại chúng trực thuộc các ngành hành pháp, tư pháp, lập pháp, có báo chí là của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức nghề nghiệp, tôn giáo, văn hóa thành lập và quản lý. Báo chí cách mạng Việt Nam ngày nay là một hệ thống quốc gia các cơ quan thông tin đại chúng gồm nhiều loại hình ở nhiều cấp, thuộc nhiều cơ quan chủ quản, xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng các dân tộc thiểu số, bằng ngoại ngữ với những chức năng, nhiệm vụ hết sức đa dạng nhằm nhiều loại đối tượng và sử dụng nhiều công nghệ hiện đại.

Ba là, trong hệ thống quốc gia ấy, mỗi cơ quan báo chí xác định tôn chỉ, mục đích nhiệm vụ đặc thù của mình, nhưng tất cả đều mang tính chất chung được gói gọn trong sáu chữ: Thông tin, ngôn luận, diễn đàn. Tính chất chung này đã được pháp điển hóa tại Luật Báo chí Việt Nam…

Bốn là, người làm báo cách mạng trước hết là người hoạt động cách mạng bằng phương tiện báo chí; thông qua hoạt động báo chí để tuyên truyền, cổ động, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước. Nhà báo là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng. Do đó, cán bộ, phóng viên báo chí phải thực sự giác ngộ và kiên định chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, có đạo đức, phong cách của người làm báo cách mạng…

Hoạt động báo chí trong thời kỳ mới đứng trước thời cơ lớn và thách thức lớn. Trên cơ sở một nền kinh tế ngày càng phát triển, dân trí ngày càng cao, nhu cầu văn hóa, tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng, Đảng và Nhà nước coi trọng lãnh đạo phát triển văn hóa, (trong đó có báo chí) ngang hàng với phát triển KT - XH. Do đó, báo chí sẽ tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Cuộc cạnh tranh giữa các loại hình báo chí, giữa báo chí trong nước và báo chí nước ngoài sẽ ngày càng gay gắt. Bên cạnh hệ thống báo chí truyền thông hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của báo điện tử và các loại truyền thông đa phương tiện khác, chắc chắn sẽ có nhiều hình thức thông tin đại chúng mới ra đời mà hiện chúng ta chưa dự báo đầy đủ diện mạo, công năng, đặc trưng phương thức hoạt động của chúng. Do đó, dù gia đình báo chí bao gồm các loại hình cũ, mới có phong phú, đa dạng đến đâu thì chung quy báo chí vẫn là hoạt động văn hóa tinh thần của con người. Báo chí không thể thoát ly ngôn ngữ và văn tự, cái vỏ vật chất và phương tiện truyền tải, truyền bá, lưu giữ tư duy con người. Công nghệ và hình thức báo chí có thay đổi đến đâu thì vẫn giữ nguyên bản chất báo chí với tư cách là phương tiện chính trị - văn hóa - tư tưởng, có nhiệm vụ cao quý phục vụ lợi ích của nhân dân. Chất lượng của báo chí vẫn chủ yếu được quyết định bởi trí tuệ, tài năng và đạo đức của người làm báo - chiến sỹ trên mặt trận chính trị tư tưởng - văn hóa. Nhà báo vẫn phải không ngừng rèn luyện, giữ vững bản lĩnh chính trị, luôn nêu cao trách nhiệm cao quý của mình trước Đảng, trước nhân dân và toàn xã hội.

Trong thời kỳ mới, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, truyền thông, trong sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình báo chí, các cơ quan báo chí cần phải đẩy mạnh phát triển kinh tế báo chí, nhưng dứt khoát không được sa vào xu hướng tư nhân hóa, thương mại hóa, sa vào nguy cơ suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Các cơ quan báo chí và những người làm báo Việt Nam luôn kiên định, vững vàng trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình, vượt qua những nguy cơ, thách thức, thực hiện thắng lợi trọng trách vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam.

Ban biên tập

Trích theo Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam

 

13/06/2019 12:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ
Chịu trách nhiệm chính:​  Ông Lê Văn Nên - PCT.UBND huyện. ​
Địa chỉ: ​Khu phố 2 thị trấn Đông Thành huyện Đức Huệ, Long An.
Điện thoại : (072) 3854230​ * Fax: (072) 3854771 ​ * Email: bbtduchue​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​