Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHọc tập làm theo lời Bác

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 177202
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Nhớ về Bác trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộcNhớ về Bác trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộc
Tết đến, Xuân về, trong không khí của mùa Xuân Canh Tý 2020, mỗi người dân đất Việt lại nhớ về Bác, nhớ về trái tim bao la nhân ái "nâng niu tất cả, chỉ quên mình" của Người luôn dành hết thảy cho đồng bào và chiến sĩ cả nước nói chung, nhân dân Hà Nội nói riêng, nhất là ở vào thời khắc đất trời chuyển sang Xuân.

 nho-ve-bac-trong-nhung-ngay-tet-co-truyen-cua-dan-toc.jpg

Phút Giao thừa là lúc chúng ta nhớ Bác hơn mọi thời khắc​

Tết Nhâm Ngọ năm 1942, lần  thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Tết cổ truyền ở quê nhà sau những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước. Đón Xuân mới, Người viết bài thơ "Mừng Xuân năm 1942" đăng trên Báo "Việt Nam độc lập" số 114, ra ngày 1/1/1942 và chúc:

"Năm cũ qua rồi, chúc năm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc trong năm này,

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Năm này là năm rất vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới".

Tết Bính Tuất năm 1946 là Tết độc lập đầu tiên, có lẽ là Tết lòng Người hoan hỉ nhất. Chiều 30 Tết, tại Bắc Bộ phủ, nữ thi sĩ Ngân Giang tặng Người bức thêu bằng lụa đỏ, thêu bài thơ thất ngôn bát cú, nhan đề Kính tặng các bậc Anh hùng dân tộc. Người làm hai câu thơ tặng lại: "Gửi lời cảm tạ Ngân Giang/Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu". Tối 30 Tết, trong niềm vui của Tết độc lập đầu tiên, Người đi chúc Tết gia đình ông Từ Lâm, bán sách cũ ở Cửa Nam; một gia đình nghèo ở ngõ Hàng Đũa, nay là ngõ Lương Sử C; một gia đình buôn bán ở phố Phúc Kiến, nay là phố Lãn Ông; một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng, nay là phố Lê Duẩn và thăm Cố vấn Vĩnh Thuỵ.

Đêm 30, Người và một nhà báo Mỹ cải trang đến thăm đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân Hà Nội đón khoảnh khắc Giao thừa thiêng liêng đất trời chuyển giao từ năm cũ sang năm mới. Sáng mùng một Tết Bính Tuất, 7 giờ 30, Người sang nơi làm việc. Trên đường đi, Người ghé thăm và chúc Tết Sở Cảnh sát Trung ương ở phố Hàng Trống. Sau đó, Người đến Nhà hát Thành phố chúc Tết đồng bào và đọc lời Chúc mừng năm mới. Trước khi ra về, Người ra bao lơn Nhà hát vẫy chào đồng bào mít tinh trên Quảng trường. Buổi trưa, Người dự tiệc tại Bắc Bộ phủ cùng anh em Vệ quốc đoàn. 14 giờ, Người đến thăm thương, bệnh binh Pháp tại Bệnh viện Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Quân y 108) và Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức). 16 giờ, Người đến Ấu trĩ viên chia kẹo và ăn Tết cùng các cháu nhi đồng rồi trở lại nơi làm việc và sau đó về nhà.

Ngày mùng 2 Tết, Người đến thăm "Phiên chợ mười ngày" tổ chức tại Chùa Láng (xã Yên Lăng, huyện Từ Liêm, Hà Nội); tại đó, Người nói về ý nghĩa của "Ngày Nam Bộ kháng chiến", biểu dương nhân dân Hà Nội đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, sốt sắng tham gia phong trào ủng hộ đồng bào Nam Bộ chống Pháp và chúc toàn thể nhân dân hưởng Tết độc lập đầu tiên vui vẻ, hạnh phúc và tiết kiệm.

Tết Đinh Hợi năm 1947 là Tết của những quyết định lịch sử. Tối 19/12/1946, trong khi đồng bào và chiến sĩ cả nước chuẩn bị đón Tết kháng chiến đầu tiên, bộ chỉ huy tối cao của dân tộc đứng đầu là Người cũng đang họp bàn về vận nước tại Vạn Phúc (Hà Tây) - cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội (nay là Hà Nội). Đêm 30 Tết, mặc dù trời mưa rét, Người đã họp phiên tất niên cùng Hội đồng Chính phủ tại Phủ Quốc Oai. Sát cánh cùng Người và các vị Bộ trưởng trong không khí chuẩn bị đón Giao thừa là một vị Thượng thư của triều Nguyễn và một vị Giám mục của Giáo hội Thiên chúa giáo, cùng một câu nói rất Hồ Chí Minh, đậm đà bản sắc dân tộc Việt, đó là: "Tôi chỉ lo hai cụ không đến được. Hôm nay có mặt thế này là thắng lợi! Đại thắng lợi!"[1]. Sau khi gửi những lời chúc mừng năm mới đến các vị tham dự cuộc họp, Người đã thông báo vắn tắt tình hình chiến trường và những thành tích mà nhân dân ta đã giành được trong năm qua. Trước khi phiên họp đêm tất niên kết thúc, mọi người đều được nghe bài thơ chúc Tết Đinh Hợi của Người.

Đêm khuya, Người rời Quốc Oai đến chùa Trầm, đọc thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước; khẳng định niềm tin tất thắng vào cuocj kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Thống nhất độc lập, nhất định thành công!". Sau đó, Người nói chuyện thân mật với anh chị em công tác tại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đang đóng tại chùa Trầm. Sư cụ chủ trì chùa Trầm sau khi xin yết kến Người đã tặng Người mâm bánh chưng, bày tỏ chút lòng thành của nhà chùa. Người cảm ơn Sư cụ, xin nhận bánh và nói: "Chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công"[2]. Trong giờ khắc thiêng liêng của đất trời, của lòng thành tâm, Sư cụ thưa với Người: "Thưa cụ Chủ tịch, chẳng mấy khi Cụ đến, nhân năm mới, xin Cụ mấy chữ để dán trước cửa chùa. Bác vui lòng dùng bút lông và nghiên mực đã được mài sẵn, viết mấy chữ Hán trên giấy hồng điều thành đôi câu đối: "Kháng chiến tất thắng/Kiến quốc tất thành"[3] và một dòng chữ nhỏ: Đinh Hợi nguyên đán bên trái câu đối. Mặc dù câu đối không đề tên người viết, nhưng trong câu đối đó, hai chữ Tất Thành đã nói lên tất cả niềm tin và hy vọng của Người vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc nhất định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tết Ất Mùi năm 1955 là Tết Nguyên đán đầu tiên ở thủ đô Hà Nội sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi. Ngày 30 tết, báo Nhân dân đăng bài Chúc mừng năm mới của Người: "Năm mới, với tinh thần và cố gắng mới, chúng ta quyết làm tròn nhiệm vụ để tranh lấy thắng lợi mới trong công cuộc hoà bình. Vậy có câu đối Tết nôm na là "Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ - Tam dương khai thái/ Đoàn kết, thi đua, tăng gia, tiết kiệm - Ngũ phúc lâm môn".

Ngày 1 Tết, Người dành thời gian đi thăm công trường xây dựng đập Thác Huống, Thái Nguyên; công trường xây dựng tuyến đường sắt Mục Nam quan; một đơn vị quân đội thuộc trung đoàn 141(Đại đoàn 312) và một số gia đình nông dân xã Cam Giá, Đồng Hỷ- một xã đã haonf thành cải cách ruộng đất. Ở đập Thác Huống, Người chúc Tết anh chị em bộ đội, công nhân, cán bộ, dân công ở lại ăn Tết tại công trường. Ở đơn vị bộ đội, Người căn dặn phải đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa chiến sĩ với nhau, giữa quân và dân. Vì chỉ có đoàn kết và đoàn kết chặt chẽ thì cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất đất nước mới giành được thắng lợi trọn vẹn.

Tết Kỷ Dậu năm 1969 Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Người. Ngày 30 Tết, Người gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội; trong đó có khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn công an vũ trang bảo vệ Thủ đô. Năm đó, mặc dù sức khỏe giảm sút nhiều, song Người vẫn đặt ra chương trình đi thăm và chúc Tết khá dài. Tuy nhiên, để đảm bảo sức khỏe của Người, các đồng chí trong Bộ Chính trị đã bố trí để 6 giờ 30 sáng ngày mùng 1 Tết nguyên đán, Người cùng các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng đến thăm và chúc tết cán bộ chiến sĩ Quân chủng Phòng không không quân tại sân bay Bạch Mai - Hà Nội. Tại Hội trường lớn, Người đã gặp gỡ, nói chuyện với đại biểu các anh hùng, chiến sĩ thi đua, đại biểu các đơn vị có thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

11 giờ trưa ngày mùng 1 Tết, Người đến thăm và chúc Tết nhân dân xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Người cùng nhân dân xã Vật Lại khai xuân trồng cây trên đồi của xã. Buổi trưa, dưới bóng cây bạch đàn trên đồi Vật Lại, Người thân mật nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương và: "Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới, nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hòa. Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi"[4], để lại màu xanh muôn đời cho đất nước và con cháu các thế hệ mai sau. Chiều cùng ngày, Người và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng ăn cơm với chị Tạ Thị Kiều. Ngày hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng năm mới tới Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và các vị trong Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhân dịp đầu xuân mới năm Kỷ Dậu.

Người đã đi xa, nhưng mỗi người dân đất Việt nói chung, nhân dân Thủ đô Hà Nội nói riêng vẫn cảm nhận và ghi nhớ những câu chuyện kể về Người mỗi khi Tết đến, Xuân về. Đó là, để chuẩn bị đón Tết cổ truyền, kể từ Tết nguyên đán năm 1946, thường trước Tết ba tháng, Người đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho nhân dân; còn riêng mình, Người cũng tự chuẩn bị sớm ba việc nhằm phục vụ dân đón Tết: Viết  thư, làm thơ chúc mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp "Chúc Mừng Năm Mới" để kịp gửi đến bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài, định kế hoạch thăm dân trong những ngày Tết…

Gia Khánh

Nguồn Tuyengiao.vn

22/01/2020 10:00 CHĐã ban hành
Cải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoáiCải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoái
Trong bài viết "Tiêu chuẩn của người đảng viên" đăng trên Báo Nhân dân, số 2093, ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh"­ và Người nhấn mạnh, để trở thành đảng viên tốt thì trước hết không thể không cải tạo tư tưởng.

Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên chẳng những là kim chỉ nam trong nhận thức và hành động của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng trước kia, mà còn có giá trị to lớn, đã và đang tiếp tục soi sáng công tác phòng, chống suy thoái về tư tưởng của đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay, nhất là đối với đảng viên là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị. Vận dụng những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên hiện nay cần có quyết tâm chính trị lớn của toàn Đảng, của mỗi đảng viên. Do đó, cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung phương hướng, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, toàn Đảng và mỗi đảng viên phải thấu triệt và thực hiện nghiêm chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên. Theo đó, các tổ chức Đảng và đảng viên từ cơ sở đến Trung ương, nhất là các đảng viên là cán bộ chủ chốt thường xuyên quán triệt đầy đủ, sâu sắc và vận dụng sáng tạo những lời dạy của Hồ Chí Minh về tính cấp thiết và phương thức cải tạo tư tưởng của đảng viên; coi đây là khâu đột phá để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng.

Hai là, phát huy cao độ tinh thần "tự soi, tự sửa" của mỗi đảng viên. Mỗi người tự kiểm điểm, tự soi lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, quyết tâm tự gột rửa, sửa chữa tư tưởng và hành động xấu. Việc "tự soi, tự sửa" để cải tạo tư tưởng phải được tiến hành một cách chủ động, ngăn chặn từ xa, đẩy lùi từ sớm, ngay từ khi nó bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ, trong hành động của mình và điều quan trọng là phải thực hiện thường xuyên như lời căn dặn của Bác Hồ: "ngày nào cũng ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn".

Ba là, Đảng phải tăng cường "lãnh đạo tư tưởng" để thực hiện cải tạo có hiệu quả tư tưởng đảng viên trong thời kỳ mới. Vì theo Hồ Chí Minh: "Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc". Người đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng của Đảng và yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập để nâng cao trình độ lý luận, chính trị một cách thực chất. Song song với đó, Đảng phải thực hiện có chất lượng, hiệu quả những nội dung liên quan đến đấu tranh tư tưởng.

Theo đó, công tác tuyên giáo trong bối cảnh mới phải tích cực đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"; ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ một cách hiệu quả. Trong đó, cần có quyết tâm chính trị cao trong: "Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch".

Bốn là, cải tạo tư tưởng đảng viên hiện nay phải kiên trì và chắc chắn. Cải tạo tư tưởng là một cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đồng thời là cuộc đấu tranh giữa tình cảm và lý trí, giữa sự cầu thị và tính bảo thủ, giữa mặt tốt và mặt xấu… trong tư tưởng mỗi đảng viên; thực chất là cuộc đấu tranh "ai thắng thắng ai" giữa tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Trong Đảng thường có đấu tranh tư tưởng, đó là do mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội và mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ phản ánh vào trong Đảng. Nếu trong Đảng không có mâu thuẫn và đấu tranh tư tưởng để giải quyết mâu thuẫn, thì sinh mệnh của Đảng cũng hết". Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, không đơn giản, vì thế một mặt, phải có tinh thần cách mạng tiến công; mặt khác, phải kiên trì và chắc chắn bởi: "Trong nội bộ, cần phải trải qua đấu tranh tư tưởng, mới đi đến nhất trí được. Chúng ta phải hết sức kiên nhẫn để đạt cho được sự nhất trí ở trong Đảng"./.

Gia Nguyên

Nguồn Tuyengiao.vn

11/01/2020 7:00 CHĐã ban hành
Cải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoáiCải tạo tư tưởng của đảng viên để phòng chống và đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoái
Trong bài viết "Tiêu chuẩn của người đảng viên" đăng trên Báo Nhân dân, số 2093, ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh"­ và Người nhấn mạnh, để trở thành đảng viên tốt thì trước hết không thể không cải tạo tư tưởng.

​Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên chẳng những là kim chỉ nam trong nhận thức và hành động của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng trước kia, mà còn có giá trị to lớn, đã và đang tiếp tục soi sáng công tác phòng, chống suy thoái về tư tưởng của đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay, nhất là đối với đảng viên là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị. Vận dụng những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên hiện nay cần có quyết tâm chính trị lớn của toàn Đảng, của mỗi đảng viên. Do đó, cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung phương hướng, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, toàn Đảng và mỗi đảng viên phải thấu triệt và thực hiện nghiêm chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cải tạo tư tưởng của đảng viên. Theo đó, các tổ chức Đảng và đảng viên từ cơ sở đến Trung ương, nhất là các đảng viên là cán bộ chủ chốt thường xuyên quán triệt đầy đủ, sâu sắc và vận dụng sáng tạo những lời dạy của Hồ Chí Minh về tính cấp thiết và phương thức cải tạo tư tưởng của đảng viên; coi đây là khâu đột phá để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng.

Hai là, phát huy cao độ tinh thần "tự soi, tự sửa" của mỗi đảng viên. Mỗi người tự kiểm điểm, tự soi lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, quyết tâm tự gột rửa, sửa chữa tư tưởng và hành động xấu. Việc "tự soi, tự sửa" để cải tạo tư tưởng phải được tiến hành một cách chủ động, ngăn chặn từ xa, đẩy lùi từ sớm, ngay từ khi nó bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ, trong hành động của mình và điều quan trọng là phải thực hiện thường xuyên như lời căn dặn của Bác Hồ: "ngày nào cũng ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn".

Ba là, Đảng phải tăng cường "lãnh đạo tư tưởng" để thực hiện cải tạo có hiệu quả tư tưởng đảng viên trong thời kỳ mới. Vì theo Hồ Chí Minh: "Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc". Người đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng của Đảng và yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập để nâng cao trình độ lý luận, chính trị một cách thực chất. Song song với đó, Đảng phải thực hiện có chất lượng, hiệu quả những nội dung liên quan đến đấu tranh tư tưởng.

Theo đó, công tác tuyên giáo trong bối cảnh mới phải tích cực đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"; ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ một cách hiệu quả. Trong đó, cần có quyết tâm chính trị cao trong: "Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch".

Bốn là, cải tạo tư tưởng đảng viên hiện nay phải kiên trì và chắc chắn. Cải tạo tư tưởng là một cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đồng thời là cuộc đấu tranh giữa tình cảm và lý trí, giữa sự cầu thị và tính bảo thủ, giữa mặt tốt và mặt xấu… trong tư tưởng mỗi đảng viên; thực chất là cuộc đấu tranh "ai thắng thắng ai" giữa tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Trong Đảng thường có đấu tranh tư tưởng, đó là do mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội và mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ phản ánh vào trong Đảng. Nếu trong Đảng không có mâu thuẫn và đấu tranh tư tưởng để giải quyết mâu thuẫn, thì sinh mệnh của Đảng cũng hết". Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, không đơn giản, vì thế một mặt, phải có tinh thần cách mạng tiến công; mặt khác, phải kiên trì và chắc chắn bởi: "Trong nội bộ, cần phải trải qua đấu tranh tư tưởng, mới đi đến nhất trí được. Chúng ta phải hết sức kiên nhẫn để đạt cho được sự nhất trí ở trong Đảng"./.

Gia Nguyên

Nguồn Tuyengiao.vn

11/01/2020 7:00 CHĐã ban hành
Đức Huệ tổ chức học tập, quán triệt chuyên đề năm 2020 cho cán bộ chủ chốtĐức Huệ tổ chức học tập, quán triệt chuyên đề năm 2020 cho cán bộ chủ chốt
Ngày 09/01/2020, Ban Thường vụ Huyện ủy Đức Huệ tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt chuyên đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" năm 2020 với nội dung về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh". Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Đức Huệ - Phạm Văn Trấn đến dự và phát biểu khai mạc hội nghị.

9-1-2020 Ong Pham Van Tran phat bieu khai mac hoi nghi.jpg

Ảnh: Bí thư Huyện ủy Đức Huệ - Phạm Văn Trấn phát biểu khai mạc

Tham gia học tập có gần 100 đại biểu là nguyên Ủy viên Ban Thường vụ huyện ủy; các đồng chí sĩ quan lực lượng vũ trang cấp hàm Đại tá đã nghỉ hưu trên địa bàn huyện; các đồng chí lãnh đạo các phòng, ban, ngành MTTQ và Đoàn thể huyện, Ủy viên Ủy ban kiểm tra Huyện ủy, trưởng, phó các hội đặc thù và các đồng chí là Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND – UBND các xã, thị trấn.

Tại hội nghị, các đại biểu được theo dõi video bài nói chuyện chuyên đề 2020 về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh" theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do GS.TS Hoàng Chí Bảo – Nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp, học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trình bày.

Trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chủ trương, quan điểm của Đảng ta về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là rất cần thiết nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

 9-1-2020 Duc Hue hoc tap chuyen de hoc tap va lam theo Bac nam 2020.jpg

Ảnh: Toàn cảnh hội nghị

Để việc học tập chuyên đề năm 2020 đạt kết quả thiết thực, Bí thư Huyện ủy huyện Đức Huệ yêu cầu các đồng chí phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, tham gia học tập nghiêm túc, tập trung nghiên cứu, tự liên hệ bản thân để chọn nội dung đăng ký thực hiện. Đồng thời, các Chi, Đảng ủy trực thuộc căn cứ vào kế hoạch của Huyện ủy, xây dựng kế hoạch tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện nghiêm túc những nội dung cơ bản về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2020…

Tấn Hữu

10/01/2020 8:00 SAĐã ban hành
Hội LHPN Đức Huệ với Chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo"Hội LHPN Đức Huệ với Chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo"
Đức Huệ là huyện vùng sâu, biên giới nên đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là cán bộ hội viên, phụ nữ. Vì vậy, Hội LHPN huyện Đức Huệ đã xây dựng chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" giai đoạn 2019- 2021.

 1-1-2020 Chuong trinh TSNT trao qua cho ho ngheo (2).jpg

Ảnh: Chương trình thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo tặng quà cho hộ nghèo

Tuy chỉ thực hiện mới được 01 năm nhưng bước đầu chương trình đã thực sực mang lại hiệu quả với nhiều hoạt động thiết thực như trao nhà, tặng quà, tặng học bổng….đã giúp nhiều phụ nữ và trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Bà Huỳnh Thị Phương Quyên – Chủ tịch Hội LHPN huyện Đức Huệ cho biết: "Để chương trình hoạt động có hiệu quả thì trước tiên Hội LHPN huyện đã triển khai đến Hội LHPN 11 xã – thị trấn để Hội LHPN các xã khảo sát, rà soát tỷ lệ hộ nghèo nhất là hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ. Chú trọng xem xét những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc những hộ đơn thân, bệnh tật để trên cơ sở đó lập danh sách tạo điều kiện giúp đỡ cho các hộ có điều kiện vươn lên. Ngoài ra, để chương trình phát triển Hội cũng đã tích cực vận động, kêu gọi mạnh thường quân ở khắp mọi nơi thông qua các mối quan hệ của cá nhân trong tổ chức Hội, đặc biệt là trên mạng xã hội như Zalo, Facebook vận động mạnh thường quân giúp đỡ những hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo đúng nguyện vọng cũng như nhu cầu của người nghèo đang gặp phải cần được hỗ trợ".

 1-1-2020 Hoc bong den Dom Dom den voi hoc sinh ngheo vuot kho.jpg

Ảnh: Học bổng Đèn Đom Đóm đến với học sinh nghèo vượt khó

Điểm nổi bật đầu tiên của chương trình thực hiện trong năm 2019 đạt được phải kể đến việc vận động mái ấm tình thương cho phụ nữ nghèo khó khăn về nhà ở nhằm tạo điều kiện an cư lạc nghiệp. Theo đó, Hội LHPN huyện đã vận động mạnh thường quân hỗ trợ được 05 căn nhà mái ấm tình thương với tổng kinh phí 200 triệu đồng cho phụ nữ nghèo ở các xã gồm Mỹ Thạnh Bắc, Bình Hòa Bắc và Mỹ Thạnh Đông.

Không dừng ở lại đó, Hội LHPN huyện còn vận động quà, tiền cho phụ nữ, trẻ em gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống với tổng số tiền trên 90 triệu đồng. Qua đó, chia sẻ với họ một phần khó khăn trong cuộc sống; trao học bổng cho 10 em học sinh nghèo hiếu học, vượt khó  tại các điểm Trường THCS-THPT Mỹ Quý, THCS-THPT Mỹ Bình, THCS Mỹ Thạnh Đông,.. với tổng số tiền hơn 37  triệu đồng nhằm tiếp sức các em trong việc đến trường. Gói thực phẩm hàng tháng cho 10 hộ gia đình trong chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" là 6 triệu đồng.

 1-1-2020 Chuong trinh tang qua cho em Que Hoa.jpg

Ảnh: Chương trình tặng quà cho em Quế Hoa học sinh lớp 12 trường THPT Đức Huệ bị tai nạn giao thông

Ngoài các hoạt động trên, Hội LHPN huyện còn chủ động đến tận nhà các hộ gia đình để thăm hỏi, tìm hiểu những khó khăn qua đó động viên tinh thần và kịp thời giúp đỡ cũng như tạo điều kiện cho các gia đình thật sự khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Đồng thời, Hội cũng tuyên truyền về các vấn đề đang bức xúc trong xã hội như: cảnh giác với việc xâm hại trẻ em, bắt cóc và buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới,... Bà Huỳnh Thị Phương Quyên – Chủ tịch Hội LHPN huyện Đức Huệ cho biết thêm, trong thời gian thực hiện chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" Hội cũng gặp không ít khó khăn đó là số hộ nghèo, hộ khó khăn nhiều, trường hợp đột xuất cần được giúp đỡ cũng phát sinh vì vậy chương trình giúp chưa đảm bảo chỉ giúp những những hộ thật đặc biệt khó khăn; mạnh thường quân hỗ trợ quà hàng tháng khó vận động vì vậy không có tính bền vững. Từ những khó khăn trên, Hội LHPN huyện cũng đã đề ra các giải pháp để thực hiện chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới"trong thời gian tới có hiệu quả hơn. Theo đó, các xã thị trấn khảo sát cụ thể từng hộ, từng đối tượng để đúng người, đúng hoàn cảnh. Bên cạnh đó, Huyện Hội sẽ phối hợp với các đơn vị tại huyện để giúp đỡ theo đúng chức năng của ngành, Hội như: Hội khuyến học huyện, Quỹ học bổng đèn đơm đóm (MTT), Phòng Lao động thương binh và xã hội để giúp đỡ kịp thời những chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

Từ những việc làm hiệu quả và thiết thực từ chương trình "Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" mang lại bước đầu chương trình đã tạo điều kiện và giúp đỡ nhiều chị em phụ nữ và trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn huyện có thêm nghị lực để vươn lên trong cuộc sống. Mong rằng thời gian tới sẽ có nhiều mạnh thường quân hơn nữa chung tay và gắn bó với chương trình"Thắp sáng niềm tin cho phụ nữ và trẻ em nghèo vùng biên giới" của Hội LHPN huyện Đức Huệ để chương trình hoạt động ngày càng sâu rộng không chỉ trong huyện mà còn vươn ra các huyện khác.  

Bài, ảnh: Kim Tiến

02/01/2020 11:00 CHĐã ban hành
Nêu gương sáng phẩm chất Bộ đội Cụ HồNêu gương sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

​Quân đội nhân dân Việt Nam, "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu" là những giá trị về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng; là lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

Quân đội ta là một quân đội cách mạng, ra đời từ phong trào cách mạng của toàn dân, vì nhân dân mà chiến đấu; được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; được nhân dân hết lòng đùm bọc, giúp đỡ.  75 năm qua, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ" mà nhân dân đã trao tặng và lời khen ngợi của Bác Hồ: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". 75 năm qua cũng là chặng đường mà Quân đội ta sát cánh cùng toàn dân anh dũng chiến đấu, lập nên nhiều chiến công oanh liệt: đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa vị thế nước ta ngày càng nổi bật trên trường quốc tế.

75 năm đã trôi qua, nhưng những chiến công của Quân đội ta vẫn đang và sẽ mãi mãi còn nguyên vẹn trong ký ức của mỗi người dân Việt Nam, nhất là lực lượng vũ trang nhân dân - những người trực tiếp chiến đấu và làm nên chiến thắng. Chiến thắng oanh liệt của Quân đội nhân dân Việt Nam là sự kiện lịch sử trọng đại, niềm tự hào dân tộc, để lại sự khâm phục của bạn bè quốc tế; thể hiện sâu sắc tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Theo đó, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" là một hệ thống chuẩn mực, giá trị nhân cách của người quân nhân cách mạng, làm cho hình ảnh người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tỏa sáng trong lòng nhân dân, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bởi vậy, việc bồi đắp, phát huy truyền thống phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; cũng là một trong nhiều nội dung, nhiệm vụ trong quá trình xây dựng Quân đội ta trưởng thành và chiến thắng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân, do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục". "Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội". Người động viên, cổ vũ, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân phải tích cực tham gia giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ bộ đội. Đồng thời, Người thường xuyên nhắc nhở bộ đội "… đánh giặc là vì dân…, không phải là "cứu tinh" của dân, mà phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân". Người yêu cầu: "Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu… Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội".

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, khác hẳn quân đội của các nước tư bản về bản chất. Quân đội ta là quân đội của dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng và Nhà nước tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện. Quân đội ta lấy lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Vấn đề chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và phẩm chất, đạo đức luôn là một yêu cầu khách quan hàng đầu. Thông qua học tập, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, làm tròn chức năng là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đi đến thắng lợi.

Tôi cho rằng, những phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ có nguồn gốc từ bản sắc truyền thống của dân tộc, nhân dân Việt Nam; từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng, của quân đội; sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện không ngừng của bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ. Chúng ta hiểu rằng, không chỉ trong quá khứ, mà trong mọi thời kỳ cách mạng, nhất là trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra những đòi hỏi mới về cả phẩm chất và năng lực công tác, Bộ đội Cụ Hồ phải luôn gìn giữ và phát huy phẩm chất quý báu đó, xứng đáng với danh xưng cao quý mà nhân dân trao tặng. Tự hào về quá khứ, Bộ đội Cụ Hồ  trong thời đại ngày nay càng cần phải ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, công tác, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mỗi cơ quan, đơn vị quân đội cũng cần tìm tòi, vận dụng những phương thức tuyên truyền, giáo dục bộ đội một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn hiện tại của đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế.

Thực tiễn hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tôi tin tưởng rằng, cán bộ, chiến sĩ thế hệ hôm nay và mai sau luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong mọi hoàn cảnh và trong mọi giai đoạn lịch sử của đất nước.

Ngày nay, có thể thấy sự phát triển của khoa học và công nghệ 4.0 đã giúp mọi người tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, truyền tải thông tin đến tất cả mọi đối tượng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ đội Cụ Hồ. Trong điều kiện đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng thì việc phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đang là yêu cầu đặt ra cấp thiết. Do vậy, các cơ quan, đơn vị chức năng cũng như các cấp uỷ, tổ chức đảng cần tăng cường giáo dục, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ của Quân đội ta; định hướng để cán bộ, chiến sĩ tiếp cận được thông tin khoa học, nhưng không bị ảnh hưởng bởi các thông tin xấu độc. Tôi rất tin tưởng ở đội ngũ những người làm khoa học và cán bộ, chiến sĩ của Quân đội ta. Đó là những người có trình độ, có lý tưởng, có ý chí, có kinh nghiệm thực tiễn và nhận thức được đúng-sai, thật-giả. Trước sự bùng nổ thông tin trên không gian mạng và trên các trang mạng xã hội, chúng ta cần đa dạng hình thức giáo dục cán bộ, chiến sĩ, trước hết là giáo dục lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết.

Trong chiến tranh cũng như thời bình, trong thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong Quân đội nhân dân là nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều. Mỗi người cán bộ chính là những tấm gương phản chiếu để chiến sĩ và cấp dưới học tập và noi theo. Quân đội ta có rất nhiều tấm gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực, vì vậy cần chọn những tấm gương điển hình, tiên tiến để tăng cường tuyên truyền, nêu gương, từ đó góp phần hạn chế những tiêu cực. Đồng thời, ngay từ bây giờ, các cấp, các ngành cần định hướng và giáo dục cho các thế hệ người Việt Nam phải làm chủ khoa học, công nghệ và làm chủ vận mệnh của mình.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, việc giáo dục nâng cao phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết để Quân đội ta trưởng thành, phát triển; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống./.

Gia Khánh

Nguồn đangcongsan.vn

22/12/2019 12:00 SAĐã ban hành
Tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt NamTiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam
Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, vượt qua bao gian lao, thử thách, chấp nhận hy sinh, anh dũng chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam đã chung tay gìn giữ, xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng như làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

quan-doi-anh-hung-ttxvn.jpg 

Ảnh minh họa

Cách đây 75 năm, trước yêu cầu của cách mạng Việt Nam và thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đây là sự kiện chính trị, lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội (CNXH); dựa vào nhân dân, sát cánh cùng với nhân dân, lập nhiều chiến công, thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế; xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cùng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng", làm sáng ngời hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ", xứng danh là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đang đứng trước nhiều vận hội, thời cơ thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp và có nhiều yếu tố không thuận lợi, dễ gây mất ổn định. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng quyền lợi; chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt; xung đột vũ trang, khủng bố, tấn công mạng và những vấn đề an ninh phi truyền thống gây bất ổn ở nhiều quốc gia. Trên Biển Đông tiếp tục có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", "phi chính trị hóa" quân đội, chia rẽ quân đội với Đảng, Nhà nước, nhân dân, bằng những thủ đoạn mới rất tinh vi, thâm độc. Trước tình hình đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu mới, rất cao và toàn diện; trong đó, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ Xã hội Chủ nghĩa (XHCN), giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để xây dựng, phát triển đất nước là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, QĐND Việt Nam cần không ngừng phát huy truyền thống anh hùng, tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, tập trung xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhân tố quyết định đảm bảo cho quân đội luôn giữ vững phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không ngừng phát huy bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và là cơ sở, nền tảng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Ngày nay, xây dựng quân đội về chính trị càng phải được chú trọng thực hiện bằng nhiều nội dung, biện pháp thiết thực. Trước hết, phải tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; nhận thức đúng chức năng, nhiệm vụ của quân đội, về đối tượng, đối tác... Toàn quân đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Trước mắt, quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 35 CT/TW của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 747-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương, làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, tiến tới Đại hội XIII của Đảng; tạo sự đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng bộ và toàn quân. Bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, toàn quân luôn là một khối đoàn kết, thống nhất, trung thành vô hạn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, sẵn sàng xả thân vì độc lập dân tộc và CNXH.

Quân đội tiếp tục phát huy vai trò xung kích trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Ra sức thi đua thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Phong trào Thi đua Quyết thắng, Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới, tạo động lực thúc đẩy hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của QĐND, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Toàn quân tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức QĐND Việt Nam đến năm 2021, đẩy mạnh sắp xếp, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng "tinh, gọn, mạnh", cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các lực lượng. Đồng thời, đột phá đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 765 NQ/QUTW, ngày 20/12/2012 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo. Chú trọng đề ra các giải pháp mới trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phù hợp với sự phát triển tư duy của Đảng về quốc phòng, quân sự và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đặc biệt, tập trung huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị thế hệ mới, hiện đại; nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập tác chiến hiệp đồng giữa các quân chủng, binh chủng và tác chiến khu vực phòng thủ... Cùng với đó, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện mẫu mực, tiêu biểu, duy trì nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; tích cực ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, công nghiệp quốc phòng... phù hợp với điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tố quốc, tiến trình hiện đại hóa quân đội, tạo bước chuyển mang tính đột phá về trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu.

Toàn quân cần nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, làm tốt công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý chặt chẽ vùng biển, vùng trời, biên giới, hải đảo, không gian mạng; chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình, nhất là ở tầm chiến lược, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chiến lược, sách lược linh hoạt, đúng đắn, phù họp, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, xử lý kịp thời, thắng lợi mọi tình huống quân sự, quốc phòng, không để bị động, bất ngờ.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND giữ vai trò nòng cốt. Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, quân đội phải quán triệt sâu sắc đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nắm vững Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; bám sát thực tiễn, dự báo chính xác tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước về các chiến lược, sách lược, bảo đảm xử lý kịp thời, thắng lợi mọi tình huống về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ về chiến lược; trong đó, công tác đối ngoại quốc phòng phải hết sức chú trọng giữ thế cân bằng, lòng tin chiến lược trong giải quyết những vấn đề quốc tế, khu vực đang nổi lên hiện nay, nhất là tình hình Biển Đông, tạo môi trường quốc tế thuận lợi bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Để hoàn thành trọng trách đó, quân đội phải tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, địa phương, triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn và đặc điểm của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng, an ninh, biên giới, biển, đảo. Trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, "thế trận lòng dân" vững chắc; xây dựng lực lượng thường trực chiến đấu và lực lượng dự bị động viên vững mạnh, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng mọi tình huống. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của toàn dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng nhằm không ngừng tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng của đất nước. Phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên từng địa bàn và cả nước; chú trọng nâng cao chất lượng phối hợp nắm tình hình, trao đổi thông tin, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; triển khai các phương án, kế hoạch bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, sự kiện chính trị; phòng, chống khủng bố, bạo loạn lật đổ, trấn áp các loại tội phạm, bảo vệ Đảng, Nhà nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.

Bốn là, hoàn thành tốt chức năng đội quân công tác trong thời bình. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, dựa vào dân, đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân là quy luật phát triển, cội nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta. Kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp đó, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần tích cực bám địa bàn, bám cơ sở, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác. Trong đó, chú trọng đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, chính sách hậu phương quân đội, "đền ơn đáp nghĩa", chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố cơ sở chính trị vững mạnh, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng. Cùng với đó, quân đội tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt, chỗ dựa tin cậy của nhân dân trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và xác định đây là nhiệm vụ "chiến đấu trong thời bình", góp phần củng cố vững chắc "thế trận lòng dân", tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019) và 75 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019) là một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, quân đội. Đây là dịp để cán bộ, chiến sĩ toàn quân nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng, vẻ vang, tự hào về truyền thống "Quyết chiến, quyết thắng" của QĐND anh hùng. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, với niềm tự hào dân tộc, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thật sự làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Gia Khánh

Nguồn Đangcongsan.vn

 

21/12/2019 12:00 SAĐã ban hành
"Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội...""Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội..."
 

 "Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội. Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí" là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư "Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền Đường số 4", đăng trên Báo Cứu quốc, số 1411, ra ngày 02 tháng 12 năm 1949.

Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, hơn 60 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân "cá - nước", đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.

Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược "diễn biến hòa bình" với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội. Lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.

Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp "Bộ đội cụ Hồ" trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về "Dân vận khéo", tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...

Gia Khánh

Nguồn Báo Quân khu 7

 

20/12/2019 3:00 CHĐã ban hành
"... Khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình...""... Khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình..."

 "… Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm: là đứa bé còn ở trong bụng mẹ và người đã chết bỏ vào quan tài. Có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm. Nhưng khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình và kiên quyết sửa chữa" là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại Hội nghị nghiên cứu Lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 28 tháng 11 năm 1959, Báo Nhân dân, số 2093, ngày 09 tháng 12 năm 1959.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm: Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, miền Bắc đã có hoà bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang bắt đầu xây dựng một xã hội mới, miền Nam vẫn còn dưới ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Đây cũng là thời điểm Đảng và Chính phủ, các cấp và các ngành từ Trung ương đến địa phương tiến hành công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc một cách kiên quyết và toàn diện, trên tinh thần đề cao, thật thà tự phê bình và phê bình để nghiêm túc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

     Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực đó. Mỗi người đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải đề cao và thật thà tự phê bình và phê bình.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình; coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề tự phê bình và phê bình càng trở nên cần thiết hơn.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đặc biệt là giáo dục về đạo đức cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ vai trò, sự cần thiết phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, mục đích phương pháp tự phê bình và phê bình; duy trì, thực hiện nghiêm túc nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy đảng, các tổ chức trong đơn vị. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất cao trong đơn vị, chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm cán bộ, chiến sĩ vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Gia Khánh

Nguồn Báo Quân khu 7

20/12/2019 3:00 CHĐã ban hành
Khắc ghi lời Bác Hồ dạyKhắc ghi lời Bác Hồ dạy
Bác Hồ luôn dành tình yêu vô hạn và đặt ra yêu cầu cao trong thực hiện chính sách đối với các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và coi đây là chính sách cấp bách trước mắt, cũng như là nhiệm vụ chính trị lâu dài của Đảng, Nhà nước ta.

 1.jpg

Thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh Vũ Đình Tụng nhân
Ngày Thương binh, tử sĩ 27-7. (Báo Cứu quốc, số 1305 ra ngày 27/7/1949).

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: "Nói đến bản Di chúc thì trước hết phải nói đến Người viết ra nó. Ðó là một con người suốt đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp bậc nhất trong thời đại ngày nay mà Lê-nin đánh giá rất đúng rằng đó là trí tuệ, lương tri và vinh dự của thời đại". Với trí tuệ mẫn tiệp và tình cảm cách mạng trong sáng, bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ 1000 từ, nhưng hầu như đã chứa đựng toàn vẹn: không thiếu việc gì, không sót một ai; trong đó, Bác Hồ luôn dành tình yêu vô hạn và đặt ra yêu cầu cao trong thực hiện chính sách đối với các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và coi đây là chính sách cấp bách trước mắt, cũng như là nhiệm vụ chính trị lâu dài của Đảng, Nhà nước ta - "Đầu tiên là công việc đối với con người".

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra tính tất yếu phải thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng. Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng chính sách thương binh, liệt sỹ lên ngang tầm một hoạt động văn hóa, như là một sự kế tục, ở quy mô toàn xã hội, truyền thống nhân nghĩa "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam. Sự cần thiết phải thực hiện tốt công tác thương binh, liệt sĩ, theo Người là nhằm chia sẻ nỗi đau của hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Vì vậy, ngày 7/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra "Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi" nhằm: "Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho các gia đình liệt sĩ đó, và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi".

Hiện thực hóa chủ trương lớn trên, tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm "Ngày thương binh" để nhân dân ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh, gia đình liệt sỹ và những người có công với đất nước. Thực hiện Chỉ thị của Người, Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, ban, ngành ở trung ương và địa phương đã họp ở xã Phú Minh (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) bàn bạc, nhất trí đề nghị lấy ngày 27/7/1947 làm "Ngày thương binh, liệt sỹ". Từ đó, ngày 27/7 hằng năm trở thành "Ngày thương binh, liệt sỹ" trong cả nước. Theo Người, đây chính là một hình thức xây dựng "tượng đài kỷ niệm" trong lòng dân chúng để các thế hệ kế tiếp ghi nhớ công ơn, chiến công của những con người ưu tú đã ngã xuống vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người giải thích: "Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta".

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

 

20/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
"Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập...""Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập..."
​​

 "Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập. Đó là vì chưa biết quý trọng thời giờ, sắp đặt thời giờ cho hợp lý, còn lãng phí nhiều thời giờ" là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết "Một phút đồng hồ", đăng trên Báo Nhân dân, số 153, ra từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 12 năm 1953.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời, trong bất kỳ vị trí, hoàn cảnh nào Bác luôn tiên phong, mẫu mực, giản dị và tiết kiệm. Bác thường căn dặn mọi người phải thực hành tiết kiệm; tiết kiệm sức lao động, tiền bạc, đặc biệt là tiết kiệm thời gian. Với Bác, đức tính tiết kiệm thời gian là rất quý báu, Người luôn quý trọng, sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách chủ động bố trí, sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết và tác phong hiện đại, để sao cho không bị lãng phí thời gian một cách vô ích. Tiết kiệm thời gian của Bác không chỉ là tiết kiệm cho mình, mà còn không để lãng phí thời gian cho mọi người, không để người khác phải chờ đợi, phục vụ. Lời dạy của Bác là sự nhắc nhở sâu sắc, giúp cho mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân biết quý trọng thời gian của mình, qua đó nâng cao ý thức tiết kiệm thời gian, sử dụng thời giờ hợp lý bảo đảm công việc trôi chảy, nhanh chóng và góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hiện nay, trong bối cảnh đất nước ta đã và đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, "đi tắt, đón đầu", đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại. Lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học vô cùng quý giá cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong học tập, công tác và lao động sản xuất. Thực hiện tốt lời dạy của Bác đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian, sắp xếp thời gian khoa học, hợp lý; tích cực thi đua lao động sản xuất, học tập, công tác, tranh thủ tận dụng triệt để thời gian, thời cơ thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh như Bác hằng mong muốn.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta đều có thể tiết kiệm thời gian của mình, đó là phải xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cụ thể trên cơ sở nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị đòi hỏi; phải phân bổ thời gian hợp lý, khoa học để thực hiện chương trình, kế hoạch được giao; khi làm việc bất cứ một việc gì phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, thực hiện giờ nào việc ấy để không bị lãng phí thời gian một cách vô ích; phải chủ động chuẩn bị tốt nội dung trước khi tiến hành tổ chức các hoạt động như sinh hoạt, hội họp, gặp mặt, hội thảo… Một con người hiện đại chính là biết quý trọng thời gian và cũng là biện pháp để chúng ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa.

Gia Khánh

Nguồn Báo quân khu 7

19/12/2019 3:00 CHĐã ban hành
Đức Huệ học tập chuyên đề học và làm theo Bác năm 2020Đức Huệ học tập chuyên đề học và làm theo Bác năm 2020
Ngày 17/12/2019, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai chuyên đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" năm 2020 với nội dung "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh".

hop truc tuyen hoc tap chi thi 05 nam 2020 (3).jpg

Ảnh: Đại biểu dự học tập chuyên đề năm 2020 tại điểm cầu Đức Huệ

Tại điểm cầu huyện Đức Huệ, tham dự hội nghị có TUV, Bí thư huyện ủy - Phạm Văn Trấn; Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy – Võ Văn Hy; Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện – Nguyễn Thanh Nguyên cùng các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, lãnh đạo các phòng, ban, Mặt trận và các đoàn thể huyện.

Năm 2020 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiến tới đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng. Do vậy, việc nghiên cứu, học tập chuyên đề năm 2020 "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" là rất cần thiết, góp phần tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh đồng bộ và toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình để phát triển bền vững; đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

Tại hội nghị, GS.TS Hoàng Chí Bảo khái quát về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới. Đặc biệt, GS.TS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh, trong cuộc đời hoạt động của mình, đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng, tất yếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng của Bác tất cả vì cuộc sống nhân dân. Trong đó, phải gắn tư tưởng với hoạt động thực tiễn cơ sở; phải giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng, đoàn kết với dân,…để phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây cũng được xem là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chủ trương, quan điểm của Đảng ta về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là rất cần thiết nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

Để việc học tập chuyên đề năm 2020 đạt kết quả thiết thực, ông Bùi Trường Giang - Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, quán triệt, thực hiện trong cán bộ, đảng viên và nhân dân những nội dung cơ bản của chuyên đề phù hợp với tình hình, nhiệm vụ cụ thể của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; tiếp tục tuyên truyền những mô hình hay, cách làm hiệu quả, gương người tốt-việc tốt trong học tập và làm theo Bác tạo sức lan tỏa trong đời sống xã hội;....

Tiến Hữu

17/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
"Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội", là nguồn sức mạnh của Quân đội"Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội", là nguồn sức mạnh của Quân đội
Quân đội ta được Bác Hồ đặt cho tên gọi là Quân đội nhân dân với hàm ý sâu xa: Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ! Ngày 22-12 hằng năm không chỉ là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà đã trở thành Ngày hội Quốc phòng toàn dân, một ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với toàn thể nhân dân Việt Nam. Lịch sử 75 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tạo dựng và ngày càng tô thắm thêm hình ảnh cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", danh hiệu cao quý mà nhân dân kính trọng và suy tôn, gắn với hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

CT_HCM_VOI_QDND_phan_6_anh.jpg

Ảnh tư liệu: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đoàn Cao xạ Tam Đảo, ngày 25-9-1966.

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng vào điều kiện Việt Nam, thấm nhuần sâu sắc truyền thống văn hóa "nước lấy dân làm gốc" trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trong quá trình tổ chức, xây dựng, giáo dục, rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân, coi nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của quân đội. Người khẳng định: "Không có dân thì không có bộ đội", "Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội". Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ: "Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết". Người cho rằng: "Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ và đồng bào ta thành những người anh hùng".

Chỉ có đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu như con em ruột thịt thì Quân đội mới có được những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, sản xuất cũng như trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Cách xa dân, không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì Quân đội không thể có sức mạnh, không thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đoàn kết quân dân là nguồn sức mạnh của Quân đội ta được thể hiện ở chỗ nhân dân không chỉ là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho bộ đội, mà còn là lực lượng luôn che chở, nuôi dưỡng, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong những năm tháng chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh nhân dân ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương đã biết vượt lên những khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần để chắt chiu từng lon gạo, hạt muối, tấm áo, đồng tiền giúp đỡ bộ đội. Nhân dân còn là người chịu mất mát, hy sinh để che chở cho bộ đội trong những giờ phút một mất một còn, giữa cái sống và cái chết trong vòng vây của kẻ thù.

Trong điều kiện hòa bình xây dựng đất nước, nhân dân là người giúp đỡ bộ đội trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, cũng như trong thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống thiên tai, dịch họa, cứu hộ, cứu nạn… Chính nhờ sự giúp đỡ của nhân dân mà sức mạnh của "Bộ đội Cụ Hồ" không ngừng được củng cố và tăng cường, nhân cách "Bộ đội Cụ Hồ" ngày càng được hoàn thiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: "Các chiến sĩ và nhân dân. Như cá với nước phải gần gụi nhau" (tập 5, tr.406). Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu quân dân đoàn kết, học hỏi lẫn nhau: "Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau".

Như vậy,"Quân với dân như cá với nước", Quân đội phải "hiếu với dân" là cách thể hiện rất độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Phẩm chất hiếu với dân của quân đội phản ánh thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu, công tác của quân đội, được quy định bởi sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng của nhân dân và quân đội. Bao trùm nhất của lòng hiếu với dân của quân đội ta là "vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ", vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó vừa là mục tiêu chiến đấu, vừa là phương châm hành động của tất cả cán bộ, chiến sĩ quân đội trong mọi giai đoạn cách mạng; ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, quân đội ta không có mục đích tự thân nào khác.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

16/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, củng cố mối quan hệ gắn bó, mật thiết quân - dân trong tình hình hiện nayVận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, củng cố mối quan hệ gắn bó, mật thiết quân - dân trong tình hình hiện nay
Mối quan hệ mật thiết với nhân dân là truyền thống cực kỳ quý báu, là nền tảng, cội nguồn sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ quân đội phải thường xuyên giữ gìn mối quan hệ quân - dân. Trong tình hình hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam là một yêu cầu, nhiệm vụ rất cần thiết.

BAC HO 1.jpg 

Ảnh tư liệu

Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, để quân đội ta hoàn thành tốt chức năng là đội quân công tác và đấu tranh làm thất bại những hoạt động của các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu thức thâm độc hòng tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", kích động, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, gắn bó mật thiết, gắn bó như "cá với nước" giữa quân và dân, việc quán triệt sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân vào xây dựng, củng cố, phát triển tình đoàn kết quân - dân càng quan trọng và cấp thiết.

Để vận dụng sáng tạo tư tưởng đó của Người, đòi hỏi cần tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó trước hết cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh giáo dục về bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội ta, nhất là bản chất, truyền thống mối quan hệ đoàn kết quân - dân, gắn bó như "cá với nước".

Trước hết, làm tốt công tác giáo dục, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Trong đó, tập trung làm sâu sắc hơn những quan điểm và nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân: Quân đội ta là quân đội của nhân dân, là con em, ruột thịt của nhân dân; nhân dân là nền tảng sức mạnh quân đội. Chỉ có trên nền tảng vững chắc là nhân dân, thì quân đội mới hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đồng thời, tăng cường giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ những nội dung cơ bản trong đường lối, quan điểm  của Đảng về công tác dân vận, công tác dân tộc và công tác tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, cũng như những nội dung chủ yếu của Quy chế Dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Trên cơ sở đó, đẩy mạnh giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ về bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội ta, nhất là bản chất, truyền thống mối quan hệ đoàn kết quân - dân. Bồi đắp, xây dựng lòng tự hào, ý thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong vun đắp, giữ gìn, phát huy, phát triển mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân trong giai đoạn hiện nay.

Hai là, tổ chức thực hiện tốt nội dung công tác dân vận trong tình hình mới.

Trọng tâm của công tác dân vận của quân đội ta hiện nay là: Tham gia xây dựng địa phương vững mạnh về chính trị, phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời kỳ mới, góp phần giáo dục, nâng cao ý thức "vì nhân dân phục vụ" cho cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, công tác dân vận của quân đội cần hướng mạnh về cơ sở, quan tâm đến những vấn đề thiết thực trong đời sống nhân dân, nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, quân đội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa quân đội và nhân dân. Tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo phong trào cách mạng rộng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đồng bào theo tôn giáo, về mọi mặt của đời sống xã hội trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân vận. Khi tiến hành công tác dân vận, phải thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện; giúp nhân dân thấy rõ quyền lợi, nghĩa vụ công dân và quyền làm chủ trực tiếp theo đúng quy định của pháp luật. Thường xuyên sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp, phản ánh của nhân dân...

Ba là, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ dân vận ở cơ sở.

Thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ dân vận phải "óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm"(11), luôn "gần dân, học dân, nghe theo dân"(12) và phương châm "Chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, hiệu quả" trong tiến hành công tác dân vận. Cần phải đổi mới mạnh mẽ về nội dung, hình thức, phương pháp dân vận để bảo đảm mỗi cán bộ, chiến sĩ vừa là một quân nhân, một công dân gương mẫu, vừa là một cán bộ "dân vận khéo" hết lòng vì dân, vì nước. Đặc biệt, coi trọng và tập trung dân vận ở những địa bàn trọng yếu vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, những vùng kinh tế khó khăn. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo những nội dung, biện pháp trong công tác dân vận, phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương. Tích cực, chủ động tổ chức bồi dưỡng kiến thức, năng lực, kinh nghiệm, phương pháp, tác phong công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm công tác dân vận. Phát huy vai trò trách nhiệm của đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ dân vận của đơn vị. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ dân vận là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, địa bàn trọng điểm về quốc phòng - an ninh.

Bốn là, tích cực, chủ động thực hiện chương trình phối hợp hoạt động giữa các đơn vị quân đội với các tổ chức đoàn thể nhân dân, chính quyền địa phương.

Thông qua công tác dân vận, các đơn vị tích cực giúp đỡ chính quyền nhân dân địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; luôn là lực lượng đi đầu ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, sát cánh cùng nhân dân trong phòng, chống bão, lũ, thiên tai, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng, phát triển kinh tế, góp phần ổn định đời sống của nhân dân. Các đơn vị quân đội đóng quân làm nhiệm vụ trên các địa bàn phải xây dựng và duy trì thường xuyên chế độ nắm tình hình thực hiện mối quan hệ đoàn kết quân - dân, chủ động phát hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch trên địa bàn, có kế hoạch hoạt động phù hợp và xử lý kịp thời những tình huống xảy ra. Thường xuyên thực hiện tự phê bình và lắng nghe ý kiến phê bình của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân và nhân dân địa phương về thực hiện mối quan hệ đoàn kết giữa đơn vị và nhân dân địa phương; định kỳ thông báo tình hình, rút kinh nghiệm trong công tác phối hợp hoạt động giữa địa phương và đơn vị. Cùng với địa phương tổ chức tốt sơ kết, tổng kết các hoạt động quân đội tham gia xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương và địa phương tham gia xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân - dân trong thời kỳ mới, góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách hậu phương quân đội. Đồng thời, tiếp tục phối hợp thực hiện tốt các cuộc vận động lớn, như "Ngày vì người nghèo", "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư",...

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta cho thấy, chỉ có thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ đoàn kết quân - dân thì mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội mới có phương hướng, nội dung, phương pháp công tác dân vận đúng đắn. Đó chính là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm cho quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng đội quân công tác trong tình hình hiện nay, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

16/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Tăng cường gắn bó máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mớiTăng cường gắn bó máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới
Chỉ có quân đội cách mạng mới có thể có đầy đủ nguồn sức mạnh từ nhân dân, nguồn sức mạnh vô tận, không bao giờ cạn kiệt, bảo đảm sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội, thể hiện ưu thế hơn hẳn so với quân đội của chủ nghĩa đế quốc.

dangvabachovoiquandoi.jpg

Ảnh tư liệu: Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập tại một khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo,huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, nhất là trước những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế, cũng như sự chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược "diễn biến hoà bình" với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, thì tinh thần đoàn kết quân dân, sự thương yêu, giúp đỡ của nhân dân đối với quân đội và sự hy sinh phục vụ nhân dân của quân đội càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa hơn bao giờ hết đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của "Bộ đội Cụ Hồ". Chính vì vậy, tăng cường mối quan hệ quân - dân luôn luôn là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tất cả các giai đoạn cách mạng.

Thấm nhuần quan điểm tư tưởng: "Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là "cứu tinh" của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân", để tăng cường gắn bó máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới cần quán triệt một số giải pháp sau:

Một là, cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu tổng kết những bài học kinh nghiệm về sự đoàn kết quân dân trong củng cố, tăng cường sức mạnh của Quân đội ta trong những cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong thời kỳ hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để vận dụng vào giai đoạn mới. Đồng thời, tiếp tục đi sâu nghiên cứu những yêu cầu, nội dung, hình thức, biện pháp giải quyết mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân, làm rõ hơn vai trò của nhân dân, của việc phát huy sức mạnh của nhân dân trong củng cố, tăng cường sức mạnh của quân đội, cũng như vai trò của quân đội trong việc giúp đỡ dân, bảo vệ dân, củng cố cái nền gốc tạo nên sức mạnh của quân đội, của "Bộ đội Cụ Hồ".

Hai là, chủ động nắm, dự báo tình hình, tham mưu đúng, trúng, hiệu quả; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, vận dụng linh hoạt các nội dung, hình thức công tác dân vận phù hợp. Cơ quan dân vận, cán bộ dân vận và cơ quan chính trị các cấp phải thường xuyên nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị và nhiệm vụ chính trị của địa phương, bám sát địa bàn; dự báo đúng tình hình để tham mưu với cấp ủy, chỉ huy các cấp kịp thời đề ra những chủ trương, giải pháp phù hợp. Trong thực hiện, cần vận dụng linh hoạt các hình thức; chú ý lồng ghép, đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua "Dân vận khéo", xây dựng đơn vị "Dân vận tốt" gắn với phong trào Thi đua Quyết thắng trong Quân đội.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đặc biệt trong các nhiệm vụ. Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị 154-CT/ĐUQSTW, ngày 09-4-2008 của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Hướng dẫn 445/HD-CT của Tổng cục Chính trị về "Tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền đặc biệt trong tình hình mới". Trước mắt tập trung tuyên truyền và thực hiện Chỉ thị Số 35-CT/TW, ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Chỉ thị số 747-CT/QUTW ngày 23/7/2019 của Quân uỷ Trung ương về đại hội Đảng các cấp, trong Đảng bộ Quân đội, tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, hướng dẫn, triển khai các hoạt động công tác dân vận - tuyên truyền đặc biệt; đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Bốn là, thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, nhất là thông qua công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, thực hiện tốt mối quan hệ quân với dân như cá với nước phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn mới. Đồng thời, thông qua công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách và sự kết hợp giữa các mặt công tác đó mà tiếp tục củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân. Làm cho mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc Việt Nam ý thức được sâu sắc nhiệm vụ chăm lo xây dựng quân đội, cũng như làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm, tình cảm đối với nhân dân, sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu, hy sinh vì dân, sẵn sàng xả thân giúp đỡ nhân dân trong khó khăn, hoạn nạn.

Năm là, thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng, bồi dưỡng sức dân, chăm lo vun trồng cái nền, gốc vững mạnh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, những địa bàn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, những căn cứ cách mạng, thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" gắn với thực hiện tốt 12 điều kỷ luật khi quan hệ với Nhân dân.

Thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội, cũng như thực tiễn xây dựng, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội đã khẳng định vai trò của sự đoàn kết quân dân, là một trong những nguồn gốc quan trọng đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của Quân đội ta. Đây là một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trong trong xây dựng, củng cố, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đồng thời, còn là một trong những bài học kinh nghiệm quý giá được rút ra từ thực tiễn xây dựng Quân đội ta trong 75 năm qua, không chỉ có ý nghĩa, giá trị trong lịch sử, mà còn được vận dụng trong củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện mới đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

16/12/2019 4:00 CHĐã ban hành
Bộ đội Cụ HồBộ đội Cụ Hồ

Tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều xây dựng LLVT, Quân đội để bảo vệ đất nước và thể chế của mình. Nhưng dường như chẳng ở đâu lại có một đội quân được nhân dân tin yêu gọi là Quân đội Nhân dân - đặc biệt được danh xưng Bộ đội Cụ Hồ như ở Việt Nam.

Cụ Hồ - Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người khai sinh ra nước Việt Nam độc lập (2-9-1945) và trước đó (22-12-1944) người sáng lập và rèn luyện "Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân" tổ chức tiền thân của Quân đội ta hiện nay.

Quân đội Nhân dân Việt Nam được mang tên Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là do Cụ Hồ, người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta sáng lập mà trong sâu thẳm, Quân đội ấy mang phẩm chất cao quý của người con ưu tú, vĩ đại của dân tộc đã suốt đời hy sinh cho dân, cho nước. Chính vì thế, QĐND Việt Nam được nhân dân tin yêu, che chở, đùm bọc - một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ.

Bộ đội Cụ Hồ mang bản chất truyền thống cách mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Mình đã từng dạy: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

Xứng đáng với lời khen tặng ấy với sự đùm bọc của nhân dân, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, 75 năm qua, Quân đội ta đã vượt qua muôn trùng khó khăn thách thức, cùng toàn Đảng, toàn dân, đánh thắng nhiều "đế quốc to", giải phóng, thống nhất đất nước, giữ yên từng tấc đất, vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.

Để có chiến công vĩ đại ấy đã có hàng triệu cán bộ, chiến sĩ, CNVCQP hy sinh tính mạng hoặc hiến một phần thân thể vì Tổ quốc. Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, nhưng đến nay vẫn còn hàng vạn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, chưa xác định được mộ phần; đúng như câu thơ linh thiêng đã khắc ghi tại các đền thờ liệt sĩ: "Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/Hồn bay lên hóa linh khí quốc gia".

Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam và 30 năm ngày Hội quốc phòng toàn dân, chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hàng triệu người lính Bộ đội Cụ Hồ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc.

Chúng ta tin tưởng ở QĐND Việt Nam. Phát huy bản chất, truyền thống cách mạng tốt đẹp, Quân đội ta sẽ không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, vững vàng về chính trị, tinh nhuệ về trình độ tác chiến, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ nhân dân, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Gia Khánh

Nguồn Baoquankhu7.vn

15/12/2019 10:00 CHĐã ban hành
75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước"75 năm keo sơn gắn bó "như cá với nước"
Trên chặng đường lịch sử 75 năm xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với nguồn sức mạnh của sự gắn bó keo sơn thắm thiết quân dân. Là quân đội của nhân dân, gắn bó và yêu thương, kính trọng nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh.

 dkh.jpg

Ảnh tư liệu: Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát đồn Đông Khê tại Chiến dịch Biên giới năm 1950

Để tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc xây dựng lực lượng chính trị của cách mạng là điều cơ bản nhất, là việc phải làm đầu tiên, rồi mới xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang. Đó chính là quan điểm "người trước súng sau", là xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để trên nền tảng đó xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đuổi kẻ thù, giành lấy chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là luôn tăng cường và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động.

Trên tinh thần đó, vấn đề "tổ chức ra quân đội công nông" đã được khẳng định trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam mùa Xuân năm 1930). Tiếp đó, khởi đầu từ những Đội tự vệ đỏ trong phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đến đội vũ trang Cao Bằng, du kích Nam Kỳ, Bắc Sơn (sau đổi thành Cứu quốc quân), Ba Tơ,… cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng, thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập ngày 22/12/1944. Với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần) và từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động, đã phát triển từ đội thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, "nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam".

Từ buổi đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đội quân đó từ nhân dân mà ra nên phải dựa vào dân, luôn gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu để được dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc và chở che. Vì chỗ dựa vững chắc nhất của quân đội là lòng dân, cho nên "trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ" và "phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân". Đồng thời, thấm nhuần chỉ dẫn của Người: "Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kỳ việc gì khó cũng làm được và nhất định thắng lợi", trong mọi hoàn cảnh, quân đội "phải tăng cường công tác chính trị, luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội", phải làm cho "mỗi người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước"…

Đây chính là sức mạnh của quân đội cách mạng, thể hiện sâu sắc tư tưởng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, cho thấy sự khác biệt với quan điểm quân sự tư sản, lấy vai trò của chỉ huy với một đội quân nhà nghề cùng súng ống, vũ khí và trang bị kỹ thuật làm sức mạnh. Đó luôn là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và sản xuất, thực hiện tốt nhiệm vụ vừa tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là đội quân luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động, luôn thực hiện mối quan hệ quân dân gắn bó "như cá với nước" và nhận được sự góp sức người, sức của từ nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trong toàn quốc, thấu triệt quan điểm: 1) Mục đích của cuộc kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. 2) Tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. 3) Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, v.v..4) Tiến hành kháng chiến toàn diện, kết hợp các mặt trận và các hình thức đấu tranh; trong đó, đấu tranh quân sự là chủ chốt, Quân đội nhân dân Việt Nam (với các tên gọi Việt Nam giải phóng quân, Vệ quốc quân, Quân đội quốc gia Việt Nam và cuối cùng là Quân đội nhân dân Việt Nam) đã ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường.

Quân đội luôn được "tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo" thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu; đội ngũ cán bộ - "những người tướng giỏi của đoàn thể" và chiến sĩ quân đội luôn được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đã xuất phát từ thực tiễn và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên "lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh",v.v.. để từng bước chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công; đã kiên cường, mưu trí và kiên trì, sáng tạo giành thắng lợi to lớn trong trận Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

 Tuy nhiên chiến tranh chưa kết thúc, không chỉ giúp thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ, can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử. Quyết tâm đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cả nước đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân với tinh thần đoàn kết "triệu người như một", với niềm tin chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và ý chí "đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự".

Tiếp tục phát huy truyền thống "cả nước đánh giặc" của cha ông trong lịch sử, thấm nhuần lời dạy của Lênin, khi có chiến tranh phải "biến cả nước thành một dinh luỹ cách mạng", lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được xây dựng và ngày càng phát triển, hình thành thế trận bao vây và tiêu diệt địch. Để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xuất phát từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà". 

Để thực hiện lời Người, đồng thời để có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra sức rèn luyện, học tập nâng cao trình độ tác chiến trên chiến trường, phối hợp với quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đưa cách mạng tiến lên bằng những bước nhảy vọt. Cuối cùng, không chỉ phát triển về mọi mặt, không chỉ luôn rèn luyện và ngày một trưởng thành mà quân đội ta còn chớp đúng thời cơ và "thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa" để giành thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đát nước.

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

10/12/2019 10:00 CHĐã ban hành
Phòng, chống bệnh lười biếngPhòng, chống bệnh lười biếng
Ngay từ những năm tháng đầu tiên khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Công việc khẩn cấp bây giờ" đã cảnh báo sớm về những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh lười biếng. Nhận diện và đấu tranh phòng, chống bệnh lười biếng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là vấn đề rất cần thiết hiện nay.

phong-chong-benh-luoi-bieng-1.jpg 

Chủ tịch Hồ Chí Minh lao động tăng gia sản xuất cùng cán bộ, chiến sĩ bảo vệ. (Ảnh tư liệu)

LƯỜI BIẾNG CŨNG LÀ KẺ ĐỊCH

Trong tác phẩm "Cần, kiệm, liêm, chính", khi bàn về chữ "Cần", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Lười biếng là kẻ địch của chữ cần. Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc. Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn, hàng vạn người khác"(1). Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc": "Bệnh lười biếng - Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh"(2); Người giải thích cặn kẽ hơn: "Bệnh lười biếng - Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết, không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó. Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng. Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng, không đến nơi đến chốn. Kết quả nhỏ là: nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần. Kết quả nặng là: phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi. Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp"(3).

Người cảnh báo thái độ lười học tập, nhất là lười học tập lý luận chính trị, văn hóa và chuyên môn - nghiệp vụ: "Lười biếng: Không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ của mình về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ. Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế"(4).

Khi cho rằng, lười biếng cũng là đắc tội với đồng bào, với Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã đưa ra hình ảnh so sánh: "Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc"(5).

NGUỒN GỐC BỆNH LƯỜI BIẾNG 

Theo Hồ Chí Minh, cũng giống như bệnh "kiêu ngạo", bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên không tự nhiên sinh ra, không thuộc về bản chất vốn có của họ, lại càng không phải bản chất của Đảng ta, nó do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại. Về nguyên khách quan, từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc trong bài "Tình cảnh nông dân An Nam" đăng trên Báo La Vie Ouvrière, ngày 4-1-1924 đã viết: "Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp. Người nông dân An Nam nói riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản. Chính họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đói"(6). Tiếp đến, ở tác phẩm "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa", Người lý giải: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác"(7). Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người giải thích rõ hơn: "Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa"(8).

Về nguyên nhân chủ quan, Hồ Chí Minh cho rằng, nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: "… vì tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đẻ ra nhiều cái xấu như lười biếng, tham ô, đòi hưởng thụ, kèn cựa, địa vị... Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa"(9). Theo Người, "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng. Ví dụ: lười biếng, hủ hóa, suy tính tiền đồ"(10); "Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. "Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy". Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v.. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội"(11).

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ ra một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến bệnh lười biếng là: "…việc giáo dục chính trị còn sơ sài, thiếu sót. Vì vậy mà một số cán bộ và công nhân còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thái độ làm thuê, thiếu tinh thần làm chủ tập thể. Do đó mà có những hiện tượng xấu như: lười biếng, kèn cựa, thiếu kỷ luật, kém đoàn kết, tham ô, lãng phí"(12).

"PHƯƠNG THUỐC" KHẮC PHỤC BỆNH LƯỜI BIẾNG 

Theo Hồ Chí Minh, khắc phục bệnh lười biếng này là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu trước mắt là khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để nâng cao đời sống nhân dân: "Nước ta còn lạc hậu, dân ta còn nghèo, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn cải thiện đời sống, thì chúng ta càng phải Cần, phải Kiệm, phải chống lười biếng, chống lãng phí"(13). Hơn nữa, đó còn là mục tiêu của xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; "Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ. Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm trọn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau. Ai sợ khó, sợ khổ, muốn "ngồi mát ăn bát vàng", người đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa"(14).

Do đó, Người yêu cầu: "…phải gạt bỏ những thái độ sai lầm như: thỏa mãn với thành tích bước đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh nghiệm đã có, có ít nhiều tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng, hoài nghi những sáng kiến bình thường của quần chúng; lười biếng, không tích cực học tập cái mới, v.v.."(15).

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Hồ Chí Minh nêu ra những "phương thuốc" hữu hiệu để "chữa bệnh lười biếng" đó là:

"Cách chữa:

- Các cơ quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng. Mỗi việc gì đều phải chỉ bảo cách làm.

- Cấp trên phải hiểu rõ tình hình cấp dưới và tình hình quần chúng, để chỉ đạo cho đúng.

- Khi nghị quyết việc gì, phải cẩn thận, rõ ràng. Khi đã nghị quyết thì phải kiên quyết thi hành"(16).

Phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ mọi mặt, Hồ Chí Minh coi đó là biện pháp hết sức rất cần thiết. Người yêu cầu: "Phải chú ý học tập: Chống lười biếng, ngại học tập, muốn nghỉ ngơi. Muốn tiến bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì phải học tập các chính sách của Đảng và Chính phủ"(17). Đồng thời, phải ra sức học tập ở nhân dân, bởi: "Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra"(18).

Người cũng yêu cầu trong Đảng, trong Chính phủ, các cấp, các ngành và mọi đoàn thể cùng mỗi cá nhân phải "…cần có một cuộc vận động: Tiêu diệt lười biếng, nâng cao năng suất, củng cố kỷ luật lao động"(19).

Những lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng chẳng những có giá trị lịch sử, mà còn luôn có tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng nếu được quán triệt và vận dụng sáng tạo sẽ khắc phục có hiệu quả bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên, đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên "vừa hồng, vừa chuyên", công tâm, thạo việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới./.

Gia Khánh

Nguồn Tạp chí Tuyên giáo số 11/2019

 

05/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
Để làm trọn nhiệm vụ người đầy tớ thật trung thànhĐể làm trọn nhiệm vụ người đầy tớ thật trung thành
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tinh thần làm việc và trách nhiệm của "người đầy tớ"/"công bộc" trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là đi đúng đường lối quần chúng, "từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng", thể hiện ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, hiểu dân, học hỏi kinh nghiệm từ nhân dân để hoàn thành trọng trách được giao phó.

hoc-va-lam-theo-bac-de-tro-thanh-cong-boc-cua-dan-1.jpg 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị toàn quốc về phòng, chống tham nhũng. Ảnh: TTXVN

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa hồng vừa chuyên, vì Đảng vì nhân dân mà gương mẫu đi đầu trong mọi công việc, v.v.. là sự quan tâm chu đáo, nhất quán trong tư tưởng và hành động của Người ở mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm lịch sử. Thời chiến cũng như thời bình, Người luôn quan tâm công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển toàn diện, nhất là gương mẫu trong rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để trở thành những người công bộc tận tụy; và chính Người cũng là một mẫu mực của tấm gương người "công bộc"/"đầy tớ" thật trung thành của nhân dân.

Học tập và làm theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là người "công bộc"/"đầy tớ" tận tụycủa nhân dân, cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tập trung thực hiện những giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII ngày 15/5/2016 về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII ngày 30/10/2016 về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", với Quy định 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 về "Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm" và các quy định về nêu gương. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân thành nền nếp, tự giác, nhu cầu tự thân của mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời, nhận diện, chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của những kẻ vi phạm kỷ luật Đảng để không chỉ đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả với các việc làm sai trái mà còn kịp thời và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, xử lý đúng quy định những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bất kể là ai, ở vị trí công tác nào, đương chức hay đã nghỉ hưu.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện tự phê bình và phê bình gắn với tăng cường giám sát và kiểm tra trong mọi mặt công tác, bảo đảm thực chất, dân chủ, khách quan, trung thực, đầy đủ, có chất lượng theo nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa "xây và chống, lấy xây là chính". Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong công tác lãnh đạo, quản lý và kiểm tra, kiểm soát đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu theo định kỳ và đột xuất gắn với giám sát mở rộng và kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong nhiệm kỳ và hằng năm. Thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Chỉ thị 05 theo phương châm "trên trước, dưới sau", "từ trong ra, từ ngoài vào", "từ trên xuống, từ dưới lên", nhằm tăng cường đoàn kết nội bộ; đồng thời, gắn khen thưởng kịp thời với kỷ luật nghiêm minh, góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong mỗi tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị.

Ba là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong việc tăng cường cơ chế tự kiểm soát quyền lực của cán bộ, đảng viên; trong đó, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao càng phải xây dựng và thực hiện việc rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo chương trình của cấp ủy và kế hoạch đăng ký của cá nhân theo nội dung Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nghiêm túc, thực chất. Nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân thông qua sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình, qua hoạt động kiểm tra, giám sát, chất vấn, giải trình, đảm bảo khách quan, minh bạch, dân chủ. Kiên quyết không để lọt vào danh sách cán bộ quy hoạch các cấp, nhất là cấp chiến lược và các cấp uỷ nói chung, của Đại hội Đảng lần thứ XIII nói riêng những cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, cơ hội, vi phạm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng.

Bốn là, dựa vào nhân dân, nâng cao vai trò sự giám sát của nhân dân và đảng viên ở nơi công tác và địa bàn cư trú để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý những hành vi lạm dụng, trục lợi từ quyền lực, cậy quyền, ỷ thế, "lên mặt làm quan cách mạng" của những cán bộ, đảng viên được trao quyền. Các trường hợp vi phạm kỷ luật phải được xử lý nghiêm minh, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để giữ vững và củng cố niềm tin yêu, quý trọng của nhân dân. Trên tinh thần thống nhất giữa nói và làm, nêu gương làm trước, đi đầu trong mọi hoàn cảnh, tinh thần phục vụ tận tụy và thực hiện trách nhiệm "công bộc"/"đầy tớ" nhân dân của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị nói riêng phải được thấu triệt trong suy nghĩ và hành động cụ thể.

Năm là, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Đồng thời, nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực cũng, góp phần lan tỏa những "bông hoa đẹp" trong đời sống xã hội. Đi liền cùng đó, cần kịp thời thông tin về những biểu hiện tha hóa quyền lực, những vụ án tham ô, tham nhũng,v.v.. của cán bộ, đảng viên đã và đang bị xử lý theo pháp luật để không chỉ có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh, ngăn ngừa mà còn góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trước trọng trách, quyền lực được trao trong thực thi nhiệm vụ./. 

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

04/12/2019 10:00 CHĐã ban hành
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh làm nòng cốt cho sự nghiệp quốc phòng toàn dânXây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh làm nòng cốt cho sự nghiệp quốc phòng toàn dân
Cách đây 75 năm, trước yêu cầu của cách mạng Việt Nam và thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đây là sự kiện chính trị, lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngày 22-12-1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng - được lấy làm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và cách đây 30 năm, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) đã ban hành Chỉ thị 381-CV/TW quyết định lấy ngày 22-12 là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

phat_huy_truyen_thong_75_nam.jpg

Ảnh tư liệu: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đã cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, với 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ nhưng Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho trang sử truyền thống "bách chiến, bách thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chưa đầy một năm sau, Quân đội ta đã cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Và ngay sau đó, Quân đội ta đã cùng với lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá của thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng và nền độc lập, tự do của dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt; nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần quả cảm "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", cùng toàn dân trường kỳ kháng chiến, đánh bại chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh", âm mưu "bình định", "phản công" của địch, giành những thắng lợi quan trọng. Nổi bật là trên các mặt trận: Việt Bắc Thu - Đông 1947, Biên giới 1950 và cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", giáng đòn quyết định, đập tan dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân hiếu chiến, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam có bước phát triển, lớn mạnh vượt bậc cả về tổ chức lực lượng, trình độ chỉ huy tác chiến, nghệ thuật quân sự; từng bước hình thành các quân chủng, binh chủng, quân đoàn chủ lực cơ động mạnh, làm nòng cốt bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Mặc dù phải đương đầu với tên đế quốc sừng sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh vào loại bậc nhất thế giới, nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống anh hùng, tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, ý chí quyết chiến, quyết thắng, "dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng", cùng toàn dân đập tan hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không" tháng 12-1972, bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội và hậu phương lớn miền Bắc; lần lượt đánh thắng các chiến lược: "Chiến tranh đặc biệt"; "Chiến tranh cục bộ"; "Việt Nam hoá chiến tranh"; tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết lên trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh; hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa non sông thu về một mối, đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau ngày đất nước thống nhất, Quân đội ta đã thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng, đấu tranh làm thất bại kế hoạch hậu chiến của các thế lực thù địch; xung kích khắc phục hậu quả chiến tranh và một lần nữa lại anh dũng chiến đấu hy sinh, cùng toàn dân tộc tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững cuộc sống bình yên của nhân dân và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy bản chất cách mạng, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", thực hiện tốt chức năng "đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất" trong tình hình mới; chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu với Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kiên quyết, kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh cả trên không, trên biển, biên giới và nội địa, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, thể hiện rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc; luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ chiến đấu, Quân đội ta luôn đi đầu trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tham gia tích cực, có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng cơ sở chính trị, đời sống văn hóa mới,... nhất là trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; luôn xung kích, nòng cốt trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, v.v. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn có mặt ở những nơi xung yếu, khó khăn, nguy hiểm, xả thân để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và làm công tác dân vận đã tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ"; thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững mạnh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, Quân đội đã tích cực, chủ động hội nhập, thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng theo đúng chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, v.v..

Nhìn lại chặng đường 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, chúng ta vô cùng vinh dự, tự hào về những chiến công hiển hách và truyền thống vẻ vang của Quân đội ta. Những chiến công mà Quân đội giành được trước hết là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân; sự nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, anh dũng chiến đấu hy sinh của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Trong suốt 75 năm qua, bất luận trong hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; luôn đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; thực sự là quân đội cách mạng "của dân, do dân, vì dân"; xây đắp nên truyền thống "… Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 như lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng và danh hiệu cao quý "Bộ đội Cụ Hồ".

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, dựa vào dân, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân là quy luật phát triển, cội nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt 75 năm qua. Kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần đề cao trách nhiệm, gương mẫu trong lời nói, quyết liệt trong hành động, nhằm giữ gìn, phát triển mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó "máu - thịt", "cá - nước" giữa Quân đội và nhân dân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc, nên cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân càng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, chấp hành nghiêm kỷ luật trong quan hệ quân dân, gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí. Các đơn vị Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng "đội quân công tác"; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, hỗ trợ, giúp nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp xây dựng, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội, công tác "đền ơn đáp nghĩa", v.v.. Cùng với đó, Quân đội tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt, chỗ dựa tin cậy của nhân dân trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh, góp phần củng cố vững chắc "thế trận lòng dân", tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989/22-12-2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944/22-12-2019) là một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và Quân đội. Đây là dịp để toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân và nhân dân ta nhìn lại chặng đường đã qua, tự hào về truyền thống vẻ vang của Quân đội anh hùng, dân tộc anh hùng. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, với niềm tự hào dân tộc, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thật sự làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Gia Khánh
Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử

 


03/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
Tôn trọng kỷ luật Đảng là đạo đức cách mạng của người cộng sảnTôn trọng kỷ luật Đảng là đạo đức cách mạng của người cộng sản
 

Đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) là những người trực tiếp tuyên truyền, thực hiện đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Hơn ai hết, đây là những người phải nắm chắc, hiểu sâu nguyên tắc của Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng để tuyên truyền đúng, đủ đến các tầng lớp nhân dân. Người CB, ĐV khi tiếp xúc, giao tiếp với nhân dân, với các cơ quan báo chí phải phát ngôn đúng với chức trách, nhiệm vụ, vị trí công tác của mình; đặc biệt, cần bám sát các quy định, quy chế phát ngôn do các cơ quan chức năng cũng như cơ quan, địa phương mình ban hành.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Tăng cường kỷ luật đảng không phải để kỷ luật nhiều đảng viên mà quan trọng nhất là để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết cho đội ngũ CB, ĐV. Để bảo đảm kỷ luật được chặt chẽ, tự giác thì phải mở rộng, tăng cường dân chủ trong Đảng; có như vậy mới bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và từ đó tăng cường dân chủ.

Thực hiện nhất quán những vấn đề mang tính nguyên tắc trên, Đảng và Nhà nước ta luôn phát huy dân chủ, để mọi người được tham gia đóng góp, xây dựng Đảng, hệ thống chính quyền Nhà nước và đề đạt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến riêng của mình. Đảng mở rộng dân chủ trong đóng góp ý kiến, trong phát ngôn, nhưng phải trong khuôn khổ những quy định của nguyên tắc, Điều lệ Đảng. Do vậy, trong các hội nghị, trên các phương tiện thông tin đại chúng, CB, ĐV phát biểu ý kiến phải theo đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng; phải giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được phát ngôn tùy tiện, hoặc lợi dụng các diễn đàn, các cuộc hội thảo, hội nghị để đả kích tổ chức, phê phán lãnh đạo, bôi nhọ cá nhân và tuyên truyền các quan điểm sai trái. Tuỳ tiện phát ngôn sẽ tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và những phần tử xấu lợi dụng chống Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của các diễn đàn online, mạng xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết phải quản lý chặt chẽ CB, ĐV trong cả lời nói và việc làm. Những thông tin trên các diễn đàn, mạng xã hội rất khó kiểm soát, kiểm chứng về mức độ tin cậy. Bởi vậy, khi tham gia các diễn đàn này, bất kỳ một bình luận, phát ngôn nào của CB, ĐV cũng dễ trở thành chủ đề bàn luận, thậm chí bị các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá. Trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và đặt ra các yêu cầu, quy chế về việc phát ngôn đối với mọi đảng viên sinh hoạt ở chi bộ mình. Cấp ủy các cấp, các đảng bộ, chi bộ cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Đảng cho CB, ĐV; kịp thời ngăn chặn, xử lý khi có CB, ĐV vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm trái quan điểm, đường lối, quy định của Đảng và Nhà nước.

Cùng với việc siết chặt quản lý, cấp ủy các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những cá nhân có phát ngôn không đúng với chức năng, nhiệm vụ của mình; không đúng với đường lối, quan điểm của Đảng để giữ nghiêm nguyên tắc, kỷ luật phát ngôn của Đảng. Đồng thời, mỗi CB, ĐV phải nâng cao bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời nhận diện và đấu tranh trực diện chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, lợi dụng chống phá; nhất là khi tham gia các diễn đàn, mạng xã hội trên môi trường internet, từng CB, ĐV cần có nhận thức đúng đắn, không bị các thế lực thù địch, phản động dụ dỗ, lôi kéo, cài bẫy trong các bình luận, phát ngôn, làm tổn hại đến uy tín, thanh danh của Đảng.

Mọi CB, ĐV dù ở cấp nào cũng đều phải rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhất thiết không để CB, ĐV đứng ngoài sự quản lý của tổ chức. Mọi hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, gây chia rẽ, bè phái trong Đảng đều phải bị xử lý nghiêm minh. Đây là yêu cầu cấp thiết thường xuyên để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng. Hơn ai hết, CB, ĐV phải tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, gây mất đoàn kết, nghi kỵ nội bộ, tiếp tay cho những hành vi vi phạm. Có như vậy, kỷ cương, kỷ luật của Đảng không những được phát huy hiệu lực, hiệu quả, mà uy tín, vai trò, vị thế của Đảng ngày càng được tăng cường và khẳng định.

Gia Khánh

Theo Báo Quân đội nhân dân điện tử

 

03/12/2019 11:00 CHĐã ban hành
Đồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà lãnh đạo sáng tạo, chủ động, bản lĩnh; có tầm nhìn đột phá, "dám nghĩ, dám làm"Đồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà lãnh đạo sáng tạo, chủ động, bản lĩnh; có tầm nhìn đột phá, "dám nghĩ, dám làm"
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của mình, đồng chí Nguyễn Văn Chính đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược và những quyết định mang tính bước ngoặt lịch sử, cụ thể như sau:

 

Cố-Tổng-Bí-thư-Lê-Duẩn-và-đồng-chí-Nguyễn-Văn-Chính.jpg 

Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn và đồng chí Nguyễn Văn Chính (người đứng) thăm cơ sở nuôi giấu, che chở cán bộ cách mạng tại tỉnh Long An (Ảnh tư liệu)

Đó là tinh thần chủ động, vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, Ban Chấp hành Trung ương (khóa II) tháng 01/1959 về đường lối cách mạng miền Nam, với sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương chung của Đảng về duy trì đường lối đấu tranh chính trị thi hành theo Hiệp định Giơnevơ 1954. Xác định Long An là vành đai cận kề Sài Gòn cần phải xây dựng lực lượng mạnh chủ động ứng phó, do đó Tỉnh ủy đã xúc tiến thành lập các Tiểu đoàn 506, Tiểu đoàn 508, đồng thời vận dụng nguyên tắc tổ chức cơ quan quân sự tỉnh để thành lập "Đảng ủy quân sự". Đây được xem là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của tập thể Tỉnh ủy Long An trong điều kiện Trung ương chưa cho phép các tỉnh đấu tranh vũ trang, nhưng Long An đã đi trước một bước xây dựng được lực lượng. Do đó, khi Nghị quyết 15 phát tín hiệu cho phép sử dụng bạo lực đấu tranh, chủ trương "quân sự đi trước một bước, lực lượng vũ trang làm đòn xeo cho quần chúng nổi dậy" được đồng chí Nguyễn Văn Chính - Bí thư Tỉnh ủy Long An cụ thể hóa trong phát động Đồng Khởi, đó là sự chuẩn bị lực lượng vũ trang, vũ trang tuyên truyền có thực lực được củng cố phát triển mạnh bằng 3 đợt tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, có sức lan truyền nhanh, hiệu quả. Thắng lợi của phong trào Đồng Khởi ở Long An trong những năm 1960-1961 đã thể hiện sự quán triệt đúng đắn đường lối đấu tranh của Trung ương Đảng với sự linh hoạt, sáng tạo vận dụng phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế địa phương của Bí thư Tỉnh ủy - Nguyễn Văn Chính.

Đồng chí Nguyễn Văn Chính còn là nhà lãnh đạo có tư duy đột phá, lãnh đạo tỉnh Long An mạnh dạn thực hiện một bước đột phá tư duy về quản lý kinh tế theo cơ chế mới bằng cải tiến phân phối và lưu thông hàng hóa một giá, bù giá vào lương, trở thành mô hình thành công về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, động lực cho các địa phương khác áp dụng, thử nghiệm, đóng góp không nhỏ thực tiễn và lý luận cho chủ trương đổi mới toàn diện của đất nước.

Một biểu tượng của lòng dũng cảm và sự dấn thân, đương đầu với thực tiễn của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Chính đó chính là lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An thực hiện chủ trương cải tạo, xây dựng và biến Đồng Tháp Mười từ vùng đất hoang sơ, hoang hóa và nhiễm phèn nặng thành vựa lúa trù phú bậc nhất miền Tây Nam bộ. Vượt qua rất nhiều khó khăn, thách thức, chương trình được hiện thực hóa bằng những hành động quyết liệt. Chủ trương phù hợp lòng dân đã đánh thức được tiềm lực vùng Đồng Tháp Mười, chứng minh được tầm nhìn và năng lực lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Văn Chính.

Phẩm chất đạo đức cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Chính được bồi đắp và hình thành trên nền tảng của truyền thống quê hương, gia đình và đặc biệt là thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Với tư tưởng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, trong suốt quá trình hoạt động từ hạt nhân phong trào cơ sở đến giữ những vị trí lãnh đạo chủ chốt Trung ương, đã thử thách và tôi luyện đồng chí Nguyễn Văn Chính từ một chiến sĩ cộng sản bản lĩnh trong lãnh đạo các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đến tư duy và bản lĩnh quyết đoán, tiên phong đột phá trong phát triển kinh tế, đồng thời khiêm tốn, dung dị, nhân văn với đồng bào, đồng chí.

Trên cương vị Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, phẩm chất yêu thương quần chúng, gần dân để hiểu nguyện vọng của nhân dân thông qua nhiều hoạt động, chủ trương hợp lý, thấu tình đã làm thay đổi cuộc sống của nông dân, qua đó thấy được sự thấu hiểu, gắn bó máu thịt với nhân dân của đồng chí Nguyễn Văn Chính.

Hơn 61 năm hoạt động cách mạng với 70 năm tuổi Đảng, sự hy sinh và cống hiến của đồng chí Nguyễn Văn Chính đối với cách mạng Việt Nam và quê hương Long An là vô cùng to lớn. Ban Tổ chức rất mong và tin tưởng các tham luận, các ý kiến tham gia hội thảo hôm nay sẽ góp phần minh họa, làm sáng tỏ, sâu sắc hơn chân dung chiến sĩ cách mạng chân chính, nhà lãnh đạo tâm huyết, bản lĩnh, trí tuệ, một nhân cách đạo đức chuẩn mực, người con của ưu tú của Long An giản dị, gần gũi, thân tình. Sự cống hiến và phẩm chất đạo đức của đồng chí Nguyễn Văn Chính là tấm gương sáng ngời, là chuẩn mực giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp tinh thần yêu nước, lòng tự hào của dân tộc cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tỉnh Long An học tập và noi theo./.

Gia Khánh

Nguồn Báo Long An online

30/11/2019 12:00 SAĐã ban hành
Đồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà cách mạng kiên trung, người lãnh đạo tiêu biểu của quê hương Long AnĐồng chí Nguyễn Văn Chính - nhà cách mạng kiên trung, người lãnh đạo tiêu biểu của quê hương Long An
Đồng chí Nguyễn Văn Chính quê quán xã Tân Quý Tây, Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí gắn liền với quê hương Long An. Thời kỳ kháng Pháp những năm 1945, đồng chí tham gia phong trào Thanh niên Tiền Phong, hăng hái tham gia giành chính quyền tại địa phương.

Đồng-chí-Nguyễn-Văn-Chính.jpg

Ảnh tư liệu: Đồng chí Nguyễn Văn Chính và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Long An cùng đồng chí Nguyễn Văn Linh khảo sát vùng Đồng Tháp Mười (không rõ năm)

Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí gia nhập tự vệ chiến đấu quân của làng Tân Quý. Tháng 8/1946, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, phụ trách Chủ nhiệm Thôn bộ Việt Minh, Phó Bí thư Chi bộ làng Tân Quý. Tháng 4/1947, là Huyện ủy viên Cần Giuộc, chủ nhiệm Khu bộ Việt Minh khu Phước Điền Thượng.

Năm 1948, đồng chí làm Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc sau đó kiêm Chính trị viên Ban Chỉ huy Huyện đội huyện Cần Giuộc. Năm 1952, đồng chí là Phó Bí thư Huyện ủy kiêm Chính trị viên Ban Chỉ huy Huyện đội dân quân liên huyện Cần Giuộc - Cần Đước - Nhà Bè thuộc tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn. Sau đó, đồng chí được phân công là Trưởng ban Cán sự Đảng, phụ trách huyện Cần Giuộc.

Năm 1954, tỉnh Chợ Lớn được thành lập, đồng chí là Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc, được chỉ định làm Tỉnh ủy viên phụ trách công tác binh vận và 2 huyện Cần Giuộc, Cần Đước. Năm 1956, đồng chí là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Chợ Lớn, rồi Phó Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 10-1957, đồng chí Nguyễn Văn Chính tiếp tục làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Long An, phụ trách Tuyên huấn. Năm 1959, là Bí thư Tỉnh ủy Long An kiêm Chính trị viên Ban Chỉ huy Tỉnh đội. Năm 1973, đồng chí về Trung ương Cục, phụ trách Phó Trưởng ban Thường trực, Ban Tổ chức Trung ương Cục.

Sau năm 1975, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ nhất (4/1977), đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Từ năm 1977 đến 1984, Long An và cả nước đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách do chiến tranh biên giới, lũ lụt và nhất là cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp cản trở nặng nề đến sản xuất, đời sống của nhân dân, đồng chí Nguyễn Văn Chính đã lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và nghĩa vụ quốc tế, khai mở vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh, đi tiên phong cả nước trong việc đột phá vào cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp.

Năm 1984, đồng chí Nguyễn Văn Chính được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Lương thực. Tháng 02-1987, đồng chí được Quốc hội, Chính phủ bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước. Năm 1988, đồng chí được phân công là Phó Trưởng ban thứ nhất Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Năm 1992, đồng chí Nguyễn Văn Chính được bầu làm Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

Gia Khánh

Nguồn Báo Long An online

 

29/11/2019 8:00 CHĐã ban hành
Bài học lãnh đạo quản lý từ cách ứng xử của Bác HồBài học lãnh đạo quản lý từ cách ứng xử của Bác Hồ
Không chỉ tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, thương dân, trí tuệ và nhãn quan chính trị nhạy bén, năng lực thực tiễn và dự báo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là hiện thân của phong cách ứng xử chứa đựng nhiều nét văn hóa đặc sắc, để lại bài học quý giá trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ của Đảng hôm nay.

unnamed.jpg

Ảnh tư liệu

Có rất nhiều câu chuyện về phong cách ứng xử của Bác Hồ, chứa đựng những nét văn hóa đặc sắc, lưu lại cho bao thế hệ người Việt Nam và nhân dân trên thế giới. Dưới đây chỉ là một vài câu chuyện về cách ứng xử của Bác, để lại nhiều bài học quý giá cho hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ.

Câu chuyện mời Bác cưỡi ngựa: Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới. Anh em cảnh vệ kiếm được con ngựa, mời Bác cưỡi. Bác bảo: Chúng ta có bảy người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện. Anh em cố nài Bác: Chúng cháu còn trẻ, Bác đã nhiều tuổi, đường xa, công việc nhiều xin Bác lên ngựa cho. Bác nói: Các chú đều khỏe, còn trẻ cả, để đi đường xem các chú có theo kịp Bác không. Anh em khẩn khoản mãi, không nỡ từ chối, Bác trả lời: Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ balô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

"Chú ngã có đau không?": Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét, Bác vẫn làm việc rất khuya. Một lần, đồng chí bảo vệ Bác bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng hỏi: Chú nào ngã đấy? Bác tới rồi luồn tay vào hai nách, vừa kéo, vừa hỏi: Chú ngã có đau không? Bác sờ khắp người, nắn chân, nắn tay. Bác nói: Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống! Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Bác cười hiền hậu và căn dặn: "Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận".

"Bác có phải vua đâu": Năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành (Yên Thành, Nghệ An), xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi, Bác đứng nói chuyện với nhân dân. Càng gần trưa, nắng càng gắt. Nhìn Bác đứng giữa nắng, ai cũng thấy xót lòng. Đồng chí chủ tịch huyện cho tìm mượn được chiếc ô định giương lên che cho Bác. Bác quay lại hỏi: Thế chú có đủ ô cho tất cả đồng bào không? Thôi cất đi. Bác có phải là vua đâu.

Thăm gia đình chị Chín: Tối 30 Tết năm 1962, Bác thăm gia đình chị Chín ở phố Lý Thái Tổ. Chồng chị mất sớm, để lại ba đứa con nhỏ dại. Chị phải đi làm công nhật để lấy tiền nuôi con. Gặp Bác, chị Chín khóc nức nở. Bác an ủi: Năm mới sắp đến, Bác đến thăm thím, sao thím lại khóc? Cố nén xúc động, chị nói: Có bao giờ… có bao giờ Chủ tịch nước lại tới thăm nhà chúng con…, mà bây giờ mẹ con chúng con lại được thấy Bác ở nhà. Con cảm động quá! Mừng quá thành ra con khóc ạ.

Bác nhìn chị Chín, nhìn các cháu một cách trìu mến và ôn tồn nói: Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai? Rồi Bác đến bên các cháu, âu yếm xoa đầu và trao quà Tết cho các cháu. Bác hỏi thăm và ân cần dặn dò chị về việc làm ăn và học hành cho các cháu. Sau Tết, Bác đã chỉ thị cho Ủy ban hành chính Thành phố Hà Nội phải chú ý tạo công ăn việc làm cho những người lao động gặp nhiều khó khăn như chị Chín.

Bác đi thăm địa phương: Nhiều lần đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Xuống thăm các địa phương là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém. Bác còn nói vui: "Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh như vậy kinh tế sẽ lạm phát". Có tỉnh nọ mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

"Nước nóng, nước nguội": Có một đồng chí cán bộ Trung đoàn thường hay quát mắng chiến sĩ. Một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ đúng Ngọ nên đồng chí cán bộ vã cả mồ hôi, người như bốc lửa. Trên bàn đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Bác chỉ vào cốc nước nóng nói: Chú uống đi.

Đồng chí cán bộ kêu lên: Trời! Nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được. Bác mỉm cười: À ra thế. Thế chú thích uống nước nguội, mát không? Dạ có ạ. Bác nghiêm nét mặt nói: Nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn. Hiểu ý Bác, đồng chí cán bộ nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa.

Những câu chuyện về cách ứng xử của Bác để lại nhiều bài học quý giá cho đội ngũ cán bộ của Đảng về phong cách lãnh đạo, cách giao tiếp, ứng xử, động viên cấp dưới và quần chúng cũng như sử dụng quyền lực trong lãnh đạo, quản lý.

Một là, cách ứng xử của đội ngũ cán bộ cần dựa trên tình yêu thương, tôn trọng con người, hiểu biết tâm lý và phong cách quần chúng. Biết quan tâm đến hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, cũng như những điều quan trọng trong đời sống của quần chúng, đặc biệt là những người có địa vị yếm thế trong xã hội. Như trong câu truyện trên, Bác chọn gia đình chị Chín - một gia đình có nhiều khó khăn để đến thăm.

Cán bộ phải luôn sâu sát, gần gũi, biết hòa mình vào cuộc sống của người lao động, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, tìm cách tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, giúp họ vươn lên. Tuyên truyền, vận động, giáo dục cho quần chúng sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, đồng thời chăm lo cho quần chúng có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, như ý nguyện của Bác: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành".

Học Bác lối sống giản dị, thanh tao, tiết kiệm, chống lãng phí. Tiết kiệm cho mình, cho người khác, cho cơ quan, đơn vị, cho Nhân dân và đất nước. Khi đi thăm hoặc kiểm tra cơ sở hay địa phương cần biểu thị thái độ không hài lòng, hoặc phê bình ngay việc tổ chức đón tiếp gây tốn kém cho dân, cho cơ sở. Sử dụng phương tiện, ăn mặc, đi đứng, cách nói chuyện phải gần gũi, tránh xa cách quần chúng (đi xe sang trọng, ăn mặc chải chuốt, thái độ quan cách...).

Hai là, khi tiếp xúc với mọi người cần thể hiện sự khiêm tốn, chân thành, tôn trọng, quan tâm và chia sẻ. Luôn hòa nhã, điềm đạm, niềm nở, cử chỉ thân thiện, xóa bỏ sự cách biệt về chức vụ, địa vị, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với quần chúng. Không nên sử dụng "nghệ thuật xã giao" mà phải thực sự xuất phát từ tâm hồn, đạo đức và nhân cách.

Bác thường dùng từ ngữ rất bình dị, thân mật, với giọng nói ôn tồn và thái độ trìu mến khiến mọi người cảm thấy gần gũi như những người thân thuộc, như xưng bằng Bác, gọi người khác là chú, thím: "Chú ngã có đau không?"; "Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai?"; Bác nhìn các cháu trìu mến và ôn tồn...

Trong lãnh đạo, việc phê bình, nhắc nhở là cần thiết, nhưng thái độ và cách phê bình phải hết sức tế nhị và khéo léo. Khi người khác có khuyết điểm, không nên phê bình trực tiếp, trước mặt mọi người với những lời lẽ quá mạnh mẽ hoặc xúc phạm. Nên gặp gỡ riêng, phê bình nghiêm khắc nhưng tế nhị, giúp họ hiểu ra lỗi của mình mà không cảm thấy bị xúc phạm.

Ba là, lãnh đạo, quản lý con người là lĩnh vực khó khăn, phức tạp nhất, đòi hỏi những hiểu biết về tâm lý và tầm nhìn sâu rộng. Muốn vậy, cán bộ cần có kiến thức nhất định về tâm lý học nhân cách, tâm lý học lãnh đạo để có thể nắm bắt được những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của cấp dưới và quần chúng, từ đó có những cách thức tác động phù hợp.

Người cán bộ phải có nghệ thuật động viên cấp dưới và quần chúng có thành tích trong lao động, sản xuất và công tác, nhằm kích thích sự hăng hái, nhiệt tình, tin tưởng ở họ. Tuy nhiên, động viên, khen ngợi phải được tiến hành một cách công khai, kịp thời, đúng lúc, đúng mức độ, với ngôn ngữ phù hợp và thái độ chân thành mới có tác dụng thực sự.

Bốn là, cán bộ phải biết sử dụng quyền lực của mình một cách hợp lý, tuyệt đối không lạm dụng quyền lực. Biết lắng nghe, tranh thủ ý kiến của cấp dưới và quần chúng, có nghệ thuật đưa họ tham gia vào việc ra quyết định và thực hiện quyết định của lãnh đạo; có cách thức làm việc khoa học, tác phong sâu sát, cụ thể, tỷ mỷ. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc, có tính quyết đoán, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, không dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể.

Cần phê phán những quan điểm lạm dụng quyền lực như: chỉ biết ra mệnh lệnh, luôn nhắc đến chức vụ, cố tình tạo lối sống "độc đáo" để thể hiện mình thay cho tạo dựng uy tín bằng phẩm chất, năng lực và cách đối nhân xử thế của mình. Học Bác, cán bộ luôn nhớ rằng, 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác không bao giờ coi mình là lãnh tụ mà chỉ như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trận, suốt đời tận tụy phục vụ Nhân dân.

Năm là, mỗi cán bộ cần quan tâm rèn luyện để có được tính khí hoạt bát, hòa nhã, vui vẻ. Luôn giữ sự bình tĩnh, làm chủ và kiểm soát cảm xúc, hành vi, tuyệt đối không được để rơi vào trạng thái nóng nảy, giận dữ "cả giận mất khôn", làm tổn thương đến những người xung quanh, lưu lại trong ký ức của họ một hình ảnh không tốt đẹp. Vì vậy, trong mọi mối quan hệ, mọi trường hợp cần thật bình tĩnh, xử lý khéo léo tình huống để có được kết quả tốt nhất.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

 

28/11/2019 1:00 CHĐã ban hành
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tếThực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Trong hệ thống di sản tinh thần vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho muôn đời sau, tư tưởng của Người về đoàn kết, hợp tác quốc tế là định hướng chiến lược quan trọng cho đường lối, chính sách đối ngoại nói riêng, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói chung.

353.jpg 

Nhân dân Ba Lan nồng nhiệt đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 7/1957. (Ảnh tư liệu)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế chứa đựng nhiều nội dung phong phú, rộng lớn; được thể hiện một cách rõ ràng, nhất quán, kiên định qua nhận thức, quan điểm và hành động của Người. Đáng chú ý một số điểm như sau:

Thứ nhất, đoàn kết quốc tế là một đòi hỏi khách quan, một vấn đề có tính nguyên tắc, là chiến lược xuyên suốt, nhất quán và có vai trò, vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam.

Tiếp bước con đường đi ra thế giới của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh; rút kinh nghiệm từ thất bại của những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỷ XX; nhờ những trải nghiệm trong thời gian sinh sống, lao động ở nước ngoài; qua hoạt động với tư cách đảng viên Đảng Xã hội Pháp, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, và nhất là nhận được nguồn cổ vũ lớn từ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất xác định rõ ràng nền tảng, nhân tố quan trọng cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là đoàn kết, hội nhập với thế giới.

Trong quan điểm của Người, thân phận bất hạnh của đa số "người bị bóc lột", người lao động nghèo ở các nước là cơ sở chính hình thành nên "tình hữu ái", sự đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới; đoàn kết quốc tế là yếu tố quan trọng làm nên sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc nói chung và cách mạng ở Việt Nam nói riêng.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rõ ràng về mục tiêu của đoàn kết quốc tế. Đó là, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp, vì quốc gia, dân tộc và vì nền hòa bình của khu vực và trên thế giới. Với Hồ Chí Minh, "sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới… Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn với chúng tôi"(1).

Thứ ba, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế, để thực sự tạo nên sức mạnh, phải được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản: 1) không phân biệt, bình đẳng, cùng có lợi; 2) tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; 3) phải phát huy tinh thần "tự lực cánh sinh", dựa vào sức của mình là chính; 4) có lý, có tình. Trong Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Chính phủ các nước trên thế giới ngày 14-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới"(2). Người khẳng định: "Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình"(3). Đây là thông điệp về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhau của nhân dân Việt Nam với thế giới. Đây cũng là tư duy, tầm nhìn vượt thời đại của Hồ Chí Minh.

Thứ tư, đoàn kết quốc tế, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề tập hợp lực lượng là rất quan trọng. Lực lượng đoàn kết quốc tế, theo tư tưởng của Người, rất phong phú song tập trung chủ yếu vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Hồ Chủ tịch đã thành công khi gắn cuộc đấu tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh thủ được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đồng thời, trong việc mở rộng lực lượng đoàn kết quốc tế, Người còn xác định rõ vai trò quan trọng của các quốc gia láng giềng, các nước lớn.

Có thể khẳng định, tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những định hướng, nền tảng, cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định và thực thi đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam, là ánh sáng soi đường của đối ngoại Việt Nam.

Những thành công của đối ngoại Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm Đổi mới, là thực tiễn chứng minh rõ ràng và đầy đủ nhất về tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ của con người vĩ đại Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, hợp tác quốc tế luôn là nguyên tắc, chiến lược, có vai trò, vị trí, ý nghĩa quan trọng trong quan điểm, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam đã và đang triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Sau chiến thắng năm 1975, sau gần 10 năm rơi vào tình thế khó khăn trên trường quốc tế, tới năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một giai đoạn phát triển mới, một thời kỳ "Đổi mới" toàn diện, tạo nên thế và lực mới cho dân tộc.

Từ quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô, với Lào và Campuchia, với các nước khác trong Hội đồng tương trợ kinh tế… đến nay, Việt Nam đã xác lập mối quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với gần 30 quốc gia, trong đó có tất cả các nước lớn và 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, là đối tác toàn diện với tất cả các nước trong cộng đồng ASEAN; lần đầu tiên được bầu vào Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL); lần thứ hai được bầu, trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 và tới 2020, là Chủ tịch luân phiên của ASEAN. Là thành viên của WTO, của nhiều thể chế đa phương, đến nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do FTA với 59 đối tác trên toàn thế giới.

Việt Nam ngày càng chủ động, sáng tạo hơn trong triển khai hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế, góp phần phục vụ tốt lợi ích quốc gia, dân tộc. Tính đến nay, Việt Nam được 71 nước công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường và hiện trong top đầu của ASEAN về mức độ hội nhập và độ mở của nền kinh tế. Mối quan hệ với các đối tác kinh tế khiến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tương đương 200% GDP.

Cùng với kinh tế, hợp tác, hội nhập quốc tế đã góp phần không nhỏ trong ổn định chính trị, an ninh trong nước, góp phần đan xen lợi ích với các đối tác, qua đó, tạo cục diện thuận lợi để Việt Nam giữ nước từ xa. Tính đến nay, sau 5 năm bắt đầu tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, Việt Nam đã cử 90 sĩ quan tham gia sứ mệnh quốc tế cao cả này. Có thể xem đây là sự thể hiện mức độ tham gia ngày càng sâu hơn, đóng góp ngày càng tích cực hơn của Việt Nam với tư cách là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Thứ hai, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, hoạt động đối ngoại của Việt Nam tập trung vào các đối tác ưu tiên, chủ chốt, các nước lớn, các nước láng giềng, khu vực và các đối tác quan trọng khác.

Quan hệ giữa Việt Nam với Lào, Campuchia và các nước ASEAN tiếp tục có những bước tiến mới, quan trọng. Những nỗ lực lớn của Việt Nam trong xây dựng mối quan hệ hợp tác quốc tế, nhất là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng nhiều. Kết quả năm 2018, Việt Nam xuất khẩu đạt 243,5 tỷ USD và xuất siêu 6,8 tỷ USD một phần quan trọng nhờ quan hệ tốt với các đối tác lớn.

Thứ ba, đoàn kết, hợp tác quốc tế, với Hồ Chí Minh, gắn với nguyên tắc bất di bất dịch và mục tiêu quan trọng là góp phần đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ; hợp tác tìm giải pháp ổn định, lâu dài, cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau. Đây là một đóng góp lớn của đối ngoại Việt Nam thời gian qua.

Nguy cơ lớn nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam hiện nay, là vấn đề Biển Đông. Tình hình Biển Đông trong vòng hơn 10 năm qua diễn biến ngày càng phức tạp, không chỉ là vấn đề tranh chấp chủ quyền, mà còn là tâm điểm cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, Việt Nam đã, đang và luôn sẵn sàng giải quyết những tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đồng thời coi trọng việc giữ gìn mối quan hệ hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng. Nhờ lập trường chính nghĩa, nhờ những bằng chứng pháp lý và căn cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

 

22/11/2019 12:00 CHĐã ban hành
Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gươngMỗi thầy, cô giáo là một tấm gương
 

Dù trong hoàn cảnh nào, người Việt cũng cố gắng học tập, vươn lên. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Người Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, "tôn sư trọng đạo". Dù trong hoàn cảnh nào, người Việt cũng cố gắng học tập, vươn lên. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chính vì lẽ đó, nhiều năm qua, sự nghiệp GD&ĐT luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn xã hội hết sức quan tâm đầu tư nguồn lực, tâm huyết để đào tạo ra những công dân tốt, nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước. Công tác GD&ĐT cả nước nói chung, trong tỉnh nói riêng không ngừng phát triển, đạt nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp trồng người. Số trường học đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chí mới không ngừng tăng, số học sinh (HS) đúng độ tuổi ra lớp đạt và vượt chỉ tiêu. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn được duy trì, củng cố và nâng lên. HS Long An có tên trong bảng vàng các kỳ thi HS giỏi quốc gia không ngừng tăng. Năm 2019, tỷ lệ HS tốt nghiệp THPT quốc gia được giữ vững ở mức cao. Số HS đậu vào các trường đại học ngày càng nhiều...

Thành tích trên có sự đóng góp cực kỳ quan trọng của các thầy, cô giáo. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục yêu nghề, mến trẻ, tinh thần trách nhiệm cao, chủ động khắc phục khó khăn, tích cực học tập và rèn luyện chuyên môn, tay nghề đóng góp xứng đáng vào thành tích chung của tỉnh, góp phần tích cực phát triển KT-XH.

Tuy nhiên, hiện nay xã hội vẫn còn băn khoăn trước một số hạn chế trong lĩnh vực GD&ĐT. Đó là tình trạng tiêu cực trong thi cử; bạo lực học đường, một số thầy, cô giáo thiếu kỹ năng xử lý các tình huống sư phạm, một số giáo viên thiếu rèn luyện đạo đức, chuyên môn; tình trạng dạy thêm, học thêm và bệnh thành tích còn diễn ra,...

Để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình, phát huy truyền thống tốt đẹp của nhà giáo, xứng đáng với sự tôn trọng, ngưỡng mộ của xã hội, mỗi thầy, cô giáo phải ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phấn đấu là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo. Không ngừng học tập, rèn luyện, nghiên cứu để có phương pháp hay, hiệu quả, kiến thức vững, mới, bổ ích trong những trang giáo án dành cho HS. Bên cạnh dạy văn hóa, tri thức của nhân loại, cần dạy lễ - dạy các em làm người có đức, có tài, dạy kỹ năng sống, biết quan tâm người khác, biết yêu thương gia đình, người thân và yêu quê hương, đất nước, sống có lý tưởng, hoài bão,...

Dù còn những hạn chế nhất định, có lúc bị "những con sâu làm rầu nồi canh" nhưng phải khẳng định: Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý; thầy, cô giáo là những "kỹ sư tâm hồn", có ảnh hưởng quan trọng đến thế hệ trẻ; những nhà giáo đang thiết thực góp phần viết tiếp bức tranh tương lai của quê hương, đất nước. Xin dành sự tri ân và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất cho những "kỹ sư tâm hồn", "người đưa đò thầm lặng" nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11./.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

20/11/2019 7:00 SAĐã ban hành
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo Việt Nam trong sự nghiệp trồng ngườiTư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo Việt Nam trong sự nghiệp trồng người
Sự nghiệp trồng người - giáo dục đào tạo được xác định rõ là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhưng người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ là nhà giáo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục đào tạo chính là đội ngũ những người thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

ho-chi-minh-giaoduc.net.vn.jpg 

Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc năm 1958. Ảnh tư liệu

Việt Nam là một quốc gia, dân tộc có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Là người Việt Nam, có lẽ không ai không nhớ câu châm ngôn "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Các thế hệ học sinh và nhà giáo chúng ta đều thấm nhuần truyền thống đó. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhiệm vụ của giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn-hóa"(1). Thầy giáo là người định hướng, dẫn dắt thế hệ trẻ từng bước lĩnh hội kiến thức, cho nên thời nào cũng vậy, vai trò của thầy giáo là đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp trồng người.

Từ thuở xa xưa, cha ông ta đã coi việc học như quốc kế sinh tồn, hưng thịnh của đất nước. Người thầy giáo, cô giáo từ xưa đến nay đã là một biểu tượng của tri thức, trí tuệ, tài năng và là nhân tố quyết định sự phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài cho đất nước. Truyền thống hiếu học, "tôn sư trọng đạo" từ mạch nguồn như một lẽ tất yếu đã là nét đẹp văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy thể hiện bằng thành tích học tập, tình cảm, sự kính trọng, lòng biết ơn của lớp lớp thế hệ học trò dành cho người thầy và còn được đúc kết thành tục ngữ, thành ngữ lưu giữ suốt chiều dài lịch sử dân tộc: "Không thầy đố mày làm nên"; "Muốn sang thì bắc cầu Kiều/Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy"… để tỏ sự trân trọng, lòng thành kính của xã hội dành cho nhà giáo. Vì vậy, Ngày Nhà giáo Việt Nam được tổ chức hằng năm vào ngày 20/11 không chỉ là dịp để Ngành Giáo dục tôn vinh những người hoạt động trong ngành, học trò thể hiện lòng thành kính "tôn sư trọng đạo" mà còn là dịp để xã hội tôn vinh, tri ân những người đã, đang gắn bó với nghề dạy học. Cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã nói: "Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo". Đảng và Nhà nước ta cũng thường xuyên hết lòng chăm lo đến ngành giáo dục và đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đảng và Nhà nước ta đặt giáo dục và người thầy ở vị trí cao nhất: "Giáo dục là quốc sách hàng đầu". Và xem đầu tư cho giáo dục trở thành đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đất nước.

Trong bài phát nói chuyện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội (10-1964), Người căn dặn: "Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. "Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy, nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang"(2). Vị thế của người thầy vô cùng quan trọng và thiêng liêng, cho nên Người nhắc nhở mọi người cần có quan niệm đúng về nghề dạy học, về vị thế của người thầy trong xã hội: "Ai có ý kiến không đúng về người thầy giáo thì phải sửa chữa"(3). Lời Bác dạy đã cho chúng ta hiểu thêm về vai trò của người thầy giáo đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước nhà.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của nhà giáo là một yếu tố đặc biệt quan trọng để mỗi giảng viên không ngừng vươn lên tự hoàn thiện bản thân mình, xứng đáng với trọng trách cao cả của người thầy. Để xứng đáng với vai trò người kỹ sư "trồng người", người thầy phải không ngừng tu dưỡng rèn luyện trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, phẩm chất nghề nghiệp, trình độ năng lực, tri thức và kĩ năng sư phạm. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Trong Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn ngành Giáo dục ngày 21-2-1956, Người căn dặn: "Các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu"(4). Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, kế thừa truyền thống "tôn sư trọng đạo" của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", phát huy mọi tiềm năng của con người, trong đó có vai trò của đội ngũ nhà giáo và những người làm công tác quản lý giáo dục. Trong nhiều kỳ đại hội, Đảng ta luôn xác định, phát triển đội ngũ nhà giáo là một nhiệm vụ quan trọng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định:"Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo"(5).

Ngày nay, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo với quy mô, chất lượng ngày càng tăng, đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của cả gia đình và nhà trường. Trong đó khâu đột phá mang tính chất quyết định đến chất lượng giáo dục - đào tạo đó là đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Tuy nhiên, việc xây dựng đội ngũ giáo viên luôn luôn gắn liền với việc nâng cao chất lượng của từng thầy, cô giáo và cũng chỉ có từng giáo viên tự phấn đấu vươn lên hoàn thiện mình, vượt qua chính mình thì mới có những tập thể sư phạm giỏi, đáp ứng yêu cầu nền giáo dục, đào tạo mới hiện nay.

Điều đó đặt ra cho mỗi nhà giáo, phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng; tác phong chính quy mẫu mực của người thầy giáo; xây dựng động cơ đúng, trách nhiệm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Mỗi giáo viên phải nêu cao tinh thần tự học tập, nghiên cứu để mở rộng hiểu biết của mình về cả kiến thức chuyên ngành, liên ngành, khoa học xã hội cũng như văn học, lịch sử, văn hoá đặc biệt là những tri thức mới về khoa học sư phạm hiện đại, kỹ năng giảng dạy theo phương pháp tích cực, có phương pháp sư phạm tốt bao giờ cũng có kết quả giảng dạy cao. Và khẳng định được vị thế của người thầy trong sự nghiệp trồng người.

Trong điều kiện mới, mỗi thầy, cô giáo cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt Phong trào thi đua "Dạy giỏi, học thực chất, đánh giá thực chất, kỷ luật nghiêm, chính quy, mẫu mực, an toàn tuyệt đối". Mỗi giáo viên cần chú trọng đổi mới phương pháp, ứng dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, công nghệ thông tin nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy. Biết kết hợp chặt chẽ giữa dạy-học với rèn luyện, dạy chữ, dạy nghề với dạy làm người. Tích cực giúp đỡ, dạy bảo học sinh với tinh thần và trách nhiệm thật cao, đảm bảo cho người học khi ra trường có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trình độ quản lý, chỉ huy khá và giỏi.

Ngày nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi sự nghiệp giáo dục - đào tạo phải đi trước một bước nhằm chuẩn bị nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước những đòi hỏi mới, hơn bao giời hết, mỗi giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam cần thấm nhuần sâu sắc, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của người thầy giáo trong sự nghiệp trồng người.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

16/11/2019 12:00 CHĐã ban hành
Noi gương Bác cần thật cụ thể, thực chất và thiết thựcNoi gương Bác cần thật cụ thể, thực chất và thiết thực
Trong thời gian qua, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều phong trào với các hình thức phong phú, sinh động đã được tổ chức, tuy nhiên, có thể thấy ở một số nơi, việc noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn rơi vào "bệnh hình thức", chạy theo thành tích, không thực chất và do vậy, chưa đạt được kết quả như mong muốn.

noi_guong_bac_can_cu_the.jpg

Ảnh tư liệu: Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương lớn về sự nêu gương

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, suốt đời đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng nhân loại bị áp bức trên thế giới. Người là một tấm gương vĩ đại, sáng ngời và hết sức gần gũi mà toàn Đảng, toàn dân ta nguyện học tập và noi theo. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Người phải được coi là một nhu cầu văn hóa, trở thành động lực tu dưỡng, rèn luyện của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là công việc, nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị, gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.

Nói đến gương là nói đến tấm gương tinh thần, tấm gương đạo đức; còn nêu gương hay làm gương là làm mẫu, tạo ra một mẫu mực cho người khác học và làm theo. Nêu gương và noi gương chính là thực hành đạo đức và là một phương thức lãnh đạo, nhất là việc làm gương và nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cán bộ cấp chiến lược. Nêu gương có một vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong giáo dục, vận động, thuyết phục quần chúng, nhất là ở một nước Á Đông như Việt Nam vốn có truyền thống noi gương và nêu gương, bởi lẽ như Bác Hồ từng nhắc nhở "một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó, để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng; được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo phải nêu gương: "Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý"; vì "quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức". Muốn thu hút, vận động quần chúng theo mình, người lãnh đạo không chỉ đi tiên phong, mà còn là người nêu gương cho những người đi theo. Nêu gương là công cụ, là thuộc tính, phẩm chất không thể thiếu của người lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, nêu gương và noi gương trước hết là trách nhiệm, nhiệm vụ của người lãnh đạo, quản lý và dĩ nhiên, cương vị càng lớn, chức vụ càng cao thì trách nhiệm nêu gương của người cán bộ lại càng phải lớn.

Sức thuyết phục mạnh mẽ trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là ở chỗ, lời nói luôn đi đôi với việc làm, dù việc lớn hay việc nhỏ, tự mình phải làm gương trước. Tấm gương nói đi đôi với làm của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ quan niệm của Người, từ lòng dạ trong sáng, chính tâm, thật sự vì dân, vì nước. Người khuyên mọi người sống trong sạch, không ham tiền tài, danh vọng, không cậy quyền, cậy thế mà đục khoét của dân. Cuộc sống giản dị, trong sạch của Bác Hồ thật sự là tấm gương sáng ngời để cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền phải tự soi lại chính mình.

Đặc biệt, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần thực hiện noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng những hành động, việc làm sao cho thật cụ thể, thực chất và thiết thực, tránh rơi vào "bệnh hình thức", "bệnh thành tích" hoặc thực hiện theo kiểu phong trào, qua loa, chiếu lệ. Cần phải thấy rõ rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là công việc cao siêu, to tát mà là việc làm rất gần gũi, thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị và sinh hoạt hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Và phương châm thực hiện cần quán triệt ở đây là: "Trên trước, dưới sau"; "trong trước, ngoài sau"; học đi đôi với làm theo, chú trọng việc làm theo bằng những hành động, việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp và cán bộ, đảng viên có trách nhiệm tự giác học trước, làm trước để nêu gương cho quần chúng nhân dân.

Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ban hành ba chỉ thị về học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07-11-2006 của Bộ Chính trị khóa X Về tổ chức Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị khóa XI Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Việc thực hiện các chỉ thị này đã trở thành các cuộc vận động lớn với nhiều hình thức phong phú, sinh động, giúp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng có dịp tìm hiểu sâu sắc thêm về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ kính yêu, tiếp thu một cách hệ thống tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để học tập và noi theo gương của Người. Các quyết định và chỉ thị đã tạo ra hiệu ứng tích cực, tạo thành phong trào có sức lan tỏa sâu rộng trong Đảng và trong nhân dân, góp phần tăng cường vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương.

Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 03-KH/TW, ngày 26-7-2016, của Ban Bí thư, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động xây dựng kế hoạch học tập, quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả tích cực đáng được ghi nhận. Ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai học tập chuyên đề năm 2016 và cũng là chuyên đề toàn khóa: "Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; chuyên đề năm 2017: "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phòng, chống suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống,"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"; chuyên đề năm 2018: "Xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; từ đó, đã tạo ra một phong trào lan tỏa rộng rãi trong Đảng và ngoài xã hội, gắn kết xây dựng Đảng về đạo đức với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm xây dựng, bồi đắp, phát huy những tố chất, phẩm chất tốt đẹp của cán bộ, đảng viên và nhân dân theo tấm gương sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Nhiều cấp ủy và người đứng đầu các cấp, cán bộ, đảng viên đã nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm, nói và làm đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực sự là tấm gương cho quần chúng noi theo. Kết quả là có nhiều người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến cơ sở thực hiện tốt việc nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống giản dị, trong sáng, hết lòng vì Đảng, vì dân, trở thành tấm gương sáng về đạo đức cách mạng cho mọi người học tập, noi theo.

Cùng với đó, việc tuyên truyền về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện thường xuyên hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương; qua đó, có khá nhiều mô hình hay, điển hình tiên tiến được tôn vinh, nhân rộng đã bước đầu tạo ra hiệu ứng lan tỏa nhất định trong toàn xã hội đối với việc thực hiện, noi gương, làm theo tấm gương của Bác Hồ.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

 

13/11/2019 1:00 CHĐã ban hành
Tổng quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đức và Tài của cán bộTổng quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đức và Tài của cán bộ
Nói tới tiêu chuẩn cán bộ là nói tới những giá trị chuẩn mực về đạo đức và năng lực mà cán bộ cần phải có để đáp ứng những yêu cầu mà sự nghiệp cách mạng đặt ra.

duc va tai.jpg

Ảnh: Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ"

Đạo đức và năng lực hợp thành những bộ phận cốt yếu, tạo nên cấu trúc Đức - Tài của nhân cách. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gọi nhân cách là tư cách hay tính cách. Trong cấu trúc này, Người đặt đạo đức lên hàng đầu, đức là gốc, tài là quan trọng và cần thiết nhưng trước hết phải có đạo đức làm nền tảng. Tài phải gắn liền với Đức. Trong mối quan hệ Đức - Tài thì Đức bảo đảm cho Tài được phát huy, được thể hiện thành kết quả, hiệu quả, chất lượng công tác và tác dụng trong hoạt động thực tiễn. Tài chỉ trở nên hữu ích, hữu dụng một khi những khả năng, những năng lực của con người được định hướng đúng đắn bởi đạo đức, tức là nhằm vào mục đích, động cơ trong sáng được dẫn dắt bởi lý tưởng, mục tiêu cao cả, vì lợi ích chung của xã hội, của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Mục đích và động cơ, mục tiêu và lý tưởng phản ánh sự định hướng giá trị, thái độ lựa chọn giá trị của con người trong cuộc sống. Quan điểm sống, lẽ sống chi phối hành vi và hoạt động của mỗi người, biểu hiện thành lối sống, nếp sống của mỗi cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh tới các mối quan hệ và chú trọng sự hài hòa khi giải quyết các mối quan hệ đó. Nổi bật ở các mối quan hệ  "với tự mình", "với người khác", "với tổ chức (đoàn thể) và với công việc". Xem xét các mối quan hệ đó trong tính xã hội và lịch sử của nó, Người thường nhấn mạnh tới những biểu hiện mà chỉ có căn cứ vào những biểu hiện đó mới thấy được cả phẩm chất và năng lực của mỗi người - ở đây là người cán bộ cách mạng.

Đó là mối quan hệ giữa nói và làm, giữa nhận thức và hành động, giữa động cơ và hiệu quả, giữa nội dung và hình thức, giữa biểu biết với thái độ và hành vi, ứng xử và tự ứng xử, đánh giá và tự đánh giá… Từ hàng loạt những biểu hiện ấy, con người bộc lộ tất cả đạo đức và năng lực của chính mình.

Do đó, đức và tài chẳng những không tách rời nhau mà trái lại luôn gắn liền mật thiết với nhau. Nếu đức và tài là tiêu chuẩn cơ bản, tổng quát của cán bộ thì việc đánh giá cán bộ phải căn cứ vào thực tế công tác của cán bộ đạt được như thế nào, ở mức độ nào, ở hiệu quả đóng góp của người đó ra sao qua thực hiện các công việc được giao, qua đánh giá xã hội về những đóng góp của người đó vào sự nghiệp chung. Người cán bộ có thể tự đánh giá, tự phê phán bản thân mình qua các tiêu chuẩn Đức - Tài, nhưng đánh giá xã hội qua tổ chức, cơ quan, đoàn thể, qua những người xung quanh (các cộng sự, đồng nghiệp, đồng chí của mình), qua dư luận xã hội (đánh giá của công chúng, từ phía người dân) là rất quan trọng bởi tính xã hội, tính khách quan của sự đánh giá này có độ tin cậy lớn hơn nhiều. Tự đánh giá thường mang tính chủ quan. Tự đánh giá chỉ có ý nghĩa khi chủ thể tự đánh giá có phẩm chất trung thực, khiêm tốn, có động cơ, lý tưởng và đạo đức trong sáng và nó phải được kiểm chứng bởi các đánh giá xã hội.

Tiêu chuẩn tổng quát Đức - Tài có khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong mối tương quan giữa "Hồng" và "Chuyên". Hồng được hiểu là đạo đức, đồng thời cũng biểu đạt ý nghĩa về chính trị, song không được đồng nhất giản đơn đạo đức với chính trị. Thái độ, lập trường quan điểm chính trị của cá nhân, trên một mức độ nào đó cũng phản ánh đạo đức, cũng có quan hệ mật thiết với đạo đức, nói lên trình độ đạo đức của người đó nhưng không vì thế mà xem xét phẩm chất đạo đức cá nhân chỉ thông qua chính trị. Thái độ chính trị và hành vi chính trị trong hoạt động chính trị thực tiễn của mỗi người có chịu tác động trực tiếp của đạo đức và trong đời sống đạo đức của cá nhân cũng có nội dung chính trị. Song không vì thế mà đồng nhất chính trị với đạo đức. Đã có lúc khi đánh giá đạo đức cán bộ chúng ta đã tuyệt đối hóa chính trị, xem đó là thước đo đạo đức, dẫn tới "chủ nghĩa thành phần", "chủ nghĩa lý lịch". Mặt khác, đánh giá đạo đức có khi chỉ thấy đạo đức mà xem nhẹ chính trị, tách rời chính trị khỏi đạo đức. Cả hai khuynh hướng đó đều dẫn tới những sai lạc, những phiến diện trong đánh giá đạo đức thực sự của mỗi người.

Cũng như vậy, xem xét năng lực cán bộ có lúc rơi vào khuynh hướng bằng cấp, chứng chỉ để đo năng lực cán bộ. Tiêu chí bằng cấp có khi bị tuyệt đối hóa trở thành thước đo, thành sự minh chứng cho năng lực. Do đó, nảy sinh tâm lý sính bằng cấp, thực chất năng lực bị lấp khuất và dẫn tới hình thức hóa bằng cấp, hình thức hóa năng lực. Đó là chưa nói đến những tiêu cực và hệ lụy bằng cấp trong điều kiện kinh tế thị trường với sự gia tăng chủ nghĩa thực dụng (bằng giả, mua bằng, mua điểm, gian lận thi cử…), gia tăng chủ nghĩa hình thức, nuôi dưỡng thói hư danh, háo danh, dối trá theo kiểu "học giả" mà bằng thật hoặc không học mà vẫn có bằng cấp, dùng tiền mua bằng, từ bằng giả đến bằng thật. Cần phải kiên quyết loại khỏi nhận thức và hành vi những biểu hiện tiêu cực, phiến diện đó để xác lập đúng đắn tiêu chuẩn Đức - Tài của cán bộ. Một nhân cách lành mạnh đòi hỏi phải thực đức và thực tài, do đó, đánh giá cán bộ phải đúng thực lực, thực chất. Nó đòi hỏi cán bộ phải thực học để có thực lực, thực tài, phải ra sức rèn luyện, trau dồi cả đạo đức và năng lực để có thực đức và thực tài. Phải có cơ chế kiểm tra, đánh giá, kiểm soát để sàng lọc cán bộ, loại bỏ những giả giá trị, không để những giả giá trị đó len lỏi vào thực tiễn đánh giá, sử dụng cán bộ.

Trong thực tiễn giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đánh giá, sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất công phu, cẩn thận, tỉ mỉ đảm bảo tính chính xác, khách quan, công bằng trong xác định tiêu chuẩn cán bộ, trong thực hành tiêu chuẩn Đức - Tài của cán bộ cách mạng.

Người đã từng chỉ rõ, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, thậm chí làm hỏng việc. Đã không có tài thì đức khó mà thực hiện được, thành ra người vô dụng. Còn có tài mà không có đức, hoặc đức kém thì nguy hiểm vì hạng người ấy có thể làm điều xấu, điều ác, sai trái một cách có tính toán vì mưu lợi cho cá nhân hoặc phe nhóm, hậu quả gây ra lớn hơn nhiều so với những người khác làm sai vì kém hiểu biết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luận chứng về mối quan hệ Đức - Tài trong cấu trúc nhân cách một cách sâu sắc và nhất quán. Người luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng quyết định của đạo đức nhưng đó là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động hướng tới mục đích cao cả là vì Dân vì Nước nên phải suốt đời tu dưỡng, rèn luyện bốn đức để làm người. Đó là cần kiệm liêm chính để trong mỗi việc làm, mỗi hành vi ứng xử, trong lẽ sống, lối sống hàng ngày phải thể hiện rõ lòng chí công vô tư.

Nội dung, chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức đó mà người cán bộ cách mạng phải thực hành thường xuyên, bền bỉ suốt đời lại gắn liền với năng lực, với khả năng và tài năng. Vậy là Đức phải có mặt và được đảm bảo bởi Tài và Tài phải được quy định, được dẫn dắt bởi Đức.

Đức nổi bật và nổi trội không chỉ trong nhân cách cá nhân mà còn trong cả tập thể, đội ngũ những người cùng lý tưởng, chí hướng: đồng tâm, đồng ý, đồng chí, đồng hành. Đã có quyết tâm lại phải giữ cho được tín tâm nữa. Nếu trong Đức có Tài và có Tài phải có Đức thì chính trị trong ý nghĩa tích cực, đúng đắn và chân chính nhất của nó - cả lý tưởng chính trị, cả lập trường và quan điểm, thái độ và phương pháp chính trị, cả niềm tin và bản lĩnh chính trị trong hành động để dẫn tới văn hóa chính trị của người cách mạng, rõ ràng là sự chung đúc, thống nhất hữu cơ cả Đức lẫn Tài. Chính trị mà không xuất phát từ mục đích cao quý là vì Nước vì Dân, không được định hướng từ một động cơ trong sáng là toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp chung thì không thể có đủ ý chí, nghị lực và niềm tin để trọn đời tranh đấu, hy sinh, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không thể đủ sức mạnh vượt qua muôn vàn thử thách khó khăn, nhất là những cám dỗ của danh và lợi, của tham vọng quyền lực, địa vị, tóm lại là chủ nghĩa cá nhân - "giặc nội xâm", "giặc ở trong lòng", như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình dung, sớm cảnh báo về nguy cơ tha hóa quyền lực.

Nếu Đức là gốc của nhân cách thì đức cũng là nền tảng, là định hướng nhân văn của chính trị. Điều này đặc biệt quan trọng trong tiêu chuẩn cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược. Chính trị được đảm bảo bởi Đức và Tài, thực đức và thực tài là chính trị thể hiện sâu sắc bản chất khoa học và cách mạng, dân chủ và pháp quyền, nhân đạo và nhân văn, trong đó đạo đức trong sạch, lối sống trung thực, giản dị và khiêm tốn, vị tha, nhân ái và khoan dung là điều căn bản, cốt lõi nhất. Đây lại là đòi hỏi rất cao đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, nắm giữ quyền lực và thực thi quyền lực do dân ủy thác, do tổ chức, đoàn thể tin cậy giao phó cho.

Không có đảm bảo này, chính trị khó tránh khỏi nguy cơ tha hóa và cán bộ rất dễ rơi vào suy thoái, hư hỏng. Không phải ngẫu nhiên mà khi nói tới chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh hai tiêu chí: Đoàn kết và Thanh khiết, thanh khiết từ việc nhỏ tới việc lớn, nghĩa là không quan liêu, tham nhũng, phải "quang minh chính đại", phải "dĩ công vi thượng", phải "phụng công thủ pháp" lại phải "tinh thành đoàn kết".

Từ quan niệm tổng quát về Đức và Tài như vậy trong tiêu chuẩn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa thành những yêu cầu, những chuẩn mực giá trị thể hiện trong hoạt động, trong ứng xử giữa các mối quan hệ mà mỗi người phải đáp ứng. Và với thanh niên, với thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Tuổi trẻ phải có chí khí lớn, hoài bão lớn, làm những việc lớn vì Dân vì Nước. Tuổi trẻ chỉ ham học, ham làm, ham tiến bộ. Tuổi trẻ chớ có ham làm quan to. Phải tránh xa cạm bẫy tiền bạc, địa vị, danh vọng, quyền lực. Nếu không có bản lĩnh vượt qua thì rất dễ rơi vào hư hỏng.

Rõ ràng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh - Đức và Tài là giá trị cốt lõi trong nhân cách, trong tiêu chuẩn cán bộ mà đức là gốc.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

12/11/2019 12:00 CHĐã ban hành
Tầm nhìn chiến lược về cán bộ và tấm gương mẫu mực thực hành tiêu chuẩn cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí MinhTầm nhìn chiến lược về cán bộ và tấm gương mẫu mực thực hành tiêu chuẩn cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
 Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng, Nhà nước, quân đội nhân dân, lực lượng công an cách mạng. Người còn sáng lập ra Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể quần chúng. Trong hơn sáu thập kỷ hoạt động cách mạng, Người đã dày công xây dựng tổ chức, lực lượng cách mạng, gây dựng lực lượng đồng thời dành nhiều thời gian, tâm trí và sức lực cho việc giáo dục, đào tạo và huấn luyện cán bộ. Người đã từng chỉ rõ, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng. Muôn sự thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém mà ra.

 ​​​can_bo_truoc_het.png

Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận rõ vai trò và tầm quan trọng quyết định của cán bộ. Chất lượng của từng cán bộ, đảng viên và chất lượng của cả đội ngũ cán bộ được Người thường xuyên quan tâm với tầm nhìn chiến lược của nhà tư tưởng và nhà tổ chức thiên tài. Người xác định rõ ràng tiêu chuẩn cán bộ và công phu tổ chức việc giáo dục, đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng lớp lớp cán bộ sao cho những tiêu chuẩn cán bộ được định ra không dừng lại ở nhận thức, quan niệm mà phải được thực hành trong thực tiễn cách mạng, được định hình thành giá trị, thành chất lượng, tạo thành sức mạnh trong hoạt động, sức sống​, sức chiến đấu của Đảng cách mạng chân chính, sức lan tỏa, thúc đẩy phong trào thi đua ái quốc, nêu gương cho quần chúng noi theo, "đảng viên đi trước, làng nước theo sau", làm cho kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành". Đề cập tới tiêu chuẩn cán bộ và ra sức thực hiện tốt nhất những tiêu chuẩn đó trong những nhiệm vụ công tác hàng ngày của cán bộ một cách bền bỉ, thường xuyên, liên tục để cán bộ đảng viên thực sự là tấm gương cho quần chúng noi theo, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, dân ủng hộ, dân giúp đỡ, dân bảo vệ - đó chính là bí quyết của thành công.

Như vậy, xác định đúng tiêu chuẩn cán bộ là cơ sở để tiến hành mọi hoạt động cần thiết của công tác cán bộ gắn liền mật thiết với công tác tổ chức, nhất là giáo dục, rèn luyện cán bộ, từ đó xem xét, đánh giá, bố trí cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên giành thắng lợi.

Quan hệ giữa cán bộ với phong trào và quan hệ giữa cán bộ với tổ chức, quan hệ giữa cán bộ với dân luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét, nghiên cứu, tổng kết, rút ra kết luận và những bài học kinh nghiệm xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, từ mục đích cao nhất là phục vụ nhân dân, vì cuộc sống và quyền làm chủ của dân, coi phục vụ nhân dân, làm đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của dân là phục tùng một chân lý cao nhất, là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất.

Người không chỉ nhấn mạnh quan điểm và nguyên tắc, phương châm và phương pháp có ý nghĩa chỉ đạo công tác cán bộ, xác định đường lối và chính sách cán bộ mà còn làm sáng tỏ khoa học và nghệ thuật trong phép dùng người, nhất là trọng dụng nhân tài, trọng đãi hiền tài với những nét đặc sắc, tinh tế thuộc về văn hóa và văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, thuộc về phong cách Hồ Chí Minh - nơi hội tụ, kết tinh tư tưởng, phương pháp và đạo đức của Người. Trong bản Di chúc lịch sử, thiêng liêng mà Người khiêm nhường chỉ gọi là một bức thư, là mấy lời để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa, Người đã căn dặn "đầu tiên là công việc với con người". Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, trong đó có tiêu chuẩn cán bộ mà Người nêu lên từ rất sớm, từ tác phẩm "Đường Kách mệnh" (1927) đến những tác phẩm cuối đời "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" (03/02/1969) và "Di chúc" (1965-1969) tỏ rõ tính hệ thống, tính nhất quán, thấm nhuần sâu sắc triết lý và minh triết Hồ Chí Minh về người cách mạng, cán bộ cách mạng và đạo đức cách mạng.

Đây thực sự là tài sản tinh thần vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng và nhân dân ta, có giá trị bền vững, luôn mới mẻ và hiện đại về mặt lý luận, có sức thuyết phục to lớn về mặt thực tiễn, bởi đó là "lý luận lãnh đạo thực hành"(1), bởi chính Người đã thực hành mẫu mực tiêu chuẩn cán bộ bằng tất cả những trải nghiệm trực tiếp trong hoạt động đấu tranh cách mạng của mình, "đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ"(2).

Còn có sự xác tín nào hơn nữa về tiêu chuẩn cán bộ mà chân thực, đầy đủ, sâu sắc, trọn vẹn và toàn vẹn như Chủ tịch Hồ Chí Minh - hiện thân của tận trung với Nước, tận hiếu với Dân, một lòng một dạ, toàn tâm, toàn ý vì Dân vì Nước, tuyệt đối không màng danh lợi, cả đời ở ngoài vòng danh lợi, suốt đời đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân để suốt đời dấn thân, tranh đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

07/11/2019 12:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ
Chịu trách nhiệm chính:​  Ông Lê Văn Nên - PCT.UBND huyện. ​
Địa chỉ: ​Khu phố 2 thị trấn Đông Thành huyện Đức Huệ, Long An.
Điện thoại : (072) 3854230​ * Fax: (072) 3854771 ​ * Email: bbtduchue​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​