Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHọc tập làm theo lời Bác

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 187136
 
Học tập làm theo lời Bác - Học tập làm theo lời Bác
 
Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Chúng tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, chúng phải thả. Nhưng trước khi thả, chúng giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, chúng trải hình Bác dưới đất và bảo: "Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!". Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.  
 
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh nêu gương là một phương thức lãnh đạo của Đảng và thành phần cốt yếu của văn hóa Đảng. Thấm nhuần tư tưởng ấy của Người, Đảng ta luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.  
 
Từ ý nghĩa to lớn của bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đội ngũ cán bộ ngành Y tế, ngày 6-2-1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27-2 hằng năm làm "Ngày Thầy thuốc Việt Nam". Kể từ đó, ngày 27-2 đã trở thành Ngày truyền thống của ngành Y tế.  
 
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng.  
 
Trong cuộc sống cũng như trong công việc, Bác có phong độ ung dung, thư thái, khẩn trương nhưng không vội vàng. Hôm xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ (năm 1964), tôi đang chuẩn bị theo Bác sang đọc tin bên nhà sàn thì đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi điện cho Bác. Cuộc báo cáo ngắn xong, Bác bình thản ung dung trên đường sang nhà sàn. Buổi làm việc vẫn diễn ra bình thường.  
 
Ngày 14/02/2020, Đảng ủy xã Bình Hòa Hưng tổ chức hội nghị học tập, quán triệt chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Tham dự buổi học tập có 85 đảng viên thuộc Đảng bộ xã, 5 đảng viên Ban Quản lý Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An.  
 
​ MỞ ĐẦU Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, đây cũng là nội dung và giải pháp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, nhằm phát huy sức mạnh nội lực, tạo động lực cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước trong bối ... 
 
Vừa qua sáng ngày 06/02/2020, Đảng ủy xã Mỹ Thạnh Bắc tổ chức hội nghị học tập, quán triệt chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".  
 
Trong những dịp tiếp xúc với quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên, trong hoàn cảnh kháng chiến cũng như trong hoà bình, nhất là những khi nói đến công cuộc xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, dường như bao giờ Người cũng đề cập đến vấn đề sức khoẻ, đến giữ gìn vệ sinh - một biện pháp đơn giản, phổ cập và quan trọng của hoạt động y tế, theo phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh.  
 
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về đảng cộng sản-đảng cách mạng chân chính theo học thuyết đảng kiểu mới của Lênin và đảng cộng sản cầm quyền có một vị trí nổi bật, có vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Miền Nam hướng về Bác kính yêuMiền Nam hướng về Bác kính yêu
          Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Chúng tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, chúng phải thả. Nhưng trước khi thả, chúng giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, chúng trải hình Bác dưới đất và bảo: "Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!". Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.

Hay như những năm 1955 - 1956, sau khi Mỹ - ngụy dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất khốc liệt. Thế mà hai ngày 1-5 của năm 1955 và năm 1956, hàng triệu quần chúng tập hợp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn, đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!.

Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng dịch tạm chiếm. Ở Viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (tỉnh Trà Vinh), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Cà Mau). Nhiều trí thức Công giáo như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở Sài Gòn…

Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho trước khi Đồng khởi, có chi bộ bị chúng bắn chết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gửi bức thư đó cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó.

Sau đó, Xứ ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch - ta và góp ý kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ xây dựng đề cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15 rất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị quyết 15 là phong trào bật lên.

Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta cho đến ngày nay.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bác Hồ với miền Nam - miền Nam với Bác Hồ,

Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1986.


28/03/2020 8:00 CHĐã ban hành
Để làm tròn trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viênĐể làm tròn trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh nêu gương là một phương thức lãnh đạo của Đảng và thành phần cốt yếu của văn hóa Đảng. Thấm nhuần tư tưởng ấy của Người, Đảng ta luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

​Chủ trương của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Thực hiện trách nhiệm nêu gương là một trong những nội dung chủ đạo, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Người từng dạy: "Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành, Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công". Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người nói chung, đặc biệt là con người phương Đông nói riêng coi trọng thực tiễn hơn lý thuyết. Chính vì thế, Người nhắc nhở đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua Đảng ta rất coi trọng công tác rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu trong mọi hoạt động công tác. Đảng đã kịp thời ban hành nhiều quy định, nghị quyết về thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, điển hình như: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về "Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương".

Nhờ sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhất là thông qua 3 quy định trên, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên bước đầu đã đạt được kết quả tích cực, thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, về tư tưởng chính trị: Đa số cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo, đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu trong việc thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhận diện và tham gia đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Thứ hai, về đạo đức, lối sống: Nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đã tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện các bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; qua đó, tạo được sự chuyển biến bước đầu trong nhận thức và nêu cao tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có thái độ chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương, cán bộ chủ chốt và người đứng đầu là tấm gương sáng về sự khiêm tốn, giản dị; có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Việc thực hiện các quy định về nếp sống văn minh, văn hóa công sở… đã có nhiều tiến bộ.

Thứ ba, về tự phê bình và phê bình: Nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần xây dựng, cầu thị, tự giác. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục được tình trạng độc đoán, chuyên quyền hoặc dân chủ hình thức.

Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đã xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân trong khuyết điểm của tập thể.

Thứ tư, về quan hệ với nhân dân: Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân để có hướng xử lý phù hợp.  Một số cấp ủy và chính quyền đã có những cách làm hiệu quả như tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo cấp ủy, chính quyền với nhân dân; ban hành quy định về việc các đồng chí tỉnh ủy viên, các đồng chí cấp phó sở, ban, ngành đi công tác cơ sở và dự sinh hoạt chi bộ; định kỳ bí thư cấp ủy cấp huyện giao ban với các bí thư, trưởng thôn, bản, trưởng ban công tác mặt trận thôn, bản… để kịp thời lắng nghe những vấn đề phát sinh từ cơ sở; phát huy vai trò đại biểu dân cử trong việc tiếp xúc cử tri; xây dựng chương trình đối thoại trên các phương tiện thông tin đại chúng; công bố số điện thoại đường dây nóng, số điện thoại cơ quan, đơn vị để nhân dân phản ánh kịp thời về tinh thần, trách nhiệm, thái độ thực thi nhiệm vụ và phục vụ nhân dân… Qua đó, vừa nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp thu được ý kiến của nhân dân, giải quyết các vụ, việc bức xúc, phức tạp, vừa kịp thời chấn chỉnh thái độ, phong cách giao tiếp, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, về trách nhiệm trong công tác: Thông qua thực hiện các quy định, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp chung, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ do tổ chức phân công; thực thi công vụ bảo đảm nguyên tắc, kỷ cương, hoàn thiện các quy trình, đổi mới cách làm, tận tụy với công việc; xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, đạo đức công vụ, nhất là về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.

Thứ sáu, về ý thức tổ chức kỷ luật: Đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong chi bộ, cơ quan, đơn vị; tuân thủ sự phân công, điều động của tổ chức; gương mẫu thực hiện chế độ sinh hoạt Đảng và các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị và địa phương.

Thứ bảy, về đoàn kết nội bộ: Ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên đã tích cực tham gia xây dựng đoàn kết nội bộ trong tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội. Nhiều cán bộ chủ chốt là tấm gương trong đoàn kết, tạo môi trường làm việc dân chủ, hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; tích cực đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, cục bộ, bè phái. Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương khi phát hiện có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, người đứng đầu đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu, nắm bắt thông tin từ nhiều nguồn để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Một số hạn chế, khuyết điểm

Một là, một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu, thậm chí cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Vẫn còn tư tưởng cho rằng việc nêu gương là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên có chức vụ. Tình trạng ngại đọc, lười học, lười nghiên cứu lý luận chính trị vẫn còn phổ biến. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung chủ yếu vào đảng viên có chức vụ. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt thiếu gương mẫu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, với các biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, trục lợi; lạm dụng tài sản công (công quỹ, xe công, nhà công vụ…); lãng phí trong công tác và sinh hoạt, tiêu dùng xa xỉ, cờ bạc, tiệc tùng xa hoa; thiếu minh bạch trong kê khai thu nhập, tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, không thực sự sâu sát cơ sở, chưa kịp thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị chưa được giải quyết kịp thời, vẫn còn cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt, ngại khó khăn, gian khổ, đùn đẩy, né tránh, không sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được tổ chức phân công.

Hai là, vẫn còn tình trạng vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm nêu gương. Tinh thần, trách nhiệm của nhiều cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa mạnh dạn, chưa thẳng thắn, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, không dám nhận khuyết điểm, sai phạm của mình. Trong đấu tranh còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va phạm, ngại góp ý với đồng chí, đồng nghiệp, nhất là khi phê bình người đứng đầu. Vẫn còn tình trạng lợi dụng phê bình để xu nịnh, lấy lòng, thổi phòng thành tích hoặc nói xấu, cường điệu khuyết điểm, hạ thấp uy tín của nhau.

Ba là, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định nêu gương của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thường xuyên, nghiêm túc, chủ yếu là lồng ghép với kiểm tra, giám sát các nghị quyết, quy định, chỉ thị khác. Nhiều vi phạm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, chủ yếu do cấp trên kiểm tra, giám sát phát hiện hoặc do đơn, thư tố cáo, phản ánh, kiến nghị, góp ý của đảng viên, nhân dân và báo chí. Việc xử lý vi phạm ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa nghiêm, tính răn đe chưa cao.

Bốn là, công tác sơ kết, đánh giá việc thực hiện quy định nêu gương còn nhiều hạn chế. Hàng năm không có báo cáo riêng về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Việc phát hiện, xây dựng gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến và tổng kết mô hình mới, cách làm hay để nhân rộng và biểu dương, khen thưởng chưa kịp thời.

Một số bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, nêu gương là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng. Tất cả đảng viên phải có trách nhiệm nêu gương, cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu, đặc biệt khi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiên phong, gương mẫu sẽ tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, làm xoay chuyển tình hình theo hướng tích cực trong toàn hệ thống chính trị.

Thứ hai, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền, quán triệt, tổ chức thực hiện quy định nêu gương có vai trò quan trọng và tác động sâu sắc tới nhận thức, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Thứ ba, ý thức trách nhiệm, tinh thần gương mẫu của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị có ý nghĩa quyết định. Nơi nào người đứng đầu nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiên phong gương mẫu, nói đi đôi với làm thì nơi đó việc thực hiện nêu gương đi vào thực chất, hiệu quả.

Thứ tư, thực hiện quy định nêu gương phải kết hợp giữa "xây" và "chống"; động viên, biểu dương, nhân rộng những điển hình tiên tiến, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Thường xuyên kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện.

Thứ năm, việc nêu gương phải thể hiện bằng những hành động cụ thể, thiết thực gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao của từng cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời, coi trọng công tác sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm.

Thứ sáu, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân là hết sức quan trọng trong kiểm tra, giám sát thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Giải pháp để phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên          

Để phát huy trách nhiệm tự giác, tích cực nêu gương của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện tốt các công việc sau:

Một là, nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên; phải nhận thức rằng nếu cán bộ, đảng viên mà không nêu gương thì không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên nữa.

Hai là, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm nêu gương trước quần chúng nhân dân; từ đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, trước hết là phải quán triệt mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải có nhận thức đúng và quyết tâm hành động; phải có mối quan hệ tốt với nhân dân theo những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; không biến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ thành quan hệ kinh tế vì lợi ích cá nhân hay lợi ích cục bộ của cơ quan, đơn vị… Tổ chức đảng, cơ quan quản lý Nhà nước có quy định cụ thể, lấy tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân làm thước đo chuẩn mực đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng Đảng. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là phải tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và phong cách công tác. Nhưng để trách nhiệm nêu gương đó được thực hiện tốt cần có sự chuyển động từ hai phía: cán bộ, đảng viên và cấp ủy Đảng.

Với cấp ủy, người lãnh đạo: phải thực hành dân chủ rộng rãi trong tổ chức Đảng, tổ chức tốt việc tự phê bình và phê bình như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc thiêng liêng. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải thực sự gương mẫu, tôn trọng nguyên tắc sinh hoạt đảng, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên… có như vậy mới phát huy được tính tích cực, tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên.

Với cán bộ, đảng viên: phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn; tham gia vào các quá trình xây dựng đường lối chính trị; góp phần triển khai đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân; đấu tranh bảo vệ đường lối chính trị đúng đắn, kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với cộng đồng, gia đình và xã hội. Duy trì và tự giác thực hiện các truyền thống tốt đẹp, các chuẩn mực đạo đức trong gia đình, có lối sống mực thước, nêu gương trong học tập, lao động, sản xuất, công tác, người trên làm gương cho người dưới, thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau, cán bộ, đảng viên nêu gương trước quần chúng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi người đều có trách nhiệm xây dựng cộng đồng làng, xã, cơ quan mình trong sạch, vững mạnh. Phải luôn luôn đoàn kết, tôn trọng và bảo vệ cộng đồng; bảo vệ những tập quán truyền thống tốt đẹp; có ý thức cộng đồng, ý thức về cội nguồn, đạo lý uống nước nhớ nguồn; tôn trọng những quy tắc ứng xử của cộng đồng; lên án những hành vi xâm hại lợi ích chung, xâm hại đến lợi ích của thành viên trong cộng đồng.

Năm là, xác định rõ trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng vị trí công tác. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống qua xác định trách nhiệm chung với Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình chỉ có tác dụng tích cực khi xác định rõ trách nhiệm nêu gương cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên. Để mỗi người đều thấy rõ trách nhiệm với chính mình, tự mình phải rèn luyện đạo đức cách  mạng, coi đó là nhiệm vụ không thể thoái thác, tự thân… cần xác định rõ nghĩa vụ và quyền lợi trên mỗi cương vị công tác. Đó là trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể.

Phẩm chất chính trị, đạo đức của mỗi người cán bộ, đảng viên được thể hiện trong sự tôn trọng bản thân, thể hiện trong các mối quan hệ với chính mình, với người và với việc, trong đó với chính mình là rất quan trọng. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi người thể hiện qua trách nhiệm với công việc được giao. Mọi công việc phải làm cho đến nơi, đến chốn, làm cho kỳ được với tinh thần "việc thiện thì nhỏ

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - số 936 (2-2020)

 

07/03/2020 1:00 CHĐã ban hành
Định hướng chiến lược trong thư Bác gửi cho cán bộ ngành Y tếĐịnh hướng chiến lược trong thư Bác gửi cho cán bộ ngành Y tế
Từ ý nghĩa to lớn của bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đội ngũ cán bộ ngành Y tế, ngày 6-2-1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27-2 hằng năm làm "Ngày Thầy thuốc Việt Nam". Kể từ đó, ngày 27-2 đã trở thành Ngày truyền thống của ngành Y tế.

490.jpg 

Bác Hồ thăm Bệnh xá Vân Đình, Hà Tây (tháng 4-1963). Người căn dặn: "Lương y như từ mẫu". (Ảnh tư liệu)

Ba chỉ đạo chiến lược

Cách đây 65 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị cán bộ y tế tổ chức tại Thủ đô Hà Nội (27- 2-1955). Bức thư được đăng trên báo Nhân Dân ngày 27- 2-1955. Thư của Người dù chỉ có 386 chữ, nhưng đã thể hiện sự chỉ đạo sâu sắc, khoa học, mang tính định hướng chiến lược cho ngành Y tế Việt Nam.

Một là, "đoàn kết là sức mạnh", vì "đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích"(1). Cùng chung một mục đích là "phục vụ nhân dân" cho nên, dù công việc và địa vị khác nhau, song đội ngũ cán bộ ngành Y cần phải "đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc"(2).

Hai là, "lương y phải như từ mẫu". Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của những người làm trong ngành Y tế; biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm phục vụ, tình thương yêu, chăm sóc người bệnh. Là một nghề liên quan trực tiếp đến sinh mệnh con người, người thầy thuốc không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải giàu về đạo đức nghề; "chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu". Người nhấn mạnh rằng, "người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khoẻ cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang"(3), cho nên những người làm nghề y "cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn(4).

Ba là, "xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân", Chính phủ cần phải "xây dựng một nền y học của ta" - nền y học "phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng"; "chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc "Đông" và thuốc "Tây"(5).

Theo chỉ dẫn của Người, đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành Y tế cả nước, từ Trung ương đến cơ sở, từ thành phố đến tận cơ sở vùng sâu, vùng xa đều nỗ lực phấn đấu, luôn đoàn kết, sẻ chia kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau về tay nghề, phương tiện điều trị để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Thực hiện lời thề Hippocrate và đạo đức người thầy thuốc như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, tấm gương mẫu mực về chuyên môn và đạo đức nghề y của bác sĩ Vũ Đình Tụng, Trần Hữu Tước, GS. Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Hồ Đắc Di, Đặng Thuỳ Trâm, Tôn Thất Bách… cùng thầy thuốc, y tá, y sĩ, hộ lý, lương y trong đội ngũ những người "anh hùng áo trắng" trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn được đội ngũ những người công tác trong ngành học tập và noi theo.

Trong mọi thời điểm, lời dạy của Người về đoàn kết, về sự sẻ chia, chăm lo cho người bệnh luôn hiển hiện trong công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, trong từng phiên trực cấp cứu hằng ngày của những người thầy thuốc, dù ở bất cứ thời điểm nào, địa bàn nào. Mỗi người, tùy vị trí công tác và chuyên môn đã luôn giữ và rèn luyện y đức, nỗ lực học tập để nâng cao trình độ y thuật, ngày đêm tận tuỵ vì sức khoẻ của nhân dân. Ở những thời khắc quyết định, đã có những thầy thuốc tình nguyện hiến máu để kịp thời cứu chữa người bệnh. Ở các tuyến bệnh viện, cũng đã có không ít thầy thuốc giúp đỡ tiền để bệnh nhân nghèo chữa bệnh, khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho dân nghèo, nhất là cho đồng bào miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, ở những thời điểm các đợt dịch bùng phát cúm A (H5N1), (H1N1), SARS, chân tay miệng ở trẻ em, sốt xuất huyết… hay nCoV như hiện nay, những khi phải cứu chữa cho các bệnh nhân mắc bệnh nan y, nguy hiểm, đội ngũ những người công tác trong ngành Y đã tiếp cận, xử lý và tranh thủ từng phút để giành giật sự sống cho bệnh nhân, khắc chế sự lan rộng của đại dịch, thể hiện rõ trình độ chuyên môn và đạo đức nghề, tinh thần và trách nhiệm như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn.

Thực hiện chỉ đạo của Người, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất đặc biệt và cao quý trong xã hội, ngành Y tế đã mở rộng cơ sở chăm sóc sức khỏe từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Hệ thống bệnh viện các tuyến đều được quan tâm đầu tư, xây dựng, tạo thành chỉnh thể liên hoàn, hỗ trợ nhau để ngày càng nâng cao hơn chất lượng thăm, khám và chữa bệnh cho nhân dân. Nhiều chứng bệnh nguy hiểm đã được điều trị có hiệu quả, nhiều kỹ thuật tiên tiến đã được áp dụng ở tuyến bệnh viện Trung ương và các bệnh viện tuyến cơ sở đã góp phần nâng cao chất lượng thăm khám và điều trị bệnh, khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước.

Mạng lưới y học dân tộc, kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa Đông y và Tây y đã chữa trị thành công rất nhiều loại bệnh, góp phần rất lớn và ngày càng tạo được sự tin tưởng trong nhân dân đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được. Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, do đó, "thầy thuốc tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y... Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như người có hai cái tay, hai bàn tay cùng làm việc thì làm việc được tốt, cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào"(6).

Đó chính là sự kết hợp giữa y học dân tộc và y học hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa và phát huy những vốn quý cổ truyền của Đông y với Tây y, tạo nên sự phát triển vượt bậc của y học Việt Nam, góp phần bảo tồn và phát triển những vốn quý của y học cổ truyền. Sự có mặt của Khoa (Bộ môn) Y học cổ truyền trong hệ  thống trường đào tạo Y khoa và Khoa Đông Y trong các Bệnh viện hoặc Viện nghiên cứu chuyên ngành Y học cổ truyền đã cho thấy sự phát triển đúng hướng trong đào tạo và phát huy vai trò của Đông y trong thăm khám và điều trị cho người bệnh.

Ngành Y tế tiếp tục thực hiện lời dạy của Người

65 năm qua, lời dạy của Người vẫn là kim chỉ nam cho ngành Y tế trong xây dựng và phát triển. Những thành tựu quan trọng trong phát triển mạng lưới y tế, dự phòng bệnh tật, khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, từng bước củng cố, tăng cường mạng lưới y tế cơ sở và đổi mới phương thức hoạt động, năng lực dự báo, giám sát và phòng chống dịch bệnh của các cơ sở y tế dự phòng, phòng và khống chế được các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đã được thế giới ghi nhận. Đồng thời, đạo đức nghề, phong cách, thái độ phục vụ và trình độ chuyên môn của đội ngũ những người công tác trong ngành Y tế được chú trọng, nâng cao, xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương y, bác sĩ tận tuỵ chăm sóc, cứu chữa người bệnh được xã hội trân trọng, ghi nhận.

Tuy nhiên, hệ thống y tế từ Trung ương đến cơ sở còn nhiều đầu mối, chưa đồng bộ, thiếu ổn định, hoạt động chưa hiệu quả, chưa phù hợp với biến đổi mô hình bệnh tật, mất an toàn thực phẩm, biến đổi khí hậu, già hóa dân số để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân... Trong khi đó, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường, y đức trở thành vấn đề bức xúc. Những biểu hiện tiêu cực, vi phạm quy định và đạo đức của ngành mặc dù chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh", song cũng gây ảnh hưởng xấu đến sự thanh cao của nghề y, làm tổn hại đến danh dự của những làm nghề chân chính, tận tâm cống hiến cho nghề nghiệp cao quý này.

Để phát triển và nâng cao chất lượng công tác của ngành Y tế, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân" ra đời (Nghị quyết 20). Tinh thần và nội dung của Nghị quyết không chỉ thể hiện sâu sắc 3 chỉ đạo có tính định hướng chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành Y tế, mà còn bổ sung và hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Theo đó, toàn ngành cùng đoàn kết, chung tay xây dựng một nền y tế Việt Nam tiên tiến, dân tộc, khoa học, đại chúng gắn với nhu cầu thực tế của nhân dân. Trong đó, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế Việt Nam theo hướng công bằng - hiệu quả - phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, để mọi người dân, nhất là người nghèo, các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, có chất lượng.

Đồng thời, tiếp tục thực hiện Quyết định số 2088/BYT-QĐ, 12 điều về y đức của Bộ Y tế,  Thông tư số 07/2014/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về "Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động tác cơ sở y tế" và Quyết định số 2151/QĐ-BYT phê duyệt kế hoạch thực hiện "Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh" gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó có lời dạy "lương y phải như từ mẫu" của Người, đồng thời đưa Nghị quyết 20 vào cuộc sống, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành trên mọi miền đất nước đã và đang không ngừng nỗ lực phấn đấu vượt lên mọi khó khăn gian khổ hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân mà Đảng, Nhà nước giao phó.

Trên tinh thần lấy người bệnh làm trung tâm, toàn ngành tiếp tục nỗ lực đổi mới toàn diện, tăng cường y tế cơ sở, hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân thông qua nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ; trong đó, có nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới y tế cơ sở và nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng khám, chữa bệnh tới sự hài lòng của người bệnh. Tập trung đổi mới toàn diện phong cách, thái hộ phục vụ của nhân viên y tế đối với người bệnh, xây dựng môi trường bệnh viện xanh - sạch - đẹp, đảm bảo mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.

Cùng với đó, đội ngũ những người công tác trong ngành trên khắp mọi miền của Tổ quốc nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện và trau dồi y đức, bồi đắp lòng nhân ái, lương tâm và tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất cao đẹp của những người thầy thuốc "Lương y phải như từ mẫu" để không ngừng nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân./.

Gia Khánh

Nguồn Học viện chính trị quốc gia

28/02/2020 5:00 CHĐã ban hành
Củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí MinhCủng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng.

297.jpg 

Bác Hồ với đồng bào dân tộc thiểu số. (Ảnh tư liệu)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Với tinh thần nhân văn cao cả và nhãn quan chính trị sắc bén, suốt cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng, các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân. Người nhận thức sâu sắc, đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp, lực lượng, đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, các cá nhân yêu nước, người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người đã lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải trở về với nhân dân. Nói cách khác, khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ"(1). 

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất lợi ích quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng; nòng cốt khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người chỉ rõ, cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, dân cư ở các vùng miền khác nhau. Phát huy mặt tương đồng, hóa giải điểm khác biệt. Mẫu số chung để đại đoàn kết toàn dân tộc là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: "Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh"(2).

Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Người cho rằng, trước hết, cần tuyên truyền, vận động nhân dân. Thứ hai, phải chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Về Nhà nước, Đảng phải làm cho Nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội là cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với nhân dân. Coi đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi đoàn kết là một đức tính cơ bản của người cách mạng. Ai không có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các đồng chí của mình thì không thể làm cách mạng, không thể làm cán bộ. Người căn dặn: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"(3).

Song song với việc xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh gây chia rẽ, mất đoàn kết.

Phải chống bệnh hẹp hòi. "Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hoá, v.v. đều do bệnh hẹp hòi mà ra!"(4). Thứ hai, phải chống chủ nghĩa cá nhân. Do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ, đảng viên sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền.

Để thực hiện được chiến lược đại đoàn kết dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mới thành công, Hồ Chí Minh khẳng định, "ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó" và giải thích: "Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó"(5).

Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: "Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân"(6).

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau"(7). 

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót. Giáo dục, lãnh đạo nhân dân, đồng thời không ngừng học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Biết biến quyết tâm của Đảng, Nhà nước thành quyết tâm của nhân dân. "Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ"(8).

Đối với toàn thể nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc.

Củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, về tôn giáo, về người Việt Nam ở nước ngoài, từng bước được thể chế hóa thành luật, pháp lệnh, chính sách và ngày càng thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Nhiều cấp ủy đảng đã quan tâm hơn đến sự nghiệp đại đoàn kết, đến công tác dân vận và công tác mặt trận, củng cố tổ chức và tăng cường cán bộ, phương tiện và điều kiện cho công tác mặt trận. Chính quyền ở nhiều cấp, nhiều địa phương đã thật sự có chuyển biến trong nhận thức và hành động về quan hệ với nhân dân. Nhiều dự án về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của Nhà nước được ban hành nhằm chăm lo đời sống cho nhân dân đã thực hiện có kết quả. Quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội được thể chế hóa, đã từng bước được phát huy. Sự đổi mới hệ thống chính trị, việc tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội, nhất là việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần quan trọng vào việc động viên nhân dân và cán bộ hăng hái tham gia các sinh hoạt chính trị của đất nước, đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Đó là những nhân tố rất quan trọng, là động lực chủ yếu bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Cùng với những tiến bộ và chuyển biến nêu trên, nhiều vấn đề mới đã và đang nảy sinh trong quá trình đổi mới, đó là xã hội, giai cấp, tầng lớp, nhóm dân cư đang trong quá trình phân hóa. Xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân lao động ở các khu công nghiệp với những người lao động có chuyên môn, tay nghề trong các lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, giữa người đương chức và người về hưu… Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc. Những đặc điểm nêu trên đã tác động mạnh mẽ đến khối đại đoàn kết. Vì vậy, tuy đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường, song chưa thật vững chắc và đang đứng trước những thách thức không thể xem thường. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang khai thác những thiếu sót, yếu kém của ta hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên, trước hết là các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc đề xướng. Phải nắm vững những quan điểm cơ bản và cũng là những định hướng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Đó là lợi ích cơ bản của nhân dân, của dân tộc ta ngày nay là độc lập, tự do và cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó thể hiện cụ thể hằng ngày trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Củng cố tăng cường đoàn kết hiện nay không thể chung chung mà phải gắn chặt với việc bảo đảm các lợi ích đó. Một trong những động lực thúc đẩy nhân dân tăng cường đoàn kết trong tình hình hiện nay là quyền làm chủ đất nước của nhân dân cần được tôn trọng. Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp đã quy định.

Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và của toàn dân. Do đó, qua hoạt động của mình, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội cần không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để góp phần làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn luôn bền chặt, ý Đảng và lòng dân là một. Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có tác dụng trực tiếp và quyết định đến kết quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội, để các chủ trương, chính sách sát cuộc sống, đáp ứng lợi ích của nhân dân.

Kiên trì thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định, phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng trở nên sống động và mang tính thời sự, ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng. Để tăng cường củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay, cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu và cả hệ thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Các cấp ủy đảng và người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Cần thực hiện triệt để Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XI về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương". Cán bộ, đảng viên phải xung phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để nhân dân học và làm theo.

Thứ hai, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và các giai tầng, các giới trong toàn dân tộc.

Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở.

Thứ tư, tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm công tác dân vận. 

Thứ năm, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đảm bảo thế và lực cho đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Gia Khánh

Nguồn Ban Tuyên giáo Trung ương

 

24/02/2020 7:00 CHĐã ban hành
Mọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dânMọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dân
Trong cuộc sống cũng như trong công việc, Bác có phong độ ung dung, thư thái, khẩn trương nhưng không vội vàng. Hôm xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ (năm 1964), tôi đang chuẩn bị theo Bác sang đọc tin bên nhà sàn thì đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi điện cho Bác. Cuộc báo cáo ngắn xong, Bác bình thản ung dung trên đường sang nhà sàn. Buổi làm việc vẫn diễn ra bình thường.

images.jpg 

Ảnh tư liệu

Đừng thần thánh Bác Hồ. Bác Hồ không phải là ông thánh nhưng là người tất cả vì dân vì nước, mọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dân. Các bác sĩ trong hội đồng sức khỏe không ai nỡ khuyên Bác bỏ thuốc lá vì là một thú vui riêng từ nhiều năm, từ tuổi trẻ. Thấy Bác ho nhiều bác sĩ chỉ khuyên Bác bớt hút thuốc lá nhưng tự Bác đã bỏ thuốc. Bỏ một thói quen từ nhiều năm, một người không có những thú vui riêng, một người thường ngồi làm việc một mình, suy nghĩ một mình đâu phải là dễ. Cuối buổi làm việc, trước khi ăn bữa sáng, Bác thường uống một tách cà phê. Hôm đó tôi làm việc với Bác, khi anh em đưa cà phê vào, Bác đẩy tách cà phê sang tôi và nói: "Chú uống đi", "Dạ để mời Bác uống", "Uống cà phê Bác lại nhớ tới thuốc lá, chú cứ uống đi". Tôi uống chén cà phê thấy đắng hơn.

Bác Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác bên dưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất. Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu, tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai, Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đưa cho tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: "Làm gì mà chú phải khổ sở thế!".

Bác giản dị nhưng đàng hoàng. Trời nóng ngồi làm việc một mình với chúng tôi có thể Bác mặc áo mây ô, quần cộc nhưng đi ra ngoài dù kaki, quần áo nâu cũng phải phẳng phiu. Không chỉ một lần Bác phê bình đồng chí cán bộ cao cấp ra chỗ tiếp khách không ăn mặc chỉnh tề, tuy đồng chí này không phải nhân vật chủ chốt.

Qua những năm hoạt động cách mạng gian khổ, Bác mắc một số bệnh mãn tính, sức chiến đấu chống bệnh của Bác thật mãnh liệt. Ngày ba bữa, dù mưa nắng, nóng rét Bác vẫn đi ăn bên nhà xây (nhà số 54). Có một lần trời mưa gió, anh em đã bày bàn ăn dưới nhà sàn nhưng Bác vẫn đội ô, chống gậy sang nhà ăn.

Bác kiên trì rèn luyện sức khỏe, tập Thái cực quyền hàng ngày. Từ lúc vào cơ quan làm việc cho đến năm 1967 tôi không thấy Bác nghỉ ốm ngày nào; mặc dù nhiều lúc biết Bác phải gắng vượt lên sức khỏe của tuổi già. Từ giữa năm 1967 có hội đồng chăm sóc sức khỏe theo dõi hàng ngày nhưng Bác vẫn làm việc đều. Không đi họp thì nghe báo cáo. Giữa năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút. Buổi trưa sau bữa ăn, nằm nghỉ dưới nhà xây, Bác vẫn nghe tin tức gần một tiếng rồi mới ngủ. Sau có hôm tôi đọc độ mười phút Bác ngủ, tôi liền ngừng đọc thì Bác giật mình bừng dậy bảo tôi nghỉ nhưng rồi Bác khó ngủ lại. Từ buổi sau, khi đọc tin thấy Bác ngủ tôi vẫn đọc tiếng nhẹ đi để giấc ngủ của Bác được dài thêm. Tôi trao đổi hiện tượng và kinh nghiệm đó với đồng chí Chước.

Làm việc bên Bác trong một thời gian dài, tôi thấy những điều Bác Hồ kêu gọi, dạy dỗ, giáo dục cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân không phải chỉ là những lời hô hào của người lãnh đạo mà là những điều Bác Hồ đã sống và làm trong cả cuộc đời của mình. Mỗi việc làm của Người đều vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Ngọc Thuận

Nguồn: Những chuyện kể về tấm gương trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

                                                                                                     

          

17/02/2020 5:00 CHĐã ban hành
Bình Hòa Hưng quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020Bình Hòa Hưng quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020
Ngày 14/02/2020, Đảng ủy xã Bình Hòa Hưng tổ chức hội nghị học tập, quán triệt chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Tham dự buổi học tập có 85 đảng viên thuộc Đảng bộ xã, 5 đảng viên Ban Quản lý Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An.

hcm2.jpg 

Ảnh: Ông Nguyễn Văn Nghiêm – PBT Đảng ủy xã phát biểu quán triệt tại hội nghị

Thông qua hình thức xem trình chiếu video, các đại biểu được nghe GS.TS Hoàng Chí Bảo - nguyên Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh báo cáo nội dung chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh".

Chuyên đề học tập nhằm nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta về nội dung cơ bản, giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tiếp tục đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người trở thành nề​​n nếp, gắn với thực hiện nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

 hcm.jpg

Ảnh: Đại biểu tham dự học tập

Chuyên đề trong năm 2020 về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách  Hồ Chí Minh" bao gồm 2 phần chính:

Phần thứ nhất: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Phần thứ hai: Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới.

Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người nhằm tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh vừa là trách nhiệm vừa là tình  cảm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của mỗi tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, mỗi người dân đối với Bác Hồ - vị Cha già kính yêu của dân tộc

Sau khi học tập, nghiên cứu học tập chuyên đề trong năm 2020, mỗi cán bộ đảng viên sẽ viết bài thu hoạch tự liên hệ bản thân và đề ra phương hướng phấn đấu làm theo trong thời gian tới.

Phạm Văn Tài

 

15/02/2020 12:00 CHĐã ban hành
Chuyên đề 2020  "TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH"Chuyên đề 2020  "TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH"

111.png

 

MỞ ĐẦU

 

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, đây cũng là nội dung và giải pháp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, nhằm phát huy sức mạnh nội lực, tạo động lực cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Năm 2020 kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh…, là năm diễn ra đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; nhằm tiếp tục tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, thiết thực, hiệu quả trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm nhiệm vụ; Ban Tuyên giáo Trung ương đã chọn chuyên đề: "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Chuyên đề gồm 02 phần:

Phần thứ nhất: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

 Phần thứ hai: Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới.

 

Phần thứ nhất

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ

TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC; XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

I. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong các tác phẩm của mình, Bác có tới trên 400 bài nói và viết về đoàn kết. Tư tưởng về đoàn kết của Người được thể hiện nổi bật là: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".

1. Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược quyết định thành công của cách mạng Việt Nam

lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. "Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi"; "Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công" …

Để lý giải một nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu lại có thể đương đầu và đánh bại những thế lực có ưu thế tuyệt đối về vật chất, phương tiện chiến tranh, Người nói: "Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại"[1].

Theo Bác, đoàn kết trong Đảng là tiền đề đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để đoàn kết quốc tế. Đó là đường lối chiến lược kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam; vì "Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: "ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC"[2].

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện mong muốn tột bậc: "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới"[3].

2. Lực lượng và hình thức tổ chức đại đoàn kết toàn dân tộc

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp, lực lượng, đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, các cá nhân yêu nước, người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người đã lầm đường, lạc lối nhưng biết hối cải trở về với nhân dân. Nói cách khác, khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm: "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ"[4].

Mẫu số chung để đại đoàn kết toàn dân tộc là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: "Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh"[5].

Hình thức tổ chức lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận dân tộc thống nhất chỉ có thể bền vững khi được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo Người, để tập hợp lực lượng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không được phép bỏ sót bất cứ thành phần giai cấp, xã hội nào, miễn là họ có lòng yêu nước, sẵn sàng cống hiến, phục vụ quốc gia dân tộc. Và "Công, nông, trí chúng ta đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó khăn trở ngại… Chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"[6].

3. Nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc

Thứ nhất, tin vào dân, dựa vào dân vì lợi ích của dân để đoàn kết toàn dân, phát động các phong trào thi đua yêu nước trong lao động, học tập, sản xuất và chiến đấu, bởi vì: "Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"[7].

 Thứ hai, đoàn kết lâu dài, rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo. Nhân dân cần được vận động, giác ngộ, tự nguyện đứng trong Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng để "Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị.

Thứ ba, đoàn kết trên cơ sở hiệp thương, dân chủ, chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết gắn với đấu tranh, tự phê bình và phê bình. Vì "Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân"[8].

Thứ tư, đoàn kết trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng "phần thiện", dù nhỏ nhất ở mỗi con người để tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: "Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang"[9].

4. Phương pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

 Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết, cần tuyên truyền, vận động nhân dân. Nội dung tuyên truyền phải đáp ứng đúng nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân và yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: "Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ 6 chữ ấy thôi là đủ rồi"[10].

Thứ hai, phải chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng cộng sản là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong Đảng đoàn kết, thống nhất từ tư tưởng đến hành động; có kỷ luật, tự giác, nghiêm minh; thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng.

Về Nhà nước: Đảng phải làm cho Nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Không ngừng cải cách bộ máy hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước quản lý bằng pháp luật. "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân. Chính phủ chỉ có một mục đích là: Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân"[11].

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể phải có cương lĩnh, đường lối thiết thực, rõ ràng; hình thức tổ chức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, các ngành, các giới, các dân tộc, tôn giáo… để toàn dân tộc có thể tham gia xây dựng và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

5. Đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc và là đức tính cơ bản của người cách mạng

Coi đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, theo chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi đoàn kết là một đức tính cơ bản của người cách mạng. Người căn dặn: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"[12]. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: học tư tưởng, đạo đức đoàn kết Hồ Chí Minh là "Gột rửa tất cả cái gì có thể chia rẽ chúng ta, trau dồi tất cả cái gì thắt chặt chúng ta"[13].

Về tư tưởng "Đoàn kết toàn dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế", Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Quan sơn muôn dặm một nhà/Vì trong bốn biển đều là anh em"[14]. Người cho biết: "Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản"[15]. Và, sẵn sàng "Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai"[16]. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cần có tinh thần quốc tế trong sáng.

Đối với toàn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: "Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo"[17]. Để đoàn kết nhất trí, cán bộ lãnh đạo phải cần, kiệm, liêm, chính; kiên quyết chống quan liêu, tham ô, lãng phí; hết lòng hết dạ phục vụ nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Chính phủ và pháp luật của Nhà nước.

 Đối với mỗi đảng viên, Người cho rằng, muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên… "Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết"[18].

Đối với toàn thể nhân dân Việt Nam, Người kêu gọi "tất cả dân ta đều Thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính" và giải thích: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái…"[19].

 Song song với việc xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh gây chia rẽ, mất đoàn kết.

 6. Phong Cách Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

 Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: "Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân"[20]. Họ phải là: "Những người mà:

- Giàu sang không thể quyến rũ,

- Nghèo khó không thể chuyển lay,

- Uy lực không thể khuất phục"[21].

Người khẳng định, Đảng ta với phong cách vì dân, vì nước nên: "không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân"[22] để đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau"[23].

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót.

Đối với toàn thể nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc. "Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay"[24].

Với đồng bào các tôn giáo, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta không phân biệt lương, giáo, hãy làm theo gương của các bậc sáng lập Đạo mà đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng là để giữ gìn quyền tôn giáo tự do. Bác cũng khẳng định đạo đức tôn giáo có giá trị nhân văn, phù hợp với đạo đức của xã hội.

 "Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa". Theo Người: "Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ"[25].

Đối với đồng bào các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em"[26].

II. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

 1. Xây dựng Đảng Cộng Sản cầm quyền trong sạch, vững mạnh làm hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị

Công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm: Xây dựng Đảng về chính trị; xây dựng Đảng về tư tưởng; xây dựng Đảng về tổ chức; xây dựng Đảng về đạo đức.

(1) Xây dựng Đảng về chính trị và xây dựng Đảng về tư tưởng: Phải dựa vào lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị và tư tưởng. Đảng phải tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt ra trong quá trình lãnh đạo. Việc thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng sẽ làm sáng tỏ những vấn đề mới trong thực tiễn, làm cho đường lối của Đảng ngày càng hoàn thiện.

Nội dung xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng bao gồm: đường lối chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị… Trong đó, đường lối chính trị là một vấn đề cốt tử trong sự tồn tại và phát triển của Đảng.  Đảng cần phải thường xuyên giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh.

(2) Xây dựng Đảng về tổ chức:

Về hệ thống tổ chức đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức. Hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thực chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Sức mạnh các tổ chức liên quan chặt chẽ với nhau; mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng. Trong hệ thống đó, chi bộ đóng vai trò là hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng; là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và giám sát đảng viên; có vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng với quần chúng nhân dân.

Về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài. Người nhận thức rõ vị trí, vai trò của người cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp cách mạng. "cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"[27].

Theo Người, "Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta"[28].

(3) Xây dựng Đảng về đạo đức:

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đảng là một tổ chức cách mạng chứ không phải tổ chức để "làm quan phát tài". Không như vậy, Đảng sẽ rơi vào thoái hóa, biến dạng, tha hóa, xa dân, tự đánh mất sức mạnh tự bảo vệ. Xây dựng Đảng về đạo đức là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, đặc biệt là giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng.

Để xây dựng Đảng thực sự đạo đức, văn minh, cần nắm rõ 3 nguyên tắc:

Một là, những chuẩn mực đạo đức cần có của tổ chức Đảng: Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, chống giáo điều và xa rời nguyên tắc. Trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân, dân tộc Việt Nam và của loài người. Đảng gắn bó với dân, là người lãnh đạo đồng thời là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Hai là, những phẩm chất đạo đức cách mạng cần có của cán bộ, đảng viên: Trung với nước hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; yêu thương, quý trọng con người; có tinh thần quốc tế trong sáng.

Ba là, những nguyên tắc, biện pháp xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng: Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức; tu dưỡng đạo đức suốt đời; xây dựng đạo đức đi đôi với chống lại những hiện tượng phi đạo đức.

Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng gồm 5 nguyên tắc: Nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; nguyên tắc tự phê bình và phê bình; nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh, tự giác; nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng.

2. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là nhà nước của dân, nhà nước do dân và nhà nước vì dân, được thể hiện ở những nội dung như sau:

Nhà nước của dân là tất cả mọi quyền lực nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân. Nhân dân lao động làm chủ nhà nước tất yếu dẫn đến hệ quả là nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước. Cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh.

Nhà nước do dân là nhà nước do dân tạo ra và nhân dân tham gia quản lý. Hồ Chí Minh khẳng định: Việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm "ghé vai gánh vác một phần".

Nhà nước vì dân là nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu. Tất cả đều vì lợi ích của nhân dân; ngoài ra, không có bất cứ một lợi ích nào khác. Một nhà nước vì dân là từ Chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đày tớ cho nhân dân. Mọi công chức, từ nhân viên đến Chủ tịch nước đều do dân ủy thác cho và phải phục vụ nhân dân.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam mới thể hiện ở các đặc điểm sau: (1) Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. (2) Nhà nước bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước. (3) Nguyên tác tổ chức và hoạt động cơ bản là tập trung dân chủ.

Xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ: Hoạt động quản lý nhà nước phải bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống. Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước dân chủ Việt Nam không thể thiếu pháp luật vì pháp luật là "bà đỡ" cho dân chủ. Dân chủ đích thực bao giờ cũng đi liền với kỷ cương, phép nước. Mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật; ngược lại, hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài bao gồm những yêu cầu sau: (1) Tuyệt đối trung thành với cách mạng. (2) Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ. (3) Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân. (4) Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, "thắng không kiêu, bại không nản". Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước.

2.2. Xây dựng Mặt trận dân tộc và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh để bảo đảm dân chủ trong xã hội

Đối với xây dựng Mặt trận dân tộc, Hồ Chí Minh quan niệm, trong việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam, cần chú trọng việc xây dựng Mặt trận với vai trò là liên minh chính trị tự nguyện của tất cả các tổ chức chính trị - xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển đất nước. Bởi "Mục đích phấn đấu của Mặt trận dân tộc thống nhất là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"[29]. Mặt trận dân tộc thống nhất là cơ sở chính trị - xã hội của Đảng, Nhà nước ta.

Đối với các đoàn thể chính trị - xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định:

"- Đoàn Thanh niên Lao động phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản".

- Công đoàn phải thật sự trở thành trường học quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và văn hóa của giai cấp công nhân nước ta.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ phải là lực lượng mạnh mẽ giúp Đảng động viên, tổ chức và lãnh đạo phụ nữ tiến lên chủ nghĩa xã hội"[30].

- Hội Nông dân có nhiệm vụ: "Làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giới mình, làm cho nông dân vào Hội nông dân cứu quốc cho đông để phấn đấu cho mục đích của mình và tích cực tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc"[31].

3. Đạo đức Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng

Hồ Chí Minh suốt một đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, quan tâm rèn luyện Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tấm gương mẫu mực của Người về phẩm chất, tư cách, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng được thể hiện nổi bật ở các điểm sau:

Một‌ ‌là, ‌tuân‌ ‌thủ‌ ‌các‌ ‌nguyên‌ ‌tắc‌ ‌tổ‌ ‌chức‌ ‌và‌ ‌sinh‌ ‌hoạt‌ ‌Đảng.‌ ‌

Là‌ ‌người‌ ‌thành‌ ‌lập, ‌rèn‌ ‌luyện‌ ‌và‌ ‌lãnh‌ ‌đạo‌ ‌Đảng,‌ Chủ‌ ‌tịch‌ ‌Hồ‌ ‌Chí‌ ‌Minh‌ ‌luôn‌ ‌gương‌ ‌mẫu, ‌trung‌ ‌thực,‌ ‌trách‌ ‌nhiệm,‌ ‌thực‌ ‌hiện‌ ‌nghiêm‌ ‌các‌ ‌nguyên‌ ‌tắc‌ ‌tổ‌ ‌chức,‌ ‌sinh‌ ‌hoạt‌ ‌Đảng,‌ ‌coi‌ ‌kỷ‌ ‌luật‌ ‌Đảng‌ ‌là‌ ‌kỷ‌ ‌luật‌ ‌nghiêm‌ ‌minh‌ ‌và‌ ‌tự‌ ‌giác,‌ ‌quan‌ ‌tâm‌ ‌đến‌ ‌việc‌ ‌thực‌ ‌hành‌ ‌dân‌ ‌chủ‌ ‌trong‌ ‌Đảng.‌ ‌Người‌ ‌xác‌ ‌định‌ ‌rõ‌ ‌trách‌ ‌nhiệm‌ ‌cá‌ ‌nhân,‌ ‌nêu‌ ‌cao‌ ‌tinh‌ ‌thần‌ ‌"phụ‌ ‌trách"‌ ‌trước‌ ‌Đảng,‌ ‌trước‌ ‌dân‌ ‌tộc‌ ‌và‌ ‌nhân‌ ‌dân.‌ ‌

Hai‌ ‌là,‌ ‌tấm‌ ‌gương‌ ‌luôn‌ ‌tự‌ ‌rèn‌ ‌luyện,‌ ‌trau‌ ‌dồi‌ ‌phẩm‌ ‌chất,‌ ‌năng‌ ‌lực,‌ ‌đạo‌ ‌đức,‌ ‌lối‌ ‌sống,‌ ‌tác‌ ‌phong‌ ‌của‌ ‌một‌ ‌đảng‌ ‌viên.‌ ‌

Khổ luyện, tiếp thu các giá trị văn hóa, tự hoàn thiện nhân cách, không ngừng học tập để có tri thức, nâng cao tầm trí tuệ, Hồ Chí Minh đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.

Rèn luyện, giữ vững đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tấm lòng nhân ái, thủy chung, son sắt; lối sống giản dị, thiết thực, hòa đồng, làm chủ bản thân và luôn hướng tới những chuẩn mực của chân, thiện, mỹ.

Rèn luyện để có tác phong gần dân, hiểu dân, vì dân; gương mẫu trong cuộc sống hàng ngày.

Chăm lo xây dựng Đảng ta thành một Đảng đạo đức, văn minh với những chuẩn mực được xây dựng từ mỗi tổ chức đảng cho đến từng cán bộ, đảng viên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là Đảng Cộng sản cầm quyền phải trong sạch, vững mạnh. "Đảng không phải chỉ đại biểu lợi ích của đảng viên, mà đại biểu lợi ích của toàn giai cấp công nhân, toàn thể dân tộc và loài người"[32]. "Đảng ta là một đảng cầm quyền... Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"[33].

Cán bộ, đảng viên cũng cần có phẩm chất yêu thương, quý trọng con người, phát huy truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc, sống có tình có nghĩa, "tối lửa tắt đèn có nhau". Hồ Chí Minh khẳng định: "Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa"[34].

4. Đạo đức Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị

4.1. Kết hợp đạo đức với pháp luật xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính phục vụ Tổ quốc và nhân dân có hiệu quả

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng đã xóa bỏ kiểu chính phủ cai trị dân của đế quốc, phong kiến. Nay Đảng phải xây dựng chính phủ kiểu mới hoạt động theo pháp luật và trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức cách mạng. "Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh"[35].

 Chính phủ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì phải liêm chính, biết làm việc. Được Quốc hội giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "Tuy trong quyết định không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết. Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà"[36].

Để xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động có hiệu quả, Người nêu rõ: "Cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân. "Quan tham vì dân dại". Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì "quan" dù không liêm, cũng phải hóa ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì"[37].

Nhà nước cần biết cách làm cho người dân thực sự có quyền lực, mở rộng dân chủ để dân tham gia hoạch định chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Hiến pháp nước ta cần có nội dung: "Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước"[38].

Để bộ máy nhà nước trong sạch, thật sự phục vụ nhân dân, mỗi công dân cần phải kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí và nâng cao cảnh giác đề phòng địch phá hoại. "Các cơ quan phụ trách cần phải nghiêm khắc ngăn ngừa tham ô, lãng phí và kịp thời thi hành kỷ luật đối với những kẻ ngoan cố không chịu sửa đổi"[39].

4.2. Định hướng xây dựng đạo đức trong Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể chính trị - xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ định hướng phấn đấu của các cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong Mặt trận và các đoàn thể, đó là: Cán bộ, đảng viên của Mặt trận phải thông suốt và thực hiện đúng chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời phải giải thích cho mọi người hiểu thật thấu và làm cho đúng. Phải đi đường lối nhân dân, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân.

"Công đoàn phải giáo dục cho công nhân về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng… công nhân phải hiểu mình là chủ xí nghiệp, chủ nước nhà, hiểu lao động là vẻ vang, phải giữ gìn của công, chống tham ô lãng phí, phải bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều, mau, rẻ. Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm"[40].

Hội Nông dân thì phải tổ chức nông dân thật chặt chẽ. Đoàn kết nông dân thật khăng khít. Huấn luyện nông dân thật giác ngộ. "Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc"[41].

Đoàn Thanh niên cần làm đầu tàu, làm gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu "Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm"[42]. "Nhiệm vụ của thanh niên là ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội"[43]. "Đoàn Thanh niên Lao động cần phải phụ trách: Việc tổ chức và giáo dục cho tốt các cháu nhi đồng, chuẩn bị cho các cháu ấy mai sau trở nên những đoàn viên tốt. Việc đẩy mạnh phong trào đời sống mới một cách thiết thực và liên tục, từ việc nhỏ đến việc to"[44].

Hội Phụ nữ thực hiện các nhiệm vụ là: (1) Thắt chặt mối đoàn kết giữa các tầng lớp phụ nữ trong nước, giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ các nước bạn cùng phụ nữ dân chủ thế giới. (2) Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. (3) Hăng hái tham gia chính quyền. (4) Giúp đỡ bộ đội. (5) Bảo vệ nhi đồng[45].

5. Phong cách Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh

 Để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng và phong cách lãnh đạo nêu gương cho cán bộ, đảng viên.

Về phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng, theo Người phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng là khiến cho cấp dưới và nhân dân cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên muốn đoàn kết, phục vụ nhân dân phải gần dân, được lòng dân, nghe theo dân. Lãnh đạo là dìu dắt nhân dân. Xa nhân dân thì không đoàn kết, lãnh đạo được nhân dân.

Về phong cách lãnh đạo nêu gương cho cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là một phong cách lãnh đạo nhân văn và hiệu quả. Là tấm gương sáng nhất, Người chỉ dẫn: Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. "Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo. Mà muốn cho quần chúng nghe theo lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ"[46].

Để làm cho bộ máy Nhà nước Việt Nam thật sự phục vụ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và phong cách ứng xử chân thành cho cán bộ, đảng viên.

Về phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, mỗi cá nhân, tập thể đều phải nêu cao nguyên tắc, xây dựng phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, mọi việc đều đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên, có như vậy mới phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về phong cách ứng xử chân thành cho cán bộ, đảng viên, theo đó, mỗi cá nhân cần phải học và làm theo phong cách ứng xử Hồ Chí Minh: Khiêm tốn, nhã nhặn, tôn trọng nhân dân. Chân tình, nồng hậu, tự nhiên với nhân dân như trong một đại gia đình. Xóa đi bức tường ngăn cách giữa cán bộ lãnh đạo với nhân dân. Từ đó, mới đoàn kết được toàn Đảng, toàn dân.

Toàn bộ hệ thống chính trị: Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm công tác tham mưu, thực hiện dân vận khéo, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

III. Bài học lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

1. Bài học về đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng

Thực tiễn cách mạng Việt Nam 90 năm qua là hiện thực sinh động khẳng định nội dung phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là một bài học, nguyên tắc căn bản trong đường lối cách mạng của Đảng. Sự đoàn kết, đồng lòng của cả dân tộc chính là nguồn lực mạnh mẽ đưa đất nước vượt qua nhiều thời điểm khó khăn, khắc nghiệt, để lại những dấu ấn hào hùng trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới toàn diện đất nước Đảng và Nhà nước ta tiếp tục nêu cao chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong một mặt trận thống nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tư tưởng "đại đoàn kết", "lấy dân làm gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt các kỳ Đại hội của Đảng, được coi là nhân tố quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Bài học về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Lịch sử phát triển Đảng trong những chặng đường qua đã cho thấy, Đảng ta với tư cách là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do vậy, Đảng và hệ thống chính trị phải thật sự trong sạch, vững mạnh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: "Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo[47].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra 6 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất: "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ"[48].

Cụ thể hóa nhiệm vụ trên, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; Nghị quyết Trung ương 6 về "Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ"; Quy định số 08-Qđi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương".

Bài học về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là bài học không bao giờ là cũ, được coi là nguyên tắc cốt tử đối với sự phát triển, tồn vong của Đảng. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, liên minh giai cấp công - nông - trí thức là lực lượng nòng cốt, hợp tác giữa công - nông - trí thức và doanh nhân là một động lực cho tăng cường, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" làm động lực phát triển, đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc tạo khí thế mới, động lực mới, quyết tâm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong thời gian qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị phải trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển, giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế.

Ba là, kết hợp giữa "xây" và "chống".  "Xây" là công việc thường xuyên, cơ bản, lâu dài, xuất phát từ nhu cầu không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho Đảng xứng đáng với vai trò lãnh đạo và trách nhiệm cầm quyền, Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân. "Chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, bởi trước tình trạng suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, phải có giải pháp đủ mạnh, xứng tầm để ngăn chặn, đẩy lùi, tạo môi trường cho phát triển bền vững.

 Bốn là, đi đôi với giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng phải tôn trọng, phát huy đầy đủ tính chủ động, tích cực của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị. Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định bảo đảm thành công của xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Năm là, huy động, lôi cuốn, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phải "đưa chính trị vào giữa dân gian"[49]. Có nhiều kênh phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trong đó cần đặc biệt coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.

 

Phần thứ hai

ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH NHẰM TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC; XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH ĐỂ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI

I. Những vấn đề đặt ra về đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay

1. Những vấn đề đặt ra về đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực hiện đường lối đổi mới đúng quy luật, đầy sáng tạo, hợp lòng dân do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, nhân dân ta đã vượt qua bao khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển và bước vào hàng ngũ những nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên gấp nhiều lần.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cùng với sự chuyển hóa của các giai cấp và tầng lớp xã hội, xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp nhân dân… Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang tiếp tục khai thác những thiếu sót, yếu kém của đất nước ta hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, tuy đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường, song chưa thật sự vững chắc và đang đứng trước những thách thức không thể xem thường.

Bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng trở nên sống động và mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng.

Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên,  trước hết là các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc mà Mặt trận dân tộc đề xướng. Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp đã quy định. Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của toàn dân.

2. Những vấn đề đặt ra về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới. Trên cơ sở kiên trì các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, công tác xây dựng Đảng được tiến hành trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Tổ chức đảng và hệ thống chính trị có bước đổi mới quan trọng, từ thể chế, tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành, đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược; chỉnh đốn lề lối, tác phong công tác; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Tuy nhiên, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cũng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm: Năng lực dự báo, định hướng chính sách, thể chế hóa, cụ thể hóa để tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, còn khoảng cách với đòi hỏi của thực tiễn. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng chưa cao …

Hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp.

II. Một số nhiệm vụ giải pháp cụ thể

1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu và của cả hệ thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Các cấp ủy đảng và người đứng đầu tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc về công tác dân vận, công tác mặt trận và các đoàn thể[50]. Đưa nội dung lãnh đạo các công tác này thành một trong những tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng các cấp.

 Các cấp ủy đảng và người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Thực hiện triệt để Quy định số 101 của Ban Bí thư khóa XI về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 08 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương". Cán bộ, đảng viên phải xung phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để nhân dân học và làm theo.

2. Nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

Tập trung vào các vấn đề: toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi, làm giàu hợp pháp; từng gia đình làm giàu cho mình, cho cộng đồng, cho đất nước, xóa đói, giảm nghèo, phấn đấu hằng năm có thêm nhiều địa phương không còn hộ nghèo; tiếp tục thực hiện tốt phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và tích cực tham gia ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn, sự xuống cấp đạo đức trong xã hội.

Tôn vinh người tốt, việc tốt; bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Lên án, phê phán, đấu tranh chống tệ quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, những hành động coi thường kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật.

3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở. Phát huy quyền chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong công tác vận động nhân dân phù hợp với đặc điểm từng giai tầng, dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, ngành nghề ở địa phương, cơ sở.

Phát huy vai trò tư vấn của tổ chức tư vấn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện tốt quy định về giám sát và phản biện xã hội, chủ động tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

4. Tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm công tác dân vận.

Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, các quy chế phối hợp công tác giữa Ủy ban nhân dân với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị -xã hội các cấp nhằm phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân. Thực hiện tốt phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

Nhà nước đảm bảo kinh phí và điều kiện hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện những nhiệm vụ được giao nhằm phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội.

5. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần tham gia tuyên truyền sâu rộng để mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Từ đó, tạo sự chuyển biến tốt trong nhận thức, nâng cao tinh thần cảnh giác, nhạy bén nhận diện và tích cực tham gia đấu tranh với những thông tin quan điểm sai trái, thù địch.

 

KẾT LUẬN

"Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" là nội dung tư tưởng, chính trị và giải pháp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng nhằm phát huy sức mạnh nội lực, tạo động lực cho công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, của dân tộc.

Một nửa thế kỷ đã qua từ khi Bác đi xa, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn luôn đồng hành cùng Đảng, dân tộc và cách mạng Việt Nam; soi sáng, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đạt nhiều thành tựu to lớn.

Đẩy mạnh hơn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người nhằm tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh vừa là trách nhiệm vừa là tình  cảm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của mỗi tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể các cấp, của mỗi người dân chúng ta đối với Bác Hồ - vị Cha kính yêu của dân tộc./.

Trần Cương

                                                                                     Ban Tuyên giáo Huyện ủy


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.178-179.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.49.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.624.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.576.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.379-380.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.453.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.362.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.280-281.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.484.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.382-383.

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611.

[13] Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2012, tr.44.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.558.

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.396.

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.256.

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.368.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16, 130-131.

[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16, 130-131.

[20] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[22] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[23] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611.

[24] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.280-281.

[25] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.228.

[26] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.495.

[27] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309, 313.

[28] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309, 313.

[29] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.452.

 

[30] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.420.

[31] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.249.

[32] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.290.

[33] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611-612.

[34] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668.

[35] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.21.

[36] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.478.

[37] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127.

[38] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.374.

[39] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.298.

[40] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.477-480.

[41] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.248.

[42] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90, 89.

[43] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90, 89.

[44] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90.

[45] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.340.

[46] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.55.

[47] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.89.

[48] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.217.

[49] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.338.

[50] Ví dụ như Nghị quyết số 23-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện các nghị quyết này.

09/02/2020 9:00 CHĐã ban hành
Mỹ Thạnh Bắc quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020Mỹ Thạnh Bắc quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020
 Vừa qua sáng ngày 06/02/2020, Đảng ủy xã Mỹ Thạnh Bắc tổ chức hội nghị học tập, quán triệt chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

IMG_20200208_200128.jpg 

Ảnh: Quang cảnh hội nghị học tập

Tham dự buổi học tập có gần 100 đảng viên thuộc Đảng bộ xã. Thông qua hình thức xem video, các đại biểu được nghe GS.TS Hoàng Chí Bảo - nguyên Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh báo cáo nội dung chuyên đề "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh".

Chuyên đề học tập nhằm nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về nội dung cơ bản, giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tiếp tục đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người trở thành nền nếp, gắn với thực hiện nghị quyết TW4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Chuyên đề năm 2020 về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách  Hồ Chí Minh" gồm 2 phần chính:

Phần thứ nhất: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Phần thứ hai: Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới.

Sau khi học tập, nghiên cứu chuyên đề, mỗi cán bộ đảng viên, công nhân viên chức  sẽ viết bài thu hoạch tự liên hệ bản thân và đề ra phương hướng phấn đấu làm theo trong thời gian tới.

Nguyễn Tấn Phát 

07/02/2020 9:00 CHĐã ban hành
Bác Hồ với vấn đề vệ sinh phòng bệnhBác Hồ với vấn đề vệ sinh phòng bệnh
Trong những dịp tiếp xúc với quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên, trong hoàn cảnh kháng chiến cũng như trong hoà bình, nhất là những khi nói đến công cuộc xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, dường như bao giờ Người cũng đề cập đến vấn đề sức khoẻ, đến giữ gìn vệ sinh - một biện pháp đơn giản, phổ cập và quan trọng của hoạt động y tế, theo phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh.

 Người nhắc nhở "Mọi người phải chú ý giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ". Người chỉ rõ: "Mình dù nghèo, ai cấm mình ǎn ở sạch sẽ. .. Sạch sẽ thì ít đau ốm. Sức khoẻ thì làm việc...". Người thường xuyên yêu cầu: "Phải rất chú ý việc vệ sinh".

Trong 12 điều rǎn cán bộ, Người cǎn dặn: "... phải dạy đồng bào vệ sinh thường thức". Phát động phong trào đời sống mới, nội dung chủ yếu được Người nêu ra cũng là giữ gìn vệ sinh. Người luôn luôn đề cao trách nhiệm của mọi người trong công tác vệ sinh phòng bệnh, luyện tập thể dục để chủ động giữ gìn và nâng cao sức khoẻ. Và cho đến những dòng cuối cùng để lại trước lúc đi xa, khi nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế, Người cũng đề cập đến "phát triển công tác vệ sinh, y tế". 

Đã thành một nét riêng, khi Người trong lần đến thǎm một đơn vị nào đó, Người đi từ bếp lên nhà; đến làm việc ở một cơ quan nào đó, Người đi kiểm tra khu nhà ǎn, khu vệ sinh trước rồi mới lên chỗ hội họp, đến vǎn phòng. Thǎm hỏi một gia đình công nhân hay một gia đình nông dân hoặc tới thǎm một khu tập thể, Người cũng thường như vậy - trước hết xem xét nơi ǎn, chốn ở, nhà bếp, nguồn nước, nhà tắm, hố xí và dǎn dò mọi người ǎn ở trật tự, vệ sinh. Quan sát với một sự quan tâm sâu sắc nơi ǎn, chốn ở, nơi thuộc vào đoạn cuối của quá trình sinh hoạt, nơi đặc biệt cần phải giữ vệ sinh mà thường khi người ta hay coi nhẹ, Bác Hồ của chúng ta như một vệ sinh viên vĩ đại, khi khen ngợi, động viên, lúc hướng dẫn, nhắc nhở nhân dân sống cho hợp vệ sinh, giữ cho bền sức khoẻ...

 Cứ vậy, giản dị và sâu sắc, thiết thực và dễ hiểu, cụ thể mà bao quát, Bác Hồ của chúng ta nói đến những gì cơ bản, thiết thực, những vấn đề và những việc làm khi được nêu ra ai cũng thấy cần, ai cúng hiểu được, cũng làm được, càng thấy phải làm thường xuyên cho sức khoẻ bản thân và vì sức khoẻ cộng đồng. Người, một vị Chủ tịch nước mà rất đỗi sâu sát thực trạng ǎn, mặc, ở của quần chúng nhân dân, bằng ngôn ngữ của quần chúng, bằng tục ngữ, đã làm cho nhân dân hiểu sâu một lẽ rất đời thường: thực hiện vệ sinh để sức khoẻ cũng như luyện tập thể dục để bồi bổ sức khoẻ là việc không tốn kém, khó khǎn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được.

 Có lẽ hiếm thấy một vị lãnh tụ nào của Đảng ta lại nhiều lần đề cập đến vấn đề giữ gìn vệ sinh như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đặt vấn đề: "Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết. Từ đó Người dẫn dắt nhận thức cho nhân dân về vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh yêu nước. Người phân tích ruồi muỗi là thứ bé nhỏ, dễ làm cho người ta chủ quan khinh địch. Nó bé nhỏ nhưng độc ác mà hàng triệu cái hại nhỏ, cộng lại sẽ thành cái to. Ruồi muỗi là bạn đồng minh của giai cấp bóc lột. Nó gây ra nhiều tật bệnh, làm cho nhân dân ta ốm đau. Người ốm đau thì sức lao động bị giảm sút, công cuộc phát triển kinh tế và vǎn hoá bị hạn chế. Vì vậy chúng ta phải ra sức tiêu diệt những kẻ địch độc ác là ruồi muỗi, để tiêu diệt bệnh tật, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Người làm phát triển nhận thức trong nhân dân về ý nghĩa chính trị, xã hội của giữ gìn vệ sinh, về giá trị lớn lao của vệ sinh yêu nước. Người khơi động trong nhân dân ý thức tự giác và lòng hǎng hái, tinh thần quyết tâm thực hiện vệ sinh yêu nước: "Không nên chủ quan, cho việc diệt ruồi muỗi là một việc nhỏ, dễ làm, chỉ quan hệ đến vệ sinh mà thôi. Nó có ý nghĩa chính trị nữa, có quan hệ đến kinh tế và vǎn hoá. Chắc bà con còn nhớ trước đây bọn thực dân Pháp gọi chúng ta là nòi giống bẩn thỉu. Nhân dân ta đã đuổi được thực dân Pháp, thì phải tiếp tục phấn đấu để tiêu diệt nốt cả bạn đồng minh của chúng là ruồi muỗi. Người yêu cầu phải kết hợp việc tiêu diệt ruồi muỗi với những công tác vệ sinh khác như diệt chuột, quét dọn nhà cửa, đường sá, lấp các vũng nước bẩn, v.v... Về phương pháp tiến hành Người chỉ ra:

 Phải phát động quần chúng, dựa vào lực lượng của quần chúng; Phải lãnh đạo chặt chẽ, đôn đốc và kiểm tra thường xuyên. Phải có quân chủ lực... Phải có trọng điểm như nhà thương, trường học, doanh trại, nhà máy, hàng quán, chợ búa, nơi đông người... 

Những điều Người chỉ ra quá đỗi cụ thể và thiết thực. Không chỉ với ngày ấy, mà đối chiếu với thực trạng vệ sinh ở nhiều thành phố, bản làng hiện nay, khi mà tốc độ đô thị hoá rất nhanh mà quản lý hành chính ở nhiều nơi bất cập; trong khi vệ sinh thực phẩm, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường ở nơi này nơi khác chưa được lãnh đạo và quản lý thực hiện tốt, chúng ta càng thấy những điều Người nêu về vệ sinh phòng bệnh vấn đầy tính thời sự. Những quan tâm sâu sát, cụ thể và thiết thực của Người vẫn luôn là kiểu mẫu cho cán bộ các cấp noi theo trong việc bảo vệ, chǎm lo cho sức khoẻ của nhân dân. Thực hiện vệ sinh theo tư tưởng của Người là thực hiện một phương châm cơ bản phòng bệnh hơn chữa bệnh.

Gia Khánh

Nguồn Bộ Y Tế; NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997

 

05/02/2020 11:00 SAĐã ban hành
Hồ Chí Minh với xây dựng Đảng chân chính cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đứcHồ Chí Minh với xây dựng Đảng chân chính cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đức
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về đảng cộng sản-đảng cách mạng chân chính theo học thuyết đảng kiểu mới của Lênin và đảng cộng sản cầm quyền có một vị trí nổi bật, có vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

bac ho.jpg 

Bác Hồ làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch (năm 1957). Ảnh tư liệu

Sau 10 năm đầu trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước (kể từ năm 1911), năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Việt Nam, là người đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, khi mới 30 tuổi. Cũng năm 1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc được đọc tác phẩm của Lênin về "Quyền tự quyết của các dân tộc" qua bản tiếng Pháp, tạo nên bước ngoặt nhận thức trong cuộc hành trình tư tưởng của Người. Sau này, khi hồi tưởng lại, Người đánh giá, tư tưởng Lênin đã rọi sáng cho Người, giúp Người nhận ra "đây là cái cẩm nang thần kỳ, là con đường giải phóng cho chúng ta, là con đường cứu sống chúng ta". 

Mười năm sau, năm 1930, ở tuổi 40, Người sáng lập Đảng ta với tên gọi "Đảng Cộng sản Việt Nam". Người trực tiếp soạn thảo Chính cương, Sách lược của Đảng, Điều lệ Đảng và thư gửi quốc dân đồng bào nhân sự kiện Đảng ra đời, kêu gọi đồng bào đoàn kết xung quanh Đảng, đi theo con đường cách mạng mà Đảng vạch ra. 

Trước đó, tại Quảng Châu (Trung Quốc), vào năm 1927, Người viết tác phẩm "Đường cách mệnh", đặt nền móng tư tưởng lý luận, đồng thời chuẩn bị về chính trị và tổ chức cho Đảng ra đời. Tác phẩm quan trọng này được viết sau Cách mạng Tháng Mười Nga đúng 10 năm, khi Người đã là một người Mác-xít, đã giác ngộ chủ nghĩa Lênin, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu chân lý của thời đại mới dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và từ thực tiễn xây dựng nước Nga Xô viết trong buổi đầu áp dụng "Chính sách kinh tế mới" (NEP) của Lênin. Người khẳng định trong tác phẩm "Đường cách mệnh": "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin".

Do vậy, khi xác định "tư cách của một người cách mệnh", Người đặc biệt nhấn mạnh "phải giữ chủ nghĩa cho vững" và phải "ít lòng tham muốn về vật chất". Từ đây cho chúng ta thấy, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng Mác-xít kiên định, suốt đời đi theo lý tưởng, mục tiêu cộng sản chủ nghĩa, trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Song, Người là một nhà Mác-xít sáng tạo, chứ không giáo điều. Người trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, không chỉ vận dụng mà còn phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới. Vốn sống và kinh nghiệm mà Người tích lũy được trong 30 năm tìm đường cứu nước (1911-1941), với hoạt động thực tiễn phong phú của Người trong phong trào công nhân và lao động ở châu Âu và phương Tây, cũng như thực tiễn gần 30 năm Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, kể từ khi Người về nước cho đến khi Người qua đời (1941-1969), thực sự là trường học vĩ đại-trường học của cuộc sống lao động-học tập và tranh đấu, rèn đúc nên cốt cách và bản lĩnh của một nhà cách mạng chân chính, nhà Mác-xít hiện đại Hồ Chí Minh.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng chân chính cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đức-đạo đức cách mạng. Đây là đóng góp quan trọng nổi bật của Hồ Chí Minh vào lý luận đảng cầm quyền. Theo Hồ Chí Minh, Đảng phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Đảng phải là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Người đòi hỏi Đảng và từng tổ chức đảng, cán bộ và đảng viên phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu để thực sự là những tấm gương sáng cho quần chúng tin tưởng, noi theo.

Theo Hồ Chí Minh, muốn vậy Đảng phải nêu cao tính kỷ luật, tinh thần đoàn kết, có sức chiến đấu. Đảng phải tỏ rõ bản lĩnh của một đảng cách mạng, đảng chiến đấu, đảng hành động. Nguyên tắc cốt tử của Đảng là tập trung dân chủ và Người cũng thường nhấn mạnh dân chủ tập trung, bảo đảm lãnh đạo tập thể gắn liền với cá nhân phụ trách. Kỷ luật của Đảng phải thật nghiêm minh, là "một thứ kỷ luật sắt", thống nhất ý chí và hành động, dựa trên sự tự giác của mỗi đảng viên.

Một trong những luận điểm quan trọng của Người về Đảng chân chính cách mạng là thái độ và hành động của Đảng trước những khuyết điểm, sai lầm mà Đảng và cán bộ đảng viên có thể mắc phải. Đảng phải tỏ rõ thái độ dũng cảm và tính phê phán nghiêm túc, trung thực mà sâu xa là trách nhiệm của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng, đối với cuộc sống của nhân dân.

Là một nhà tư tưởng Mác-xít sáng tạo đầy bản lĩnh, là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh có những đóng góp ở tầm phát kiến về lý luận xây dựng đảng cộng sản cầm quyền, làm sâu sắc và phong phú thêm lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Chỉ riêng "12 điều xây dựng Đảng cách mạng chân chính" mà Người nêu ra trong "Sửa đổi lối làm việc" từ năm 1947 đã là sự tiếp nối, sự phát triển hợp lô-gíc những tư tưởng của Người về Đảng trong "Đường cách mệnh", năm 1927. Các tác phẩm Người viết năm 1949, cách đây hơn 70 năm, như: "Đảng ta", "Cần kiệm liêm chính", "Dân vận"… cho thấy Người đã nhạy cảm và sâu sắc như thế nào khi bàn tới nội dung xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng Đảng về đạo đức. Cho đến Di chúc (1965-1969) và tác phẩm lý luận cuối cùng của Người, được công bố đúng vào dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1969) "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", thì sự quan tâm của Người về đạo đức trong Đảng càng nổi bật.

Trong hàng ngũ các lãnh tụ cộng sản, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh là người quan tâm nổi bật nhất và có những kiến giải hệ thống nhất về xây dựng đảng cộng sản cầm quyền, cũng là người nhấn mạnh nhiều nhất về đạo đức cách mạng của Đảng, của cán bộ đảng viên và xây dựng Đảng về đạo đức, từ đó đề cập tới văn hóa của Đảng, nhất là của đảng cộng sản cầm quyền.

Vận dụng những tư tưởng quý báu đó của Người vào thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, chúng ta cần bảo đảm sự thống nhất hữu cơ, chỉnh thể trong nhận thức và hành động, gắn liền tư tưởng với đạo đức và phong cách, giữa lý luận với thực tiễn; đặc biệt chú trọng thực hành. Cần quán triệt và thể hiện sáng tạo những chỉ dẫn của Người trong công tác lãnh đạo của Đảng. Theo đó, lãnh đạo một cách khoa học, trên cơ sở khoa học và trình độ khoa học cao. Đảng phải đặc biệt tỏ rõ vai trò tiên phong về lý luận. Đảng lãnh đạo bằng sự gương mẫu, nêu gương. Đây là cách lãnh đạo tốt nhất, hợp với ý nguyện, lòng dân nhất, có tác dụng thúc đẩy tốt nhất đối với quần chúng-lãnh đạo bằng sức mạnh của đạo đức cách mạng, đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, để toàn tâm toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng lãnh đạo và cầm quyền một cách dân chủ, nêu cao tính chiến đấu, trên tinh thần tôn trọng pháp luật của nhà nước pháp quyền và Điều lệ Đảng. Chỉ như vậy mới bảo đảm hiệu quả lãnh đạo và uy tín ảnh hưởng sâu rộng của Đảng trong xã hội.

Sự hài lòng của người dân, niềm tin của người dân với Đảng, với chế độ là thước đo quan trọng nhất mà Đảng và mọi cán bộ đảng viên trong toàn Đảng phải tự ý thức, phải phấn đấu đạt được trong công tác, lối sống và mỗi lời nói, việc làm cụ thể.

Gia Nguyên

Nguồn tuyengiao.vn

30/01/2020 9:00 SAĐã ban hành
Bài thơ Bác viết Xuân Canh TýBài thơ Bác viết Xuân Canh Tý
Sinh thời, mỗi mùa xuân mới, Bác Hồ đều có thơ chúc tết đồng bào và chiến sỹ cả nước. Mỗi bài thơ một vẻ riêng, nhưng đều gắn lời chúc mừng đầu xuân với lời dặn dò nhắn nhủ, như lời hiệu triệu cả nước thực hiện nhiệm vụ cách mạng.

img_20200107100535 bac.jpg 

Ảnh tư liệu

Như năm Tân Mão 1951, Bác kêu gọi Toàn dân hăng hái một lòng/Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời. Năm Kỷ Dậu 1969, lời kêu gọi đầy thiết tha, giục giã: Tiến lên! chiến sỹ đồng bào/Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn. Bài thơ Bác viết Xuân Canh Tý 1960 là một bài thơ như thế:

Mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh!

Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!

Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,

Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,

Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.

Cả nước một lòng, hăng hái tiến lên,

Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!

Bài thơ viết lúc Nhà nước ta tròn 15 xuân xanh, Đảng ta tròn 30 tuổi trẻ. Ngay những câu thơ đầu, Bác dùng liên tục các câu mừng, chúc với dấu câu cảm thán cho thấy một tâm hồn phấn khởi, một giọng thơ hào sảng, phơi phới, tự hào.

Không tự hào sao được, khi một Đảng 30 tuổi đã lãnh đạo nhân dân cả nước đứng lên đánh đuổi thực dân phong kiến, thành lập nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực. Hơn thế nữa, đã lãnh đạo nhân dân cả nước làm nên một chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Không tự hào sao được, khi Nhà nước mới 15 xuân xanh đã hiên ngang đĩnh đạc với nhiều quốc gia hùng mạnh trên bàn hội nghị quốc tế Giơ ne vơ. Trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp rất căng thẳng, Hiệp định về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương..

Vẫn là lời chúc xuân quen thuộc, bài thơ chúc đồng bào cả 2 miền hoàn thành nhiệm vụ xây dựng XHCN ở miền Bắc  và đánh thắng giặc Mỹ ở miền Nam. Những "bền bỉ, vững bền mạnh mẽ" như lời thủ thỉ, lời căn dặn ân cần trong một gia đình lớn.

Hai câu cuối Cả nước một lòng, hăng hái tiến lên, Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ! chính là lời kêu gọi, là hiệu lệnh của người lãnh tụ, về việc sẽ mở màn một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bởi ta biết, những năm 1957 - 1959, Mỹ và tay sai tăng cường dùng bạo lực khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng. Tháng 5/1959, chính quyền Sài Gòn ra Luật 10 - 59, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, làm cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề. Đảng ta chủ trương con đường cách mạng bạo lực, chuyển cách mạng miền Nam tiến lên đấu tranh vũ trang, tạo thành cao trào cách mạng khắp miền Nam. Đặc biệt, mùa xuân năm 1960, phong trào "Đồng khởi" bắt đầu nổ ra ở huyện Mỏ Cày, sau đó nhanh chóng lan ra toàn tỉnh Bến Tre, phá vỡ từng mảng lớn chính quyền của địch. Thắng lợi của "Đồng khởi" dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sau đó, đánh dấu bước ngoặt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên làm chiến tranh cách mạng, mở ra thời kỳ khủng hoảng của chế độ Sài Gòn.

Vì vậy, 2 câu thơ cuối bài được xem như một hồi kèn xung trận đầu xuân, thúc giục cả nước bước vào giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, nỗ lực vì nhiệm vụ thống nhất non sông.

Xuân Canh Tý này đọc lại bài thơ Bác viết xuân Canh Tý năm ấy, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn tư tưởng, trí tuệ, tình cảm của nhà chính trị, nhà quân sự, nhà thơ Hồ Chí Minh. Từ đó thấm thía thêm bổn phận của những người đi sau trong việc giữ gìn thành quả cách mạng mà cha anh đã phải dùng máu xương giành được.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

25/01/2020 11:00 SAĐã ban hành
Mùa xuân của tuổi trẻMùa xuân của tuổi trẻ
Với tinh thần xung kích, năng động, sáng tạo, nhiều đảng viên viết nên câu chuyện mùa xuân của tuổi trẻ bằng nhiều việc làm tốt đẹp. Họ xứng đáng là những đảng viên trẻ tiêu biểu làm theo lời Bác, có những ý kiến, giải pháp sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, đi đầu trong phong trào đoàn kết, tập hợp thanh niên (TN) ở địa phương, đơn vị...

101 baotran.jpg 

Ảnh: Đảng viên Lê Thị Bảo Trân

Đảng viên trẻ Lê Thị Bảo Trân - cán bộ Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Công an tỉnh, được biết đến là 1 trong 392 đảng viên trẻ tiêu biểu toàn quốc được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tuyên dương nhân dịp tổng kết hoạt động cao điểm "Tuổi trẻ Việt Nam nhớ lời Di chúc theo chân Bác" và phát động đợt hoạt động "Tuổi trẻ Việt Nam sắt son niềm tin với Đảng".

27 tuổi, Bảo Trân được thử thách qua nhiều vị trí công tác khác nhau và luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Lúc đảm nhận vai trò Phó Bí thư Chi đoàn Công an huyện Đức Huệ, Bảo Trân khởi xướng nhiều phong trào, thu hút nhiều đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) tham gia. Đặc biệt, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ, nữ cán bộ công an vận động mạnh thường quân hơn 400 triệu đồng thực hiện hoạt động an sinh xã hội: Xây tặng 2 căn nhà đồng đội, 1 căn nhà tình bạn và nhiều suất học bổng tặng học sinh nghèo, vượt khó học giỏi,... Bên cạnh đó, Bảo Trân còn duy trì, nâng chất nhiều công trình TN mang lại hiệu quả thiết thực như TN Công an huyện Đức Huệ trực tiếp làm giấy chứng minh nhân dân tại nhà cho những người già yếu, bệnh tật, không đi lại được; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ĐVTN, học sinh các trường trên địa bàn huyện;...

2 năm công tác tại Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy, Công an huyện Đức Huệ (năm 2017, 2018), Bảo Trân lập và xử lý 233 hồ sơ vi phạm hành chính, quản lý 906.768 bao thuốc lá ngoại các loại, 96 chai rượu ngoại, 59 bao đường cát, 271 thùng nước ngọt cùng nhiều tang vật, phương tiện khác; hỗ trợ xác minh, tham mưu Ban Chỉ huy Công an huyện, Chủ tịch UBND huyện và Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 56 đối tượng. 

Bí thư Huyện đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp TN Việt Nam huyện Cần Giuộc - Trần Hải Phú là 1 trong 15 gương mặt đảng viên tiêu biểu xuất sắc đại diện cho hơn 10 triệu cán bộ, hội viên, TN Việt Nam vinh dự được nhận Giải thưởng "15 tháng 10" nhân dịp kỷ niệm 63 năm Ngày Truyền thống Hội Liên hiệp TN Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2019). Thành tích nổi bật của anh là phát huy được vai trò cán bộ Đoàn, Hội, đảng viên trẻ trong việc đoàn kết, tập hợp TN; thành lập nhiều mô hình hay, công trình thiết thực, hiệu quả, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

 102 hai phu.jpg

Ảnh: Đảng viên Trần Hải Phú

Là thủ lĩnh Đoàn hoạt bát, năng động, sáng tạo, anh mạnh dạn tham mưu thực hiện mô hình Cà phê sách, góp phần làm tốt công tác đoàn kết, tập hợp TN ở địa phương có nhiều khu, cụm công nghiệp. Đặc biệt, đây còn là nơi ĐVTN có thể gặp gỡ, giao lưu với các doanh nhân thành đạt, từ đó truyền cảm hứng sáng tạo, khởi nghiệp, cống hiến trong giới trẻ; tạo việc làm ngoài giờ cho nhiều ĐVTN ở địa phương cũng như tạo không gian vui chơi miễn phí cho trẻ em,…

Song song đó, Hải Phú còn nghiên cứu, đổi mới cách thức hoạt động của mô hình Tủ áo tình thương, góp phần thu hút đông đảo ĐVTN và người dân tham gia. Mô hình này hoạt động thứ năm hàng tuần tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cần Giuộc và di chuyển luân phiên về các xã, thị trấn trong huyện.Mỗi đợt, tủ áo trao tặng 200kg quần áo, vật dụng cá nhân cho hộ nghèo, gia đình gặp khó khăn trong cuộc sống. Đồng thời, anh luôn đồng hành với TN nông thôn trên bước đường lập thân, khởi nghiệp; tuyên truyền, nhân rộng các mô hình TN làm ăn hiệu quả như Hợp tác xã Tâm - Nông - Việt (trồng dưa lưới trồng nhà kín), nuôi heo rừng, nuôi tôm, đồ gỗ mỹ nghệ, trồng lan, nuôi dê, hoa sứ,... 

Để phát huy tinh thần đoàn kết, tập hợp TN trên địa bàn, Hải Phú khuyến khích các bạn trẻ sử dụng mạng xã hội để kết nối, lan tỏa những hành động đẹp. Đến nay, 30/30 cơ sở Đoàn của huyện sử dụng mạng xã hội thu hút gần 25.000 ĐVTN, góp phần thực hiện hiệu quả các hoạt động công tác Đoàn và phong trào TN ở địa phương. 

Với lòng nhiệt huyết của đảng viên trẻ, Hải Phú đưa hoạt động Đoàn, Hội của huyện luôn nằm trong tốp đầu của tỉnh. Đặc biệt, từ năm 2016 đến nay, tập thể Ủy ban Hội Liên hiệp TN Việt Nam huyện được tỉnh công nhận là đơn vị vững mạnh, xuất sắc.

Các gương mặt tiêu biểu như Lê Thị Bảo Trân, Trần Hải Phú là những điển hình đảng viên trẻ làm theo lời Bác. Những thành tích, sáng kiến của họ sẽ được nhân rộng trong các chương trình, phong trào hành động cách mạng của ĐVTN trong tình hình mới.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

24/01/2020 11:00 SAĐã ban hành
Nhớ về Bác trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộcNhớ về Bác trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộc
Tết đến, Xuân về, trong không khí của mùa Xuân Canh Tý 2020, mỗi người dân đất Việt lại nhớ về Bác, nhớ về trái tim bao la nhân ái "nâng niu tất cả, chỉ quên mình" của Người luôn dành hết thảy cho đồng bào và chiến sĩ cả nước nói chung, nhân dân Hà Nội nói riêng, nhất là ở vào thời khắc đất trời chuyển sang Xuân.

 nho-ve-bac-trong-nhung-ngay-tet-co-truyen-cua-dan-toc.jpg

Phút Giao thừa là lúc chúng ta nhớ Bác hơn mọi thời khắc​

Tết Nhâm Ngọ năm 1942, lần  thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Tết cổ truyền ở quê nhà sau những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước. Đón Xuân mới, Người viết bài thơ "Mừng Xuân năm 1942" đăng trên Báo "Việt Nam độc lập" số 114, ra ngày 1/1/1942 và chúc:

"Năm cũ qua rồi, chúc năm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc trong năm này,

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Năm này là năm rất vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới".

Tết Bính Tuất năm 1946 là Tết độc lập đầu tiên, có lẽ là Tết lòng Người hoan hỉ nhất. Chiều 30 Tết, tại Bắc Bộ phủ, nữ thi sĩ Ngân Giang tặng Người bức thêu bằng lụa đỏ, thêu bài thơ thất ngôn bát cú, nhan đề Kính tặng các bậc Anh hùng dân tộc. Người làm hai câu thơ tặng lại: "Gửi lời cảm tạ Ngân Giang/Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu". Tối 30 Tết, trong niềm vui của Tết độc lập đầu tiên, Người đi chúc Tết gia đình ông Từ Lâm, bán sách cũ ở Cửa Nam; một gia đình nghèo ở ngõ Hàng Đũa, nay là ngõ Lương Sử C; một gia đình buôn bán ở phố Phúc Kiến, nay là phố Lãn Ông; một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng, nay là phố Lê Duẩn và thăm Cố vấn Vĩnh Thuỵ.

Đêm 30, Người và một nhà báo Mỹ cải trang đến thăm đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân Hà Nội đón khoảnh khắc Giao thừa thiêng liêng đất trời chuyển giao từ năm cũ sang năm mới. Sáng mùng một Tết Bính Tuất, 7 giờ 30, Người sang nơi làm việc. Trên đường đi, Người ghé thăm và chúc Tết Sở Cảnh sát Trung ương ở phố Hàng Trống. Sau đó, Người đến Nhà hát Thành phố chúc Tết đồng bào và đọc lời Chúc mừng năm mới. Trước khi ra về, Người ra bao lơn Nhà hát vẫy chào đồng bào mít tinh trên Quảng trường. Buổi trưa, Người dự tiệc tại Bắc Bộ phủ cùng anh em Vệ quốc đoàn. 14 giờ, Người đến thăm thương, bệnh binh Pháp tại Bệnh viện Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Quân y 108) và Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức). 16 giờ, Người đến Ấu trĩ viên chia kẹo và ăn Tết cùng các cháu nhi đồng rồi trở lại nơi làm việc và sau đó về nhà.

Ngày mùng 2 Tết, Người đến thăm "Phiên chợ mười ngày" tổ chức tại Chùa Láng (xã Yên Lăng, huyện Từ Liêm, Hà Nội); tại đó, Người nói về ý nghĩa của "Ngày Nam Bộ kháng chiến", biểu dương nhân dân Hà Nội đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, sốt sắng tham gia phong trào ủng hộ đồng bào Nam Bộ chống Pháp và chúc toàn thể nhân dân hưởng Tết độc lập đầu tiên vui vẻ, hạnh phúc và tiết kiệm.

Tết Đinh Hợi năm 1947 là Tết của những quyết định lịch sử. Tối 19/12/1946, trong khi đồng bào và chiến sĩ cả nước chuẩn bị đón Tết kháng chiến đầu tiên, bộ chỉ huy tối cao của dân tộc đứng đầu là Người cũng đang họp bàn về vận nước tại Vạn Phúc (Hà Tây) - cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội (nay là Hà Nội). Đêm 30 Tết, mặc dù trời mưa rét, Người đã họp phiên tất niên cùng Hội đồng Chính phủ tại Phủ Quốc Oai. Sát cánh cùng Người và các vị Bộ trưởng trong không khí chuẩn bị đón Giao thừa là một vị Thượng thư của triều Nguyễn và một vị Giám mục của Giáo hội Thiên chúa giáo, cùng một câu nói rất Hồ Chí Minh, đậm đà bản sắc dân tộc Việt, đó là: "Tôi chỉ lo hai cụ không đến được. Hôm nay có mặt thế này là thắng lợi! Đại thắng lợi!"[1]. Sau khi gửi những lời chúc mừng năm mới đến các vị tham dự cuộc họp, Người đã thông báo vắn tắt tình hình chiến trường và những thành tích mà nhân dân ta đã giành được trong năm qua. Trước khi phiên họp đêm tất niên kết thúc, mọi người đều được nghe bài thơ chúc Tết Đinh Hợi của Người.

Đêm khuya, Người rời Quốc Oai đến chùa Trầm, đọc thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước; khẳng định niềm tin tất thắng vào cuocj kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Thống nhất độc lập, nhất định thành công!". Sau đó, Người nói chuyện thân mật với anh chị em công tác tại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đang đóng tại chùa Trầm. Sư cụ chủ trì chùa Trầm sau khi xin yết kến Người đã tặng Người mâm bánh chưng, bày tỏ chút lòng thành của nhà chùa. Người cảm ơn Sư cụ, xin nhận bánh và nói: "Chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công"[2]. Trong giờ khắc thiêng liêng của đất trời, của lòng thành tâm, Sư cụ thưa với Người: "Thưa cụ Chủ tịch, chẳng mấy khi Cụ đến, nhân năm mới, xin Cụ mấy chữ để dán trước cửa chùa. Bác vui lòng dùng bút lông và nghiên mực đã được mài sẵn, viết mấy chữ Hán trên giấy hồng điều thành đôi câu đối: "Kháng chiến tất thắng/Kiến quốc tất thành"[3] và một dòng chữ nhỏ: Đinh Hợi nguyên đán bên trái câu đối. Mặc dù câu đối không đề tên người viết, nhưng trong câu đối đó, hai chữ Tất Thành đã nói lên tất cả niềm tin và hy vọng của Người vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc nhất định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tết Ất Mùi năm 1955 là Tết Nguyên đán đầu tiên ở thủ đô Hà Nội sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi. Ngày 30 tết, báo Nhân dân đăng bài Chúc mừng năm mới của Người: "Năm mới, với tinh thần và cố gắng mới, chúng ta quyết làm tròn nhiệm vụ để tranh lấy thắng lợi mới trong công cuộc hoà bình. Vậy có câu đối Tết nôm na là "Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ - Tam dương khai thái/ Đoàn kết, thi đua, tăng gia, tiết kiệm - Ngũ phúc lâm môn".

Ngày 1 Tết, Người dành thời gian đi thăm công trường xây dựng đập Thác Huống, Thái Nguyên; công trường xây dựng tuyến đường sắt Mục Nam quan; một đơn vị quân đội thuộc trung đoàn 141(Đại đoàn 312) và một số gia đình nông dân xã Cam Giá, Đồng Hỷ- một xã đã haonf thành cải cách ruộng đất. Ở đập Thác Huống, Người chúc Tết anh chị em bộ đội, công nhân, cán bộ, dân công ở lại ăn Tết tại công trường. Ở đơn vị bộ đội, Người căn dặn phải đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa chiến sĩ với nhau, giữa quân và dân. Vì chỉ có đoàn kết và đoàn kết chặt chẽ thì cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất đất nước mới giành được thắng lợi trọn vẹn.

Tết Kỷ Dậu năm 1969 Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Người. Ngày 30 Tết, Người gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội; trong đó có khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn công an vũ trang bảo vệ Thủ đô. Năm đó, mặc dù sức khỏe giảm sút nhiều, song Người vẫn đặt ra chương trình đi thăm và chúc Tết khá dài. Tuy nhiên, để đảm bảo sức khỏe của Người, các đồng chí trong Bộ Chính trị đã bố trí để 6 giờ 30 sáng ngày mùng 1 Tết nguyên đán, Người cùng các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng đến thăm và chúc tết cán bộ chiến sĩ Quân chủng Phòng không không quân tại sân bay Bạch Mai - Hà Nội. Tại Hội trường lớn, Người đã gặp gỡ, nói chuyện với đại biểu các anh hùng, chiến sĩ thi đua, đại biểu các đơn vị có thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

11 giờ trưa ngày mùng 1 Tết, Người đến thăm và chúc Tết nhân dân xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Người cùng nhân dân xã Vật Lại khai xuân trồng cây trên đồi của xã. Buổi trưa, dưới bóng cây bạch đàn trên đồi Vật Lại, Người thân mật nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương và: "Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới, nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hòa. Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi"[4], để lại màu xanh muôn đời cho đất nước và con cháu các thế hệ mai sau. Chiều cùng ngày, Người và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng ăn cơm với chị Tạ Thị Kiều. Ngày hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng năm mới tới Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và các vị trong Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhân dịp đầu xuân mới năm Kỷ Dậu.

Người đã đi xa, nhưng mỗi người dân đất Việt nói chung, nhân dân Thủ đô Hà Nội nói riêng vẫn cảm nhận và ghi nhớ những câu chuyện kể về Người mỗi khi Tết đến, Xuân về. Đó là, để chuẩn bị đón Tết cổ truyền, kể từ Tết nguyên đán năm 1946, thường trước Tết ba tháng, Người đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho nhân dân; còn riêng mình, Người cũng tự chuẩn bị sớm ba việc nhằm phục vụ dân đón Tết: Viết  thư, làm thơ chúc mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp "Chúc Mừng Năm Mới" để kịp gửi đến bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài, định kế hoạch thăm dân trong những ngày Tết…

Gia Khánh

Nguồn Tuyengiao.vn

22/01/2020 10:00 CHĐã ban hành
Cải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoáiCải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoái
Trong bài viết "Tiêu chuẩn của người đảng viên" đăng trên Báo Nhân dân, số 2093, ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh"­ và Người nhấn mạnh, để trở thành đảng viên tốt thì trước hết không thể không cải tạo tư tưởng.

Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên chẳng những là kim chỉ nam trong nhận thức và hành động của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng trước kia, mà còn có giá trị to lớn, đã và đang tiếp tục soi sáng công tác phòng, chống suy thoái về tư tưởng của đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay, nhất là đối với đảng viên là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị. Vận dụng những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên hiện nay cần có quyết tâm chính trị lớn của toàn Đảng, của mỗi đảng viên. Do đó, cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung phương hướng, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, toàn Đảng và mỗi đảng viên phải thấu triệt và thực hiện nghiêm chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên. Theo đó, các tổ chức Đảng và đảng viên từ cơ sở đến Trung ương, nhất là các đảng viên là cán bộ chủ chốt thường xuyên quán triệt đầy đủ, sâu sắc và vận dụng sáng tạo những lời dạy của Hồ Chí Minh về tính cấp thiết và phương thức cải tạo tư tưởng của đảng viên; coi đây là khâu đột phá để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng.

Hai là, phát huy cao độ tinh thần "tự soi, tự sửa" của mỗi đảng viên. Mỗi người tự kiểm điểm, tự soi lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, quyết tâm tự gột rửa, sửa chữa tư tưởng và hành động xấu. Việc "tự soi, tự sửa" để cải tạo tư tưởng phải được tiến hành một cách chủ động, ngăn chặn từ xa, đẩy lùi từ sớm, ngay từ khi nó bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ, trong hành động của mình và điều quan trọng là phải thực hiện thường xuyên như lời căn dặn của Bác Hồ: "ngày nào cũng ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn".

Ba là, Đảng phải tăng cường "lãnh đạo tư tưởng" để thực hiện cải tạo có hiệu quả tư tưởng đảng viên trong thời kỳ mới. Vì theo Hồ Chí Minh: "Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc". Người đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng của Đảng và yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập để nâng cao trình độ lý luận, chính trị một cách thực chất. Song song với đó, Đảng phải thực hiện có chất lượng, hiệu quả những nội dung liên quan đến đấu tranh tư tưởng.

Theo đó, công tác tuyên giáo trong bối cảnh mới phải tích cực đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"; ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ một cách hiệu quả. Trong đó, cần có quyết tâm chính trị cao trong: "Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch".

Bốn là, cải tạo tư tưởng đảng viên hiện nay phải kiên trì và chắc chắn. Cải tạo tư tưởng là một cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đồng thời là cuộc đấu tranh giữa tình cảm và lý trí, giữa sự cầu thị và tính bảo thủ, giữa mặt tốt và mặt xấu… trong tư tưởng mỗi đảng viên; thực chất là cuộc đấu tranh "ai thắng thắng ai" giữa tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Trong Đảng thường có đấu tranh tư tưởng, đó là do mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội và mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ phản ánh vào trong Đảng. Nếu trong Đảng không có mâu thuẫn và đấu tranh tư tưởng để giải quyết mâu thuẫn, thì sinh mệnh của Đảng cũng hết". Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, không đơn giản, vì thế một mặt, phải có tinh thần cách mạng tiến công; mặt khác, phải kiên trì và chắc chắn bởi: "Trong nội bộ, cần phải trải qua đấu tranh tư tưởng, mới đi đến nhất trí được. Chúng ta phải hết sức kiên nhẫn để đạt cho được sự nhất trí ở trong Đảng"./.

Gia Nguyên

Nguồn Tuyengiao.vn

11/01/2020 7:00 CHĐã ban hành
Cải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoáiCải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoái
Trong bài viết "Tiêu chuẩn của người đảng viên" đăng trên Báo Nhân dân, số 2093, ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh"­ và Người nhấn mạnh, để trở thành đảng viên tốt thì trước hết không thể không cải tạo tư tưởng.

​Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên chẳng những là kim chỉ nam trong nhận thức và hành động của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng trước kia, mà còn có giá trị to lớn, đã và đang tiếp tục soi sáng công tác phòng, chống suy thoái về tư tưởng của đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay, nhất là đối với đảng viên là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị. Vận dụng những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên hiện nay cần có quyết tâm chính trị lớn của toàn Đảng, của mỗi đảng viên. Do đó, cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung phương hướng, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, toàn Đảng và mỗi đảng viên phải thấu triệt và thực hiện nghiêm chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên. Theo đó, các tổ chức Đảng và đảng viên từ cơ sở đến Trung ương, nhất là các đảng viên là cán bộ chủ chốt thường xuyên quán triệt đầy đủ, sâu sắc và vận dụng sáng tạo những lời dạy của Hồ Chí Minh về tính cấp thiết và phương thức cải tạo tư tưởng của đảng viên; coi đây là khâu đột phá để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng.

Hai là, phát huy cao độ tinh thần "tự soi, tự sửa" của mỗi đảng viên. Mỗi người tự kiểm điểm, tự soi lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, quyết tâm tự gột rửa, sửa chữa tư tưởng và hành động xấu. Việc "tự soi, tự sửa" để cải tạo tư tưởng phải được tiến hành một cách chủ động, ngăn chặn từ xa, đẩy lùi từ sớm, ngay từ khi nó bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ, trong hành động của mình và điều quan trọng là phải thực hiện thường xuyên như lời căn dặn của Bác Hồ: "ngày nào cũng ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn".

Ba là, Đảng phải tăng cường "lãnh đạo tư tưởng" để thực hiện cải tạo có hiệu quả tư tưởng đảng viên trong thời kỳ mới. Vì theo Hồ Chí Minh: "Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc". Người đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng của Đảng và yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập để nâng cao trình độ lý luận, chính trị một cách thực chất. Song song với đó, Đảng phải thực hiện có chất lượng, hiệu quả những nội dung liên quan đến đấu tranh tư tưởng.

Theo đó, công tác tuyên giáo trong bối cảnh mới phải tích cực đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"; ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ một cách hiệu quả. Trong đó, cần có quyết tâm chính trị cao trong: "Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch".

Bốn là, cải tạo tư tưởng đảng viên hiện nay phải kiên trì và chắc chắn. Cải tạo tư tưởng là một cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đồng thời là cuộc đấu tranh giữa tình cảm và lý trí, giữa sự cầu thị và tính bảo thủ, giữa mặt tốt và mặt xấu… trong tư tưởng mỗi đảng viên; thực chất là cuộc đấu tranh "ai thắng thắng ai" giữa tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Trong Đảng thường có đấu tranh tư tưởng, đó là do mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội và mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ phản ánh vào trong Đảng. Nếu trong Đảng không có mâu thuẫn và đấu tranh tư tưởng để giải quyết mâu thuẫn, thì sinh mệnh của Đảng cũng hết". Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, không đơn giản, vì thế một mặt, phải có tinh thần cách mạng tiến công; mặt khác, phải kiên trì và chắc chắn bởi: "Trong nội bộ, cần phải trải qua đấu tranh tư tưởng, mới đi đến nhất trí được. Chúng ta phải hết sức kiên nhẫn để đạt cho được sự nhất trí ở trong Đảng"./.

Gia Nguyên

Nguồn Tuyengiao.vn

11/01/2020 7:00 CHĐã ban hành
Đức Huệ tổ chức học tập, quán triệt chuyên đề năm 2020 cho cán bộ chủ chốtĐức Huệ tổ chức học tập, quán triệt chuyên đề năm 2020 cho cán bộ chủ chốt
Ngày 09/01/2020, Ban Thường vụ Huyện ủy Đức Huệ tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt chuyên đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" năm 2020 với nội dung về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh". Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Đức Huệ - Phạm Văn Trấn đến dự và phát biểu khai mạc hội nghị.

9-1-2020 Ong Pham Van Tran phat bieu khai mac hoi nghi.jpg

Ảnh: Bí thư Huyện ủy Đức Huệ - Phạm Văn Trấn phát biểu khai mạc

Tham gia học tập có gần 100 đại biểu là nguyên Ủy viên Ban Thường vụ huyện ủy; các đồng chí sĩ quan lực lượng vũ trang cấp hàm Đại tá đã nghỉ hưu trên địa bàn huyện; các đồng chí lãnh đạo các phòng, ban, ngành MTTQ và Đoàn thể huyện, Ủy viên Ủy ban kiểm tra Huyện ủy, trưởng, phó các hội đặc thù và các đồng chí là Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND – UBND các xã, thị trấn.

Tại hội nghị, các đại biểu được theo dõi video bài nói chuyện chuyên đề 2020 về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh" theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do GS.TS Hoàng Chí Bảo – Nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp, học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trình bày.

Trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chủ trương, quan điểm của Đảng ta về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là rất cần thiết nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

 9-1-2020 Duc Hue hoc tap chuyen de hoc tap va lam theo Bac nam 2020.jpg

Ảnh: Toàn cảnh hội nghị

Để việc học tập chuyên đề năm 2020 đạt kết quả thiết thực, Bí thư Huyện ủy huyện Đức Huệ yêu cầu các đồng chí phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, tham gia học tập nghiêm túc, tập trung nghiên cứu, tự liên hệ bản thân để chọn nội dung đăng ký thực hiện. Đồng thời, các Chi, Đảng ủy trực thuộc căn cứ vào kế hoạch của Huyện ủy, xây dựng kế hoạch tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện nghiêm túc những nội dung cơ bản về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2020…

Tấn Hữu

10/01/2020 8:00 SAĐã ban hành
Hội LHPN Đức Huệ với Chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo"Hội LHPN Đức Huệ với Chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo"
Đức Huệ là huyện vùng sâu, biên giới nên đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là cán bộ hội viên, phụ nữ. Vì vậy, Hội LHPN huyện Đức Huệ đã xây dựng chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" giai đoạn 2019- 2021.

 1-1-2020 Chuong trinh TSNT trao qua cho ho ngheo (2).jpg

Ảnh: Chương trình thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo tặng quà cho hộ nghèo

Tuy chỉ thực hiện mới được 01 năm nhưng bước đầu chương trình đã thực sực mang lại hiệu quả với nhiều hoạt động thiết thực như trao nhà, tặng quà, tặng học bổng….đã giúp nhiều phụ nữ và trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Bà Huỳnh Thị Phương Quyên – Chủ tịch Hội LHPN huyện Đức Huệ cho biết: "Để chương trình hoạt động có hiệu quả thì trước tiên Hội LHPN huyện đã triển khai đến Hội LHPN 11 xã – thị trấn để Hội LHPN các xã khảo sát, rà soát tỷ lệ hộ nghèo nhất là hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ. Chú trọng xem xét những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc những hộ đơn thân, bệnh tật để trên cơ sở đó lập danh sách tạo điều kiện giúp đỡ cho các hộ có điều kiện vươn lên. Ngoài ra, để chương trình phát triển Hội cũng đã tích cực vận động, kêu gọi mạnh thường quân ở khắp mọi nơi thông qua các mối quan hệ của cá nhân trong tổ chức Hội, đặc biệt là trên mạng xã hội như Zalo, Facebook vận động mạnh thường quân giúp đỡ những hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo đúng nguyện vọng cũng như nhu cầu của người nghèo đang gặp phải cần được hỗ trợ".

 1-1-2020 Hoc bong den Dom Dom den voi hoc sinh ngheo vuot kho.jpg

Ảnh: Học bổng Đèn Đom Đóm đến với học sinh nghèo vượt khó

Điểm nổi bật đầu tiên của chương trình thực hiện trong năm 2019 đạt được phải kể đến việc vận động mái ấm tình thương cho phụ nữ nghèo khó khăn về nhà ở nhằm tạo điều kiện an cư lạc nghiệp. Theo đó, Hội LHPN huyện đã vận động mạnh thường quân hỗ trợ được 05 căn nhà mái ấm tình thương với tổng kinh phí 200 triệu đồng cho phụ nữ nghèo ở các xã gồm Mỹ Thạnh Bắc, Bình Hòa Bắc và Mỹ Thạnh Đông.

Không dừng ở lại đó, Hội LHPN huyện còn vận động quà, tiền cho phụ nữ, trẻ em gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống với tổng số tiền trên 90 triệu đồng. Qua đó, chia sẻ với họ một phần khó khăn trong cuộc sống; trao học bổng cho 10 em học sinh nghèo hiếu học, vượt khó  tại các điểm Trường THCS-THPT Mỹ Quý, THCS-THPT Mỹ Bình, THCS Mỹ Thạnh Đông,.. với tổng số tiền hơn 37  triệu đồng nhằm tiếp sức các em trong việc đến trường. Gói thực phẩm hàng tháng cho 10 hộ gia đình trong chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" là 6 triệu đồng.

 1-1-2020 Chuong trinh tang qua cho em Que Hoa.jpg

Ảnh: Chương trình tặng quà cho em Quế Hoa học sinh lớp 12 trường THPT Đức Huệ bị tai nạn giao thông

Ngoài các hoạt động trên, Hội LHPN huyện còn chủ động đến tận nhà các hộ gia đình để thăm hỏi, tìm hiểu những khó khăn qua đó động viên tinh thần và kịp thời giúp đỡ cũng như tạo điều kiện cho các gia đình thật sự khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Đồng thời, Hội cũng tuyên truyền về các vấn đề đang bức xúc trong xã hội như: cảnh giác với việc xâm hại trẻ em, bắt cóc và buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới,... Bà Huỳnh Thị Phương Quyên – Chủ tịch Hội LHPN huyện Đức Huệ cho biết thêm, trong thời gian thực hiện chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" Hội cũng gặp không ít khó khăn đó là số hộ nghèo, hộ khó khăn nhiều, trường hợp đột xuất cần được giúp đỡ cũng phát sinh vì vậy chương trình giúp chưa đảm bảo chỉ giúp những những hộ thật đặc biệt khó khăn; mạnh thường quân hỗ trợ quà hàng tháng khó vận động vì vậy không có tính bền vững. Từ những khó khăn trên, Hội LHPN huyện cũng đã đề ra các giải pháp để thực hiện chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới"trong thời gian tới có hiệu quả hơn. Theo đó, các xã thị trấn khảo sát cụ thể từng hộ, từng đối tượng để đúng người, đúng hoàn cảnh. Bên cạnh đó, Huyện Hội sẽ phối hợp với các đơn vị tại huyện để giúp đỡ theo đúng chức năng của ngành, Hội như: Hội khuyến học huyện, Quỹ học bổng đèn đơm đóm (MTT), Phòng Lao động thương binh và xã hội để giúp đỡ kịp thời những chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

Từ những việc làm hiệu quả và thiết thực từ chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" mang lại bước đầu chương trình đã tạo điều kiện và giúp đỡ nhiều chị em phụ nữ và trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn huyện có thêm nghị lực để vươn lên trong cuộc sống. Mong rằng thời gian tới sẽ có nhiều mạnh thường quân hơn nữa chung tay và gắn bó với chương trình"Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" của Hội LHPN huyện Đức Huệ để chương trình hoạt động ngày càng sâu rộng không chỉ trong huyện mà còn vươn ra các huyện khác.  

Bài, ảnh: Kim Tiến

02/01/2020 11:00 CHĐã ban hành
Nêu gương sáng phẩm chất Bộ đội Cụ HồNêu gương sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

​Quân đội nhân dân Việt Nam, "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu" là những giá trị về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng; là lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

Quân đội ta là một quân đội cách mạng, ra đời từ phong trào cách mạng của toàn dân, vì nhân dân mà chiến đấu; được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; được nhân dân hết lòng đùm bọc, giúp đỡ.  75 năm qua, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ" mà nhân dân đã trao tặng và lời khen ngợi của Bác Hồ: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". 75 năm qua cũng là chặng đường mà Quân đội ta sát cánh cùng toàn dân anh dũng chiến đấu, lập nên nhiều chiến công oanh liệt: đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa vị thế nước ta ngày càng nổi bật trên trường quốc tế.

75 năm đã trôi qua, nhưng những chiến công của Quân đội ta vẫn đang và sẽ mãi mãi còn nguyên vẹn trong ký ức của mỗi người dân Việt Nam, nhất là lực lượng vũ trang nhân dân - những người trực tiếp chiến đấu và làm nên chiến thắng. Chiến thắng oanh liệt của Quân đội nhân dân Việt Nam là sự kiện lịch sử trọng đại, niềm tự hào dân tộc, để lại sự khâm phục của bạn bè quốc tế; thể hiện sâu sắc tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Theo đó, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" là một hệ thống chuẩn mực, giá trị nhân cách của người quân nhân cách mạng, làm cho hình ảnh người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tỏa sáng trong lòng nhân dân, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bởi vậy, việc bồi đắp, phát huy truyền thống phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; cũng là một trong nhiều nội dung, nhiệm vụ trong quá trình xây dựng Quân đội ta trưởng thành và chiến thắng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân, do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục". "Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội". Người động viên, cổ vũ, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân phải tích cực tham gia giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ bộ đội. Đồng thời, Người thường xuyên nhắc nhở bộ đội "… đánh giặc là vì dân…, không phải là "cứu tinh" của dân, mà phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân". Người yêu cầu: "Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu… Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội".

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, khác hẳn quân đội của các nước tư bản về bản chất. Quân đội ta là quân đội của dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng và Nhà nước tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện. Quân đội ta lấy lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Vấn đề chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và phẩm chất, đạo đức luôn là một yêu cầu khách quan hàng đầu. Thông qua học tập, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, làm tròn chức năng là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đi đến thắng lợi.

Tôi cho rằng, những phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ có nguồn gốc từ bản sắc truyền thống của dân tộc, nhân dân Việt Nam; từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng, của quân đội; sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện không ngừng của bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ. Chúng ta hiểu rằng, không chỉ trong quá khứ, mà trong mọi thời kỳ cách mạng, nhất là trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra những đòi hỏi mới về cả phẩm chất và năng lực công tác, Bộ đội Cụ Hồ phải luôn gìn giữ và phát huy phẩm chất quý báu đó, xứng đáng với danh xưng cao quý mà nhân dân trao tặng. Tự hào về quá khứ, Bộ đội Cụ Hồ  trong thời đại ngày nay càng cần phải ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, công tác, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mỗi cơ quan, đơn vị quân đội cũng cần tìm tòi, vận dụng những phương thức tuyên truyền, giáo dục bộ đội một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn hiện tại của đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế.

Thực tiễn hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tôi tin tưởng rằng, cán bộ, chiến sĩ thế hệ hôm nay và mai sau luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong mọi hoàn cảnh và trong mọi giai đoạn lịch sử của đất nước.

Ngày nay, có thể thấy sự phát triển của khoa học và công nghệ 4.0 đã giúp mọi người tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, truyền tải thông tin đến tất cả mọi đối tượng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ đội Cụ Hồ. Trong điều kiện đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng thì việc phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đang là yêu cầu đặt ra cấp thiết. Do vậy, các cơ quan, đơn vị chức năng cũng như các cấp uỷ, tổ chức đảng cần tăng cường giáo dục, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ của Quân đội ta; định hướng để cán bộ, chiến sĩ tiếp cận được thông tin khoa học, nhưng không bị ảnh hưởng bởi các thông tin xấu độc. Tôi rất tin tưởng ở đội ngũ những người làm khoa học và cán bộ, chiến sĩ của Quân đội ta. Đó là những người có trình độ, có lý tưởng, có ý chí, có kinh nghiệm thực tiễn và nhận thức được đúng-sai, thật-giả. Trước sự bùng nổ thông tin trên không gian mạng và trên các trang mạng xã hội, chúng ta cần đa dạng hình thức giáo dục cán bộ, chiến sĩ, trước hết là giáo dục lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết.

Trong chiến tranh cũng như thời bình, trong thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong Quân đội nhân dân là nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều. Mỗi người cán bộ chính là những tấm gương phản chiếu để chiến sĩ và cấp dưới học tập và noi theo. Quân đội ta có rất nhiều tấm gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực, vì vậy cần chọn những tấm gương điển hình, tiên tiến để tăng cường tuyên truyền, nêu gương, từ đó góp phần hạn chế những tiêu cực. Đồng thời, ngay từ bây giờ, các cấp, các ngành cần định hướng và giáo dục cho các thế hệ người Việt Nam phải làm chủ khoa học, công nghệ và làm chủ vận mệnh của mình.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, việc giáo dục nâng cao phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết để Quân đội ta trưởng thành, phát triển; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống./.

Gia Khánh

Nguồn đangcongsan.vn

22/12/2019 12:00 SAĐã ban hành
Tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt NamTiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam
Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, vượt qua bao gian lao, thử thách, chấp nhận hy sinh, anh dũng chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam đã chung tay gìn giữ, xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng như làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

quan-doi-anh-hung-ttxvn.jpg 

Ảnh minh họa

Cách đây 75 năm, trước yêu cầu của cách mạng Việt Nam và thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đây là sự kiện chính trị, lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội (CNXH); dựa vào nhân dân, sát cánh cùng với nhân dân, lập nhiều chiến công, thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế; xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cùng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng", làm sáng ngời hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ", xứng danh là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đang đứng trước nhiều vận hội, thời cơ thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp và có nhiều yếu tố không thuận lợi, dễ gây mất ổn định. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng quyền lợi; chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt; xung đột vũ trang, khủng bố, tấn công mạng và những vấn đề an ninh phi truyền thống gây bất ổn ở nhiều quốc gia. Trên Biển Đông tiếp tục có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", "phi chính trị hóa" quân đội, chia rẽ quân đội với Đảng, Nhà nước, nhân dân, bằng những thủ đoạn mới rất tinh vi, thâm độc. Trước tình hình đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu mới, rất cao và toàn diện; trong đó, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ Xã hội Chủ nghĩa (XHCN), giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để xây dựng, phát triển đất nước là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, QĐND Việt Nam cần không ngừng phát huy truyền thống anh hùng, tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, tập trung xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhân tố quyết định đảm bảo cho quân đội luôn giữ vững phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không ngừng phát huy bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và là cơ sở, nền tảng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Ngày nay, xây dựng quân đội về chính trị càng phải được chú trọng thực hiện bằng nhiều nội dung, biện pháp thiết thực. Trước hết, phải tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; nhận thức đúng chức năng, nhiệm vụ của quân đội, về đối tượng, đối tác... Toàn quân đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Trước mắt, quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 35 CT/TW của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 747-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương, làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, tiến tới Đại hội XIII của Đảng; tạo sự đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng bộ và toàn quân. Bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, toàn quân luôn là một khối đoàn kết, thống nhất, trung thành vô hạn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, sẵn sàng xả thân vì độc lập dân tộc và CNXH.

Quân đội tiếp tục phát huy vai trò xung kích trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Ra sức thi đua thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Phong trào Thi đua Quyết thắng, Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới, tạo động lực thúc đẩy hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của QĐND, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Toàn quân tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức QĐND Việt Nam đến năm 2021, đẩy mạnh sắp xếp, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng "tinh, gọn, mạnh", cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các lực lượng. Đồng thời, đột phá đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 765 NQ/QUTW, ngày 20/12/2012 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo. Chú trọng đề ra các giải pháp mới trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phù hợp với sự phát triển tư duy của Đảng về quốc phòng, quân sự và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đặc biệt, tập trung huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị thế hệ mới, hiện đại; nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập tác chiến hiệp đồng giữa các quân chủng, binh chủng và tác chiến khu vực phòng thủ... Cùng với đó, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện mẫu mực, tiêu biểu, duy trì nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; tích cực ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, công nghiệp quốc phòng... phù hợp với điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tố quốc, tiến trình hiện đại hóa quân đội, tạo bước chuyển mang tính đột phá về trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu.

Toàn quân cần nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, làm tốt công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý chặt chẽ vùng biển, vùng trời, biên giới, hải đảo, không gian mạng; chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình, nhất là ở tầm chiến lược, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chiến lược, sách lược linh hoạt, đúng đắn, phù họp, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, xử lý kịp thời, thắng lợi mọi tình huống quân sự, quốc phòng, không để bị động, bất ngờ.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND giữ vai trò nòng cốt. Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, quân đội phải quán triệt sâu sắc đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nắm vững Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; bám sát thực tiễn, dự báo chính xác tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước về các chiến lược, sách lược, bảo đảm xử lý kịp thời, thắng lợi mọi tình huống về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ về chiến lược; trong đó, công tác đối ngoại quốc phòng phải hết sức chú trọng giữ thế cân bằng, lòng tin chiến lược trong giải quyết những vấn đề quốc tế, khu vực đang nổi lên hiện nay, nhất là tình hình Biển Đông, tạo môi trường quốc tế thuận lợi bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Để hoàn thành trọng trách đó, quân đội phải tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, địa phương, triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn và đặc điểm của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng, an ninh, biên giới, biển, đảo. Trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, "thế trận lòng dân" vững chắc; xây dựng lực lượng thường trực chiến đấu và lực lượng dự bị động viên vững mạnh, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng mọi tình huống. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của toàn dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng nhằm không ngừng tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng của đất nước. Phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên từng địa bàn và cả nước; chú trọng nâng cao chất lượng phối hợp nắm tình hình, trao đổi thông tin, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; triển khai các phương án, kế hoạch bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, sự kiện chính trị; phòng, chống khủng bố, bạo loạn lật đổ, trấn áp các loại tội phạm, bảo vệ Đảng, Nhà nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.

Bốn là, hoàn thành tốt chức năng đội quân công tác trong thời bình. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, dựa vào dân, đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân là quy luật phát triển, cội nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta. Kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp đó, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần tích cực bám địa bàn, bám cơ sở, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác. Trong đó, chú trọng đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, chính sách hậu phương quân đội, "đền ơn đáp nghĩa", chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố cơ sở chính trị vững mạnh, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng. Cùng với đó, quân đội tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt, chỗ dựa tin cậy của nhân dân trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và xác định đây là nhiệm vụ "chiến đấu trong thời bình", góp phần củng cố vững chắc "thế trận lòng dân", tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019) và 75 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019) là một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, quân đội. Đây là dịp để cán bộ, chiến sĩ toàn quân nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng, vẻ vang, tự hào về truyền thống "Quyết chiến, quyết thắng" của QĐND anh hùng. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, với niềm tự hào dân tộc, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thật sự làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Gia Khánh

Nguồn Đangcongsan.vn

 

21/12/2019 12:00 SAĐã ban hành
"Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội...""Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội..."
 

 "Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội. Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí" là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư "Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền Đường số 4", đăng trên Báo Cứu quốc, số 1411, ra ngày 02 tháng 12 năm 1949.

Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, hơn 60 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân "cá - nước", đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.

Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược "diễn biến hòa bình" với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội. Lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.

Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp "Bộ đội cụ Hồ" trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về "Dân vận khéo", tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...

Gia Khánh

Nguồn Báo Quân khu 7

 

20/12/2019 3:00 CHĐã ban hành
"... Khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình...""... Khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình..."

 "… Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm: là đứa bé còn ở trong bụng mẹ và người đã chết bỏ vào quan tài. Có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm. Nhưng khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình và kiên quyết sửa chữa" là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại Hội nghị nghiên cứu Lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 28 tháng 11 năm 1959, Báo Nhân dân, số 2093, ngày 09 tháng 12 năm 1959.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm: Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, miền Bắc đã có hoà bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang bắt đầu xây dựng một xã hội mới, miền Nam vẫn còn dưới ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Đây cũng là thời điểm Đảng và Chính phủ, các cấp và các ngành từ Trung ương đến địa phương tiến hành công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc một cách kiên quyết và toàn diện, trên tinh thần đề cao, thật thà tự phê bình và phê bình để nghiêm túc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

     Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực đó. Mỗi người đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải đề cao và thật thà tự phê bình và phê bình.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình; coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề tự phê bình và phê bình càng trở nên cần thiết hơn.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đặc biệt là giáo dục về đạo đức cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ vai trò, sự cần thiết phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, mục đích phương pháp tự phê bình và phê bình; duy trì, thực hiện nghiêm túc nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy đảng, các tổ chức trong đơn vị. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất cao trong đơn vị, chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm cán bộ, chiến sĩ vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Gia Khánh

Nguồn Báo Quân khu 7

20/12/2019 3:00 CHĐã ban hành
Khắc ghi lời Bác Hồ dạyKhắc ghi lời Bác Hồ dạy
Bác Hồ luôn dành tình yêu vô hạn và đặt ra yêu cầu cao trong thực hiện chính sách đối với các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và coi đây là chính sách cấp bách trước mắt, cũng như là nhiệm vụ chính trị lâu dài của Đảng, Nhà nước ta.

 1.jpg

Thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh Vũ Đình Tụng nhân
Ngày Thương binh, tử sĩ 27-7. (Báo Cứu quốc, số 1305 ra ngày 27/7/1949).

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: "Nói đến bản Di chúc thì trước hết phải nói đến Người viết ra nó. Ðó là một con người suốt đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp bậc nhất trong thời đại ngày nay mà Lê-nin đánh giá rất đúng rằng đó là trí tuệ, lương tri và vinh dự của thời đại". Với trí tuệ mẫn tiệp và tình cảm cách mạng trong sáng, bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ 1000 từ, nhưng hầu như đã chứa đựng toàn vẹn: không thiếu việc gì, không sót một ai; trong đó, Bác Hồ luôn dành tình yêu vô hạn và đặt ra yêu cầu cao trong thực hiện chính sách đối với các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và coi đây là chính sách cấp bách trước mắt, cũng như là nhiệm vụ chính trị lâu dài của Đảng, Nhà nước ta - "Đầu tiên là công việc đối với con người".

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra tính tất yếu phải thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng. Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng chính sách thương binh, liệt sỹ lên ngang tầm một hoạt động văn hóa, như là một sự kế tục, ở quy mô toàn xã hội, truyền thống nhân nghĩa "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam. Sự cần thiết phải thực hiện tốt công tác thương binh, liệt sĩ, theo Người là nhằm chia sẻ nỗi đau của hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Vì vậy, ngày 7/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra "Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi" nhằm: "Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho các gia đình liệt sĩ đó, và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi".

Hiện thực hóa chủ trương lớn trên, tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm "Ngày thương binh" để nhân dân ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh, gia đình liệt sỹ và những người có công với đất nước. Thực hiện Chỉ thị của Người, Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, ban, ngành ở trung ương và địa phương đã họp ở xã Phú Minh (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) bàn bạc, nhất trí đề nghị lấy ngày 27/7/1947 làm "Ngày thương binh, liệt sỹ". Từ đó, ngày 27/7 hằng năm trở thành "Ngày thương binh, liệt sỹ" trong cả nước. Theo Người, đây chính là một hình thức xây dựng "tượng đài kỷ niệm" trong lòng dân chúng để các thế hệ kế tiếp ghi nhớ công ơn, chiến công của những con người ưu tú đã ngã xuống vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người giải thích: "Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta".

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

 

20/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
"Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập...""Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập..."
​​

 "Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập. Đó là vì chưa biết quý trọng thời giờ, sắp đặt thời giờ cho hợp lý, còn lãng phí nhiều thời giờ" là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết "Một phút đồng hồ", đăng trên Báo Nhân dân, số 153, ra từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 12 năm 1953.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời, trong bất kỳ vị trí, hoàn cảnh nào Bác luôn tiên phong, mẫu mực, giản dị và tiết kiệm. Bác thường căn dặn mọi người phải thực hành tiết kiệm; tiết kiệm sức lao động, tiền bạc, đặc biệt là tiết kiệm thời gian. Với Bác, đức tính tiết kiệm thời gian là rất quý báu, Người luôn quý trọng, sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách chủ động bố trí, sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết và tác phong hiện đại, để sao cho không bị lãng phí thời gian một cách vô ích. Tiết kiệm thời gian của Bác không chỉ là tiết kiệm cho mình, mà còn không để lãng phí thời gian cho mọi người, không để người khác phải chờ đợi, phục vụ. Lời dạy của Bác là sự nhắc nhở sâu sắc, giúp cho mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân biết quý trọng thời gian của mình, qua đó nâng cao ý thức tiết kiệm thời gian, sử dụng thời giờ hợp lý bảo đảm công việc trôi chảy, nhanh chóng và góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hiện nay, trong bối cảnh đất nước ta đã và đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, "đi tắt, đón đầu", đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại. Lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học vô cùng quý giá cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong học tập, công tác và lao động sản xuất. Thực hiện tốt lời dạy của Bác đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian, sắp xếp thời gian khoa học, hợp lý; tích cực thi đua lao động sản xuất, học tập, công tác, tranh thủ tận dụng triệt để thời gian, thời cơ thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh như Bác hằng mong muốn.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta đều có thể tiết kiệm thời gian của mình, đó là phải xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cụ thể trên cơ sở nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị đòi hỏi; phải phân bổ thời gian hợp lý, khoa học để thực hiện chương trình, kế hoạch được giao; khi làm việc bất cứ một việc gì phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, thực hiện giờ nào việc ấy để không bị lãng phí thời gian một cách vô ích; phải chủ động chuẩn bị tốt nội dung trước khi tiến hành tổ chức các hoạt động như sinh hoạt, hội họp, gặp mặt, hội thảo… Một con người hiện đại chính là biết quý trọng thời gian và cũng là biện pháp để chúng ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa.

Gia Khánh

Nguồn Báo quân khu 7

19/12/2019 3:00 CHĐã ban hành
Đức Huệ học tập chuyên đề học và làm theo Bác năm 2020Đức Huệ học tập chuyên đề học và làm theo Bác năm 2020
Ngày 17/12/2019, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai chuyên đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" năm 2020 với nội dung "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh".

hop truc tuyen hoc tap chi thi 05 nam 2020 (3).jpg

Ảnh: Đại biểu dự học tập chuyên đề năm 2020 tại điểm cầu Đức Huệ

Tại điểm cầu huyện Đức Huệ, tham dự hội nghị có TUV, Bí thư huyện ủy - Phạm Văn Trấn; Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy – Võ Văn Hy; Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện – Nguyễn Thanh Nguyên cùng các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, lãnh đạo các phòng, ban, Mặt trận và các đoàn thể huyện.

Năm 2020 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiến tới đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng. Do vậy, việc nghiên cứu, học tập chuyên đề năm 2020 "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" là rất cần thiết, góp phần tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh đồng bộ và toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình để phát triển bền vững; đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

Tại hội nghị, GS.TS Hoàng Chí Bảo khái quát về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới. Đặc biệt, GS.TS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh, trong cuộc đời hoạt động của mình, đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng, tất yếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng của Bác tất cả vì cuộc sống nhân dân. Trong đó, phải gắn tư tưởng với hoạt động thực tiễn cơ sở; phải giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng, đoàn kết với dân,…để phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây cũng được xem là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chủ trương, quan điểm của Đảng ta về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là rất cần thiết nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

Để việc học tập chuyên đề năm 2020 đạt kết quả thiết thực, ông Bùi Trường Giang - Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, quán triệt, thực hiện trong cán bộ, đảng viên và nhân dân những nội dung cơ bản của chuyên đề phù hợp với tình hình, nhiệm vụ cụ thể của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; tiếp tục tuyên truyền những mô hình hay, cách làm hiệu quả, gương người tốt-việc tốt trong học tập và làm theo Bác tạo sức lan tỏa trong đời sống xã hội;....

Tiến Hữu

17/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
"Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội", là nguồn sức mạnh của Quân đội"Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội", là nguồn sức mạnh của Quân đội
Quân đội ta được Bác Hồ đặt cho tên gọi là Quân đội nhân dân với hàm ý sâu xa: Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ! Ngày 22-12 hằng năm không chỉ là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà đã trở thành Ngày hội Quốc phòng toàn dân, một ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với toàn thể nhân dân Việt Nam. Lịch sử 75 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tạo dựng và ngày càng tô thắm thêm hình ảnh cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", danh hiệu cao quý mà nhân dân kính trọng và suy tôn, gắn với hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

CT_HCM_VOI_QDND_phan_6_anh.jpg

Ảnh tư liệu: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đoàn Cao xạ Tam Đảo, ngày 25-9-1966.

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng vào điều kiện Việt Nam, thấm nhuần sâu sắc truyền thống văn hóa "nước lấy dân làm gốc" trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trong quá trình tổ chức, xây dựng, giáo dục, rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân, coi nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của quân đội. Người khẳng định: "Không có dân thì không có bộ đội", "Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội". Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ: "Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết". Người cho rằng: "Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ và đồng bào ta thành những người anh hùng".

Chỉ có đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu như con em ruột thịt thì Quân đội mới có được những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, sản xuất cũng như trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Cách xa dân, không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì Quân đội không thể có sức mạnh, không thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đoàn kết quân dân là nguồn sức mạnh của Quân đội ta được thể hiện ở chỗ nhân dân không chỉ là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho bộ đội, mà còn là lực lượng luôn che chở, nuôi dưỡng, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong những năm tháng chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh nhân dân ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương đã biết vượt lên những khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần để chắt chiu từng lon gạo, hạt muối, tấm áo, đồng tiền giúp đỡ bộ đội. Nhân dân còn là người chịu mất mát, hy sinh để che chở cho bộ đội trong những giờ phút một mất một còn, giữa cái sống và cái chết trong vòng vây của kẻ thù.

Trong điều kiện hòa bình xây dựng đất nước, nhân dân là người giúp đỡ bộ đội trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, cũng như trong thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống thiên tai, dịch họa, cứu hộ, cứu nạn… Chính nhờ sự giúp đỡ của nhân dân mà sức mạnh của "Bộ đội Cụ Hồ" không ngừng được củng cố và tăng cường, nhân cách "Bộ đội Cụ Hồ" ngày càng được hoàn thiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: "Các chiến sĩ và nhân dân. Như cá với nước phải gần gụi nhau" (tập 5, tr.406). Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu quân dân đoàn kết, học hỏi lẫn nhau: "Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau".

Như vậy,"Quân với dân như cá với nước", Quân đội phải "hiếu với dân" là cách thể hiện rất độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Phẩm chất hiếu với dân của quân đội phản ánh thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu, công tác của quân đội, được quy định bởi sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng của nhân dân và quân đội. Bao trùm nhất của lòng hiếu với dân của quân đội ta là "vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ", vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó vừa là mục tiêu chiến đấu, vừa là phương châm hành động của tất cả cán bộ, chiến sĩ quân đội trong mọi giai đoạn cách mạng; ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, quân đội ta không có mục đích tự thân nào khác.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

16/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, củng cố mối quan hệ gắn bó, mật thiết quân - dân trong tình hình hiện nayVận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, củng cố mối quan hệ gắn bó, mật thiết quân - dân trong tình hình hiện nay
Mối quan hệ mật thiết với nhân dân là truyền thống cực kỳ quý báu, là nền tảng, cội nguồn sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ quân đội phải thường xuyên giữ gìn mối quan hệ quân - dân. Trong tình hình hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam là một yêu cầu, nhiệm vụ rất cần thiết.

BAC HO 1.jpg 

Ảnh tư liệu

Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, để quân đội ta hoàn thành tốt chức năng là đội quân công tác và đấu tranh làm thất bại những hoạt động của các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu thức thâm độc hòng tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", kích động, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, gắn bó mật thiết, gắn bó như "cá với nước" giữa quân và dân, việc quán triệt sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân vào xây dựng, củng cố, phát triển tình đoàn kết quân - dân càng quan trọng và cấp thiết.

Để vận dụng sáng tạo tư tưởng đó của Người, đòi hỏi cần tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó trước hết cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh giáo dục về bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội ta, nhất là bản chất, truyền thống mối quan hệ đoàn kết quân - dân, gắn bó như "cá với nước".

Trước hết, làm tốt công tác giáo dục, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Trong đó, tập trung làm sâu sắc hơn những quan điểm và nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân: Quân đội ta là quân đội của nhân dân, là con em, ruột thịt của nhân dân; nhân dân là nền tảng sức mạnh quân đội. Chỉ có trên nền tảng vững chắc là nhân dân, thì quân đội mới hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đồng thời, tăng cường giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ những nội dung cơ bản trong đường lối, quan điểm  của Đảng về công tác dân vận, công tác dân tộc và công tác tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, cũng như những nội dung chủ yếu của Quy chế Dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Trên cơ sở đó, đẩy mạnh giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ về bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội ta, nhất là bản chất, truyền thống mối quan hệ đoàn kết quân - dân. Bồi đắp, xây dựng lòng tự hào, ý thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong vun đắp, giữ gìn, phát huy, phát triển mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân trong giai đoạn hiện nay.

Hai là, tổ chức thực hiện tốt nội dung công tác dân vận trong tình hình mới.

Trọng tâm của công tác dân vận của quân đội ta hiện nay là: Tham gia xây dựng địa phương vững mạnh về chính trị, phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời kỳ mới, góp phần giáo dục, nâng cao ý thức "vì nhân dân phục vụ" cho cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, công tác dân vận của quân đội cần hướng mạnh về cơ sở, quan tâm đến những vấn đề thiết thực trong đời sống nhân dân, nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, quân đội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa quân đội và nhân dân. Tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo phong trào cách mạng rộng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đồng bào theo tôn giáo, về mọi mặt của đời sống xã hội trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân vận. Khi tiến hành công tác dân vận, phải thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện; giúp nhân dân thấy rõ quyền lợi, nghĩa vụ công dân và quyền làm chủ trực tiếp theo đúng quy định của pháp luật. Thường xuyên sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp, phản ánh của nhân dân...

Ba là, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ dân vận ở cơ sở.

Thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ dân vận phải "óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm"(11), luôn "gần dân, học dân, nghe theo dân"(12) và phương châm "Chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, hiệu quả" trong tiến hành công tác dân vận. Cần phải đổi mới mạnh mẽ về nội dung, hình thức, phương pháp dân vận để bảo đảm mỗi cán bộ, chiến sĩ vừa là một quân nhân, một công dân gương mẫu, vừa là một cán bộ "dân vận khéo" hết lòng vì dân, vì nước. Đặc biệt, coi trọng và tập trung dân vận ở những địa bàn trọng yếu vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, những vùng kinh tế khó khăn. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo những nội dung, biện pháp trong công tác dân vận, phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương. Tích cực, chủ động tổ chức bồi dưỡng kiến thức, năng lực, kinh nghiệm, phương pháp, tác phong công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm công tác dân vận. Phát huy vai trò trách nhiệm của đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ dân vận của đơn vị. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ dân vận là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, địa bàn trọng điểm về quốc phòng - an ninh.

Bốn là, tích cực, chủ động thực hiện chương trình phối hợp hoạt động giữa các đơn vị quân đội với các tổ chức đoàn thể nhân dân, chính quyền địa phương.

Thông qua công tác dân vận, các đơn vị tích cực giúp đỡ chính quyền nhân dân địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; luôn là lực lượng đi đầu ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, sát cánh cùng nhân dân trong phòng, chống bão, lũ, thiên tai, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng, phát triển kinh tế, góp phần ổn định đời sống của nhân dân. Các đơn vị quân đội đóng quân làm nhiệm vụ trên các địa bàn phải xây dựng và duy trì thường xuyên chế độ nắm tình hình thực hiện mối quan hệ đoàn kết quân - dân, chủ động phát hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch trên địa bàn, có kế hoạch hoạt động phù hợp và xử lý kịp thời những tình huống xảy ra. Thường xuyên thực hiện tự phê bình và lắng nghe ý kiến phê bình của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân và nhân dân địa phương về thực hiện mối quan hệ đoàn kết giữa đơn vị và nhân dân địa phương; định kỳ thông báo tình hình, rút kinh nghiệm trong công tác phối hợp hoạt động giữa địa phương và đơn vị. Cùng với địa phương tổ chức tốt sơ kết, tổng kết các hoạt động quân đội tham gia xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương và địa phương tham gia xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân - dân trong thời kỳ mới, góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách hậu phương quân đội. Đồng thời, tiếp tục phối hợp thực hiện tốt các cuộc vận động lớn, như "Ngày vì người nghèo", "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư",...

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta cho thấy, chỉ có thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ đoàn kết quân - dân thì mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội mới có phương hướng, nội dung, phương pháp công tác dân vận đúng đắn. Đó chính là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm cho quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng đội quân công tác trong tình hình hiện nay, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

16/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Tăng cường gắn bó máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mớiTăng cường gắn bó máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới
Chỉ có quân đội cách mạng mới có thể có đầy đủ nguồn sức mạnh từ nhân dân, nguồn sức mạnh vô tận, không bao giờ cạn kiệt, bảo đảm sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội, thể hiện ưu thế hơn hẳn so với quân đội của chủ nghĩa đế quốc.

dangvabachovoiquandoi.jpg

Ảnh tư liệu: Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập tại một khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo,huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, nhất là trước những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế, cũng như sự chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược "diễn biến hoà bình" với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, thì tinh thần đoàn kết quân dân, sự thương yêu, giúp đỡ của nhân dân đối với quân đội và sự hy sinh phục vụ nhân dân của quân đội càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa hơn bao giờ hết đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của "Bộ đội Cụ Hồ". Chính vì vậy, tăng cường mối quan hệ quân - dân luôn luôn là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tất cả các giai đoạn cách mạng.

Thấm nhuần quan điểm tư tưởng: "Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là "cứu tinh" của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân", để tăng cường gắn bó máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới cần quán triệt một số giải pháp sau:

Một là, cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu tổng kết những bài học kinh nghiệm về sự đoàn kết quân dân trong củng cố, tăng cường sức mạnh của Quân đội ta trong những cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong thời kỳ hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để vận dụng vào giai đoạn mới. Đồng thời, tiếp tục đi sâu nghiên cứu những yêu cầu, nội dung, hình thức, biện pháp giải quyết mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân, làm rõ hơn vai trò của nhân dân, của việc phát huy sức mạnh của nhân dân trong củng cố, tăng cường sức mạnh của quân đội, cũng như vai trò của quân đội trong việc giúp đỡ dân, bảo vệ dân, củng cố cái nền gốc tạo nên sức mạnh của quân đội, của "Bộ đội Cụ Hồ".

Hai là, chủ động nắm, dự báo tình hình, tham mưu đúng, trúng, hiệu quả; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, vận dụng linh hoạt các nội dung, hình thức công tác dân vận phù hợp. Cơ quan dân vận, cán bộ dân vận và cơ quan chính trị các cấp phải thường xuyên nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị và nhiệm vụ chính trị của địa phương, bám sát địa bàn; dự báo đúng tình hình để tham mưu với cấp ủy, chỉ huy các cấp kịp thời đề ra những chủ trương, giải pháp phù hợp. Trong thực hiện, cần vận dụng linh hoạt các hình thức; chú ý lồng ghép, đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua "Dân vận khéo", xây dựng đơn vị "Dân vận tốt" gắn với phong trào Thi đua Quyết thắng trong Quân đội.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đặc biệt trong các nhiệm vụ. Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị 154-CT/ĐUQSTW, ngày 09-4-2008 của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Hướng dẫn 445/HD-CT của Tổng cục Chính trị về "Tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền đặc biệt trong tình hình mới". Trước mắt tập trung tuyên truyền và thực hiện Chỉ thị Số 35-CT/TW, ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Chỉ thị số 747-CT/QUTW ngày 23/7/2019 của Quân uỷ Trung ương về đại hội Đảng các cấp, trong Đảng bộ Quân đội, tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, hướng dẫn, triển khai các hoạt động công tác dân vận - tuyên truyền đặc biệt; đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Bốn là, thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, nhất là thông qua công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, thực hiện tốt mối quan hệ quân với dân như cá với nước phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn mới. Đồng thời, thông qua công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách và sự kết hợp giữa các mặt công tác đó mà tiếp tục củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân. Làm cho mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc Việt Nam ý thức được sâu sắc nhiệm vụ chăm lo xây dựng quân đội, cũng như làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm, tình cảm đối với nhân dân, sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu, hy sinh vì dân, sẵn sàng xả thân giúp đỡ nhân dân trong khó khăn, hoạn nạn.

Năm là, thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng, bồi dưỡng sức dân, chăm lo vun trồng cái nền, gốc vững mạnh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, những địa bàn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, những căn cứ cách mạng, thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" gắn với thực hiện tốt 12 điều kỷ luật khi quan hệ với Nhân dân.

Thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội, cũng như thực tiễn xây dựng, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội đã khẳng định vai trò của sự đoàn kết quân dân, là một trong những nguồn gốc quan trọng đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của Quân đội ta. Đây là một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trong trong xây dựng, củng cố, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đồng thời, còn là một trong những bài học kinh nghiệm quý giá được rút ra từ thực tiễn xây dựng Quân đội ta trong 75 năm qua, không chỉ có ý nghĩa, giá trị trong lịch sử, mà còn được vận dụng trong củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện mới đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

16/12/2019 4:00 CHĐã ban hành
Bộ đội Cụ HồBộ đội Cụ Hồ

Tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều xây dựng LLVT, Quân đội để bảo vệ đất nước và thể chế của mình. Nhưng dường như chẳng ở đâu lại có một đội quân được nhân dân tin yêu gọi là Quân đội Nhân dân - đặc biệt được danh xưng Bộ đội Cụ Hồ như ở Việt Nam.

Cụ Hồ - Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người khai sinh ra nước Việt Nam độc lập (2-9-1945) và trước đó (22-12-1944) người sáng lập và rèn luyện "Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân" tổ chức tiền thân của Quân đội ta hiện nay.

Quân đội Nhân dân Việt Nam được mang tên Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là do Cụ Hồ, người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta sáng lập mà trong sâu thẳm, Quân đội ấy mang phẩm chất cao quý của người con ưu tú, vĩ đại của dân tộc đã suốt đời hy sinh cho dân, cho nước. Chính vì thế, QĐND Việt Nam được nhân dân tin yêu, che chở, đùm bọc - một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ.

Bộ đội Cụ Hồ mang bản chất truyền thống cách mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Mình đã từng dạy: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

Xứng đáng với lời khen tặng ấy với sự đùm bọc của nhân dân, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, 75 năm qua, Quân đội ta đã vượt qua muôn trùng khó khăn thách thức, cùng toàn Đảng, toàn dân, đánh thắng nhiều "đế quốc to", giải phóng, thống nhất đất nước, giữ yên từng tấc đất, vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.

Để có chiến công vĩ đại ấy đã có hàng triệu cán bộ, chiến sĩ, CNVCQP hy sinh tính mạng hoặc hiến một phần thân thể vì Tổ quốc. Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, nhưng đến nay vẫn còn hàng vạn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, chưa xác định được mộ phần; đúng như câu thơ linh thiêng đã khắc ghi tại các đền thờ liệt sĩ: "Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/Hồn bay lên hóa linh khí quốc gia".

Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam và 30 năm ngày Hội quốc phòng toàn dân, chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hàng triệu người lính Bộ đội Cụ Hồ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc.

Chúng ta tin tưởng ở QĐND Việt Nam. Phát huy bản chất, truyền thống cách mạng tốt đẹp, Quân đội ta sẽ không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, vững vàng về chính trị, tinh nhuệ về trình độ tác chiến, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ nhân dân, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Gia Khánh

Nguồn Baoquankhu7.vn

15/12/2019 10:00 CHĐã ban hành
75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước"75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước"
Trên chặng đường lịch sử 75 năm xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với nguồn sức mạnh của sự gắn bó keo sơn thắm thiết quân dân. Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh.

 dkh.jpg

Ảnh tư liệu: Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát đồn Đông Khê tại Chiến dịch Biên giới năm 1950

Để tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc xây dựng lực lượng chính trị của cách mạng là điều cơ bản nhất, là việc phải làm đầu tiên, rồi mới xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang. Đó chính là quan điểm "người trước súng sau", là xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để trên nền tảng đó xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đuổi kẻ thù, giành lấy chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là luôn tăng cường và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động.

Trên tinh thần đó, vấn đề "tổ chức ra quân đội công nông" đã được khẳng định trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam mùa Xuân năm 1930). Tiếp đó, khởi đầu từ những Đội tự vệ đỏ trong phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đến đội vũ trang Cao Bằng, du kích Nam Kỳ, Bắc Sơn (sau đổi thành Cứu quốc quân), Ba Tơ,… cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng, thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập ngày 22/12/1944. Với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần) và từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động, đã phát triển từ đội thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, "nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam".

Từ buổi đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đội quân đó từ nhân dân mà ra nên phải dựa vào dân, luôn gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu để được dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc và chở che. Vì chỗ dựa vững chắc nhất của quân đội là lòng dân, cho nên "trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ" và "phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân". Đồng thời, thấm nhuần chỉ dẫn của Người: "Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kỳ việc gì khó cũng làm được và nhất định thắng lợi", trong mọi hoàn cảnh, quân đội "phải tăng cường công tác chính trị, luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội", phải làm cho "mỗi người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước"…

Đây chính là sức mạnh của quân đội cách mạng, thể hiện sâu sắc tư tưởng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, cho thấy sự khác biệt với quan điểm quân sự tư sản, lấy vai trò của chỉ huy với một đội quân nhà nghề cùng súng ống, vũ khí và trang bị kỹ thuật làm sức mạnh. Đó luôn là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và sản xuất, thực hiện tốt nhiệm vụ vừa tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là đội quân luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động, luôn thực hiện mối quan hệ quân dân gắn bó "như cá với nước" và nhận được sự góp sức người, sức của từ nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trong toàn quốc, thấu triệt quan điểm: 1) Mục đích của cuộc kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. 2) Tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. 3) Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, v.v..4) Tiến hành kháng chiến toàn diện, kết hợp các mặt trận và các hình thức đấu tranh; trong đó, đấu tranh quân sự là chủ chốt, Quân đội nhân dân Việt Nam (với các tên gọi Việt Nam giải phóng quân, Vệ quốc quân, Quân đội quốc gia Việt Nam và cuối cùng là Quân đội nhân dân Việt Nam) đã ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường.

Quân đội luôn được "tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo" thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu; đội ngũ cán bộ - "những người tướng giỏi của đoàn thể" và chiến sĩ quân đội luôn được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đã xuất phát từ thực tiễn và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên "lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh",v.v.. để từng bước chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công; đã kiên cường, mưu trí và kiên trì, sáng tạo giành thắng lợi to lớn trong trận Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

 Tuy nhiên chiến tranh chưa kết thúc, không chỉ giúp thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ, can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử. Quyết tâm đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cả nước đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân với tinh thần đoàn kết "triệu người như một", với niềm tin chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và ý chí "đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự".

Tiếp tục phát huy truyền thống "cả nước đánh giặc" của cha ông trong lịch sử, thấm nhuần lời dạy của Lênin, khi có chiến tranh phải "biến cả nước thành một dinh luỹ cách mạng", lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được xây dựng và ngày càng phát triển, hình thành thế trận bao vây và tiêu diệt địch. Để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xuất phát từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà". 

Để thực hiện lời Người, đồng thời để có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra sức rèn luyện, học tập nâng cao trình độ tác chiến trên chiến trường, phối hợp với quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đưa cách mạng tiến lên bằng những bước nhảy vọt. Cuối cùng, không chỉ phát triển về mọi mặt, không chỉ luôn rèn luyện và ngày một trưởng thành mà quân đội ta còn chớp đúng thời cơ và "thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa" để giành thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đát nước.

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

10/12/2019 10:00 CHĐã ban hành
Phòng, chống bệnh lười biếngPhòng, chống bệnh lười biếng
Ngay từ những năm tháng đầu tiên khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Công việc khẩn cấp bây giờ" đã cảnh báo sớm về những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh lười biếng. Nhận diện và đấu tranh phòng, chống bệnh lười biếng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là vấn đề rất cần thiết hiện nay.

phong-chong-benh-luoi-bieng-1.jpg 

Chủ tịch Hồ Chí Minh lao động tăng gia sản xuất cùng cán bộ, chiến sĩ bảo vệ. (Ảnh tư liệu)

LƯỜI BIẾNG CŨNG LÀ KẺ ĐỊCH

Trong tác phẩm "Cần, kiệm, liêm, chính", khi bàn về chữ "Cần", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Lười biếng là kẻ địch của chữ cần. Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc. Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn, hàng vạn người khác"(1). Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc": "Bệnh lười biếng - Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh"(2); Người giải thích cặn kẽ hơn: "Bệnh lười biếng - Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết, không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó. Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng. Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng, không đến nơi đến chốn. Kết quả nhỏ là: nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần. Kết quả nặng là: phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi. Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp"(3).

Người cảnh báo thái độ lười học tập, nhất là lười học tập lý luận chính trị, văn hóa và chuyên môn - nghiệp vụ: "Lười biếng: Không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ của mình về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ. Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế"(4).

Khi cho rằng, lười biếng cũng là đắc tội với đồng bào, với Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã đưa ra hình ảnh so sánh: "Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc"(5).

NGUỒN GỐC BỆNH LƯỜI BIẾNG 

Theo Hồ Chí Minh, cũng giống như bệnh "kiêu ngạo", bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên không tự nhiên sinh ra, không thuộc về bản chất vốn có của họ, lại càng không phải bản chất của Đảng ta, nó do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại. Về nguyên khách quan, từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc trong bài "Tình cảnh nông dân An Nam" đăng trên Báo La Vie Ouvrière, ngày 4-1-1924 đã viết: "Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp. Người nông dân An Nam nói riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản. Chính họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đói"(6). Tiếp đến, ở tác phẩm "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa", Người lý giải: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác"(7). Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người giải thích rõ hơn: "Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa"(8).

Về nguyên nhân chủ quan, Hồ Chí Minh cho rằng, nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: "… vì tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đẻ ra nhiều cái xấu như lười biếng, tham ô, đòi hưởng thụ, kèn cựa, địa vị... Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa"(9). Theo Người, "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng. Ví dụ: lười biếng, hủ hóa, suy tính tiền đồ"(10); "Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. "Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy". Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v.. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội"(11).

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ ra một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến bệnh lười biếng là: "…việc giáo dục chính trị còn sơ sài, thiếu sót. Vì vậy mà một số cán bộ và công nhân còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thái độ làm thuê, thiếu tinh thần làm chủ tập thể. Do đó mà có những hiện tượng xấu như: lười biếng, kèn cựa, thiếu kỷ luật, kém đoàn kết, tham ô, lãng phí"(12).

"PHƯƠNG THUỐC" KHẮC PHỤC BỆNH LƯỜI BIẾNG 

Theo Hồ Chí Minh, khắc phục bệnh lười biếng này là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu trước mắt là khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để nâng cao đời sống nhân dân: "Nước ta còn lạc hậu, dân ta còn nghèo, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn cải thiện đời sống, thì chúng ta càng phải Cần, phải Kiệm, phải chống lười biếng, chống lãng phí"(13). Hơn nữa, đó còn là mục tiêu của xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; "Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ. Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm trọn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau. Ai sợ khó, sợ khổ, muốn "ngồi mát ăn bát vàng", người đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa"(14).

Do đó, Người yêu cầu: "…phải gạt bỏ những thái độ sai lầm như: thỏa mãn với thành tích bước đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh nghiệm đã có, có ít nhiều tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng, hoài nghi những sáng kiến bình thường của quần chúng; lười biếng, không tích cực học tập cái mới, v.v.."(15).

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Hồ Chí Minh nêu ra những "phương thuốc" hữu hiệu để "chữa bệnh lười biếng" đó là:

"Cách chữa:

- Các cơ quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng. Mỗi việc gì đều phải chỉ bảo cách làm.

- Cấp trên phải hiểu rõ tình hình cấp dưới và tình hình quần chúng, để chỉ đạo cho đúng.

- Khi nghị quyết việc gì, phải cẩn thận, rõ ràng. Khi đã nghị quyết thì phải kiên quyết thi hành"(16).

Phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ mọi mặt, Hồ Chí Minh coi đó là biện pháp hết sức rất cần thiết. Người yêu cầu: "Phải chú ý học tập: Chống lười biếng, ngại học tập, muốn nghỉ ngơi. Muốn tiến bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì phải học tập các chính sách của Đảng và Chính phủ"(17). Đồng thời, phải ra sức học tập ở nhân dân, bởi: "Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra"(18).

Người cũng yêu cầu trong Đảng, trong Chính phủ, các cấp, các ngành và mọi đoàn thể cùng mỗi cá nhân phải "…cần có một cuộc vận động: Tiêu diệt lười biếng, nâng cao năng suất, củng cố kỷ luật lao động"(19).

Những lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng chẳng những có giá trị lịch sử, mà còn luôn có tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng nếu được quán triệt và vận dụng sáng tạo sẽ khắc phục có hiệu quả bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên, đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên "vừa hồng, vừa chuyên", công tâm, thạo việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới./.

Gia Khánh

Nguồn Tạp chí Tuyên giáo số 11/2019

 

05/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ
Chịu trách nhiệm chính:​  Ông Lê Văn Nên - PCT.UBND huyện. ​
Địa chỉ: ​Khu phố 2 thị trấn Đông Thành huyện Đức Huệ, Long An.
Điện thoại : (072) 3854230​ * Fax: (072) 3854771 ​ * Email: bbtduchue​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​