Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHọc tập làm theo lời Bác

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 202742
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Sức mạnh của thi đuaSức mạnh của thi đua
Cách đây 72 năm (ngày 11/6/1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, trong bối cảnh nhân dân ta đang bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, kịp thời động viên mọi lực lượng tham gia thực hiện đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Và cũng suốt ngần ấy năm trôi qua, phong trào thi đua yêu nước tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ra sức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, thi đua yêu nước chính là sức mạnh, trở thành động lực quan trọng phát triển kinh tế- xã hội, đưa đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.

 Thuở sinh thời, Bác Hồ kính yêu cho rằng bất kỳ công việc gì ích nước lợi nhà đều có thể và cần phải thi đua. Mọi hoạt động trên tất cả các lĩnh vực phải được tiến hành một cách tích cực và sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, sản xuất ra nhiều của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.

Và cũng bởi, lúc ấy lòng yêu nước, thương dân, đối với quê hương, đất nước, vì sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới được thể hiện rõ ở phong trào thi đua yêu nước, được thể hiện bằng hành động thực tế, cụ thể, thiết thực trong cuộc sống, chiến đấu, lao động và học tập.

Thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác Hồ kính yêu, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, phong trào thi đua yêu nước của tỉnh được đẩy mạnh cùng với ý chí không chịu khuất phục, vươn lên của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, tiềm năng và lợi thế của tỉnh nhà ngày càng được phát huy, tạo nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.

Điển hình là các phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; "Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng"; "Thi đua quyết thắng", "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc"; rồi "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"... Các phong trào thi đua yêu nước thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, phát huy tác dụng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đặc biệt, là thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng được đẩy mạnh, tạo chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Thông qua các phong trào thi đua, tỉnh huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiều mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Kinh tế - xã hội tỉnh nhà có những tiến bộ vượt bậc như thu ngân sách nhà nước trên địa bàn hàng năm đều vượt dự toán; giá trị sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá; xuất khẩu tăng cao; thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển. Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi; lĩnh vực giáo dục, y tế tiếp tục có bước phát triển; công tác an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả. Cải cách thủ tục hành chính được thực hiện mạnh mẽ; kỷ luật, kỷ cương hành chính được chú trọng. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo… Đây chính là điều kiện để giúp Đảng bộ, quân và dân tỉnh nhà tiếp tục vượt qua khó khăn, giành được những thành tựu lớn hơn trong chặng đường phía trước của sự nghiệp đổi mới.

Để phong trào thi đua yêu nước cùng các điển hình tiên tiến ngày càng nhân rộng, tạo ra sự lan tỏa, trở thành động lực, sức mạnh để mọi cá nhân, tập thể nỗ lực hơn nữa triển khai thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp, chúng ta cần phải tiếp tục quán triệt sâu sắc Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác và các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, nhằm nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa và vai trò quan trọng của các phong trào thi đua yêu nước trong tình hình mới.

Đồng thời để đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, chúng ta cần đổi mới nội dung, hình thức tổ chức các phong trào thi đua cho phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của từng địa phương, từng đối tượng. Các nội dung thi đua phải cụ thể, rõ ràng, có trọng tâm, trọng điểm, có chỉ tiêu thi đua, xác định rõ đối tượng tham gia; hình thức thi đua phải đa dạng, phong phú, thiết thực, tránh sự nhàm chán, tẻ nhạt.

Bên cạnh, công tác khen thưởng phải bảo đảm đúng thực chất, đảm bảo tính nêu gương, giáo dục, được dư luận xã hội đồng tình, tránh khen thưởng tràn lan, không đúng đối tượng, tiêu chuẩn. Có như vậy, công tác khen thưởng sẽ trở thành động lực thúc đẩy phong trào thi đua…

72 năm trôi qua kể từ ngày Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và 51 năm ngày Bác đi xa, nhưng lời kêu gọi lòng yêu nước và tinh thần thi đua ái quốc của Bác vẫn còn vang vọng, vẫn nguyên vẹn giá trị lịch sử. Lời kêu gọi của Bác trở thành giá trị tinh thần vô giá, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mới, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng to lớn, đàng hoàng hơn, sánh vai với các cường quốc năm châu mà Bác hằng mong ước…

Gia Nguyên

Nguồn Báo Long An online

 


29/06/2020 10:00 CHĐã ban hành
Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong ĐảngNhững chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Vì thế, làm chủ trong Đảng thực chất cũng là quyền làm chủ của mỗi đảng viên trong mọi hoạt động của Đảng, là sự bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ và nghị quyết của Đảng. Nếu dân chủ là "của quý báu nhất của nhân dân" thì dân chủ trong Đảng cũng là "của quý báu nhất của Đảng"; thực hành dân chủ trong Đảng là "chìa khóa vạn năng" giúp Đảng giải quyết mọi khó khăn. Dân chủ có sức mạnh bao nhiêu thì mong muốn thực thi dân chủ trong Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lớn bấy nhiêu. Bàn về vấn đề này, Người có những quan điểm chỉ đạo sau đây:

 hinh 1.jpg

Thứ nhất, cần thiết phải mở rộng thực hành dân chủ trong Đảng, bởi lẻ nước ta là nước dân chủ, chế độ ta là chế độ dân chủ, nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân; cho nên, lực lượng lãnh đạo tất yếu phải hoạt động theo nguyên tắc tập hợp dân chủ, đảng viên của Đảng phải làm việc, lãnh đạo theo phong cách dân chủ. Hơn nữa, với sứ mệnh là lực lượng lãnh đạo, có trách nhiệm nêu gương cho nhân dân, sự dân chủ trong Đảng sẽ là điều kiện để thực thi dân chủ trong xã hội. Theo Người "dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau"; mất dân chủ trong Đảng sẽ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết và làm nảy sinh các thói xấu như "không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng", "trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm"… Sự cần thiết phải mở rộng dân chủ trong Đảng còn bắt nguồn từ một thực tế là "cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng", ở trong Đảng còn không ít cán bộ "miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ". Đoàn kết, sáng kiến và sự nhiệt huyết của cán bộ luôn là hệ quả của dân chủ. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải sửa đổi lối làm việc, "phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng".

Thứ hai, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ trong Đảng không đơn thuần là việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà mọi hoạt động của Đảng đều phải dựa trên nền tảng dân chủ và hướng tới mục tiêu dân chủ.

Trước hết, tính dân chủ phải được thể hiện trong mục tiêu, lý tưởng của Đảng là vì nước, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng". Đặc biệt, khi đã giành được chính quyền thì Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ, Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Phụng sự nhân dân phải trở thành lẽ sống và động cơ phấn đấu của những người muốn đứng vào hàng ngũ của Đảng. Nhân dân là chủ nhân của xã hội nên vì dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân chính là thứ dân chủ đích thực nhất và điều đó làm nên sự vĩ đại của Đảng, tăng cường sự gắn kết giữa Đảng và nhân dân.

Tính dân chủ còn phải "thấm sâu" vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Để cán bộ, đảng viên hiểu rõ quyền của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra các biểu hiện của dân chủ trong Đảng: Nghị quyết của Đảng phải được thảo luận, tranh luận thẳng thắn, góp ý và biểu quyết; các cơ quan lãnh đạo phải do đảng viên bầu ra; quyền lực của cơ quan lãnh đạo là do các đảng viên giao phó… Đặc biệt, quyền tự do bày tỏ ý kiến của mọi đảng viên nhất thiết phải được thực thi vì đó không chỉ là cách thức tốt nhất để có đường lối đúng mà còn là tiền đề tốt để đường lối được triển khai có hiệu quả trong thực tiễn. Dân chủ trong Đảng còn là sự bình đẳng giữa cấp trên và cấp dưới; người lãnh đạo cần phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, kể cả các ý kiến trái chiều. Nếu có ý tưởng tốt thì người lãnh đạo cũng phải kiên trì, khéo léo biến nó trở thành ý chí của tập thể, không được phép áp đặt quan điểm cá nhân một cách thô bạo. Những ý kiến thuộc về thiểu số phải được bảo lưu, đệ trình lên cấp trên xem xét.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là nguyên tắc lãnh đạo, vừa là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải: "Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung". Thực thi nguyên tắc này giúp Đảng vừa tránh được sự chuyên quyền, độc đoán - kẻ thù của dân chủ, vừa phát huy được trí tuệ, kinh nghiệm của nhiều người, đồng thời cũng tránh được căn bệnh vô trách nhiệm hay thói "tranh công, đổ tội".

Tính dân chủ trong Đảng còn phải được thể hiện trong việc thực thi nguyên tắc tự phê bình và phê bình - "vũ khí sắc bén nhất" giúp Đảng ngày càng mạnh. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ, thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn". Người còn yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải có thái độ khiêm tốn, cầu thị, không được thù hằn cá nhân khi tiếp nhận ý kiến phê bình của cấp dưới. Sự bình đẳng và thái độ tôn trọng cấp dưới của người lãnh đạo chính là thước đo "hàm lượng" dân chủ của tổ chức đảng.

Nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh tự giác cũng toát lên tinh thần dân chủ khi quy định tất cả mọi tổ chức đảng, không phân biệt cấp cao hay cấp thấp, tất cả mọi đảng viên, không phân biệt cán bộ lãnh đạo hay đảng viên bình thường, đều bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước mọi quyết định của Đảng và đều phải giữ vững kỷ luật của Đảng, phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng cũng thấm nhuần tinh thần dân chủ. Mọi đảng viên đều có trách nhiệm giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng và người lãnh đạo phải là trung tâm của sự đoàn kết. Rõ ràng là, nếu mọi nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng đều được tuân thủ và thực hành triệt để thì dân chủ trong Đảng sẽ được nâng cao.

Không chỉ vậy, bản chất dân chủ của Đảng được thể hiện rõ nhất trong cách lãnh đạo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đúng trước hết là "quyết định mọi điều cho đúng" và Người chỉ dẫn "quy trình" làm chính sách hết sức dân chủ như sau: Đầu tiên, cán bộ phải thành tâm, chịu khó, khéo léo khơi gợi để quần chúng nói lên ý kiến của mình; sau đó phải "khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng"; nếu nghị quyết nào mà dân chúng cho là không hợp thì đề nghị họ nêu phương án sữa chữa. Đề cao tinh thần dân chủ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán căn bệnh duy ý chí mà Người gọi là "đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo".

Lãnh đạo đúng còn là "tổ chức thi hành cho đúng"; cho nên, bằng mọi cách, người cán bộ phải biến chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng. Do thực tiễn luôn phong phú hơn lý luận nên nếu chính sách nào không phù hợp thì cán bộ "phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi và sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc". Việc cho phép cán bộ giải quyết công việc một cách linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở lấy lợi ích của nhân dân làm thước đo chân lý cũng biểu hiện tính dân chủ trong Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đúng còn là "kiểm soát đúng". Kiểm soát có hai cách, không chỉ là từ trên xuống mà còn là từ dưới lên; quần chúng nhân dân và cán bộ cấp dưới kiểm soát cán bộ cấp trên bằng sự góp ý, phê bình công tác lãnh đạo và bằng sự lựa chọn người lãnh đạo.

Khi nêu gương (chứ không phải quyền uy, mệnh lệnh thô bạo) được xem là một trong những phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng thì điều đó cũng thể hiện tinh thần dân chủ. Nói về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: "Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Người còn nhấn mạnh: "Nhất là người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo". Dân chủ không phải là sự ban ơn của Đảng hay cấp trên ban cho cấp dưới và nhân dân mà chính là yêu cầu nội tại của công tác lãnh đạo, thể hiện đạo lý và phong cách cần thiết của người lãnh đạo.

Sức mạnh của Đảng được tạo dựng bởi đội ngũ cán bộ nên muốn mở rộng dân chủ trong Đảng thì công tác cán bộ phải thực sự dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn "Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu", phải thực sự tôn trọng cán bộ. Tôn trọng cán bộ trước hết là tôn trọng ý nguyện của họ nên trước khi giao công tác, cần phải bàn kỹ với họ. Nếu họ cảm thấy quá sức, "gánh không nổi thì không miễn cưỡng, nhưng nếu đã giao việc thì phải giao quyền, phải động viên để cán bộ có gan phụ trách", mạnh dạn phát huy năng lực sáng tạo. Tôn trọng cán bộ thì phải giữ cho họ uy tín và sự tự tin nên nếu việc gì thực sự quá sức thì "tốt nhất là đổi việc khác cho thích hợp với họ, mà không cần cho họ biết vì họ không làm nổi việc kia. Đó là để giữ lòng hăng hái của họ, để cho họ khỏi nản lòng". Cách mạng là sáng tạo với vô vàn công việc mang tính khảo nghiệm nên khó tránh khỏi mắc sai lầm. Vì vậy, khi cán bộ cấp dưới mắc sai lầm thì cấp trên phải giải thích để cấp dưới tự nhận thức và tự nguyện sửa đổi, chứ không phải vì bị cưỡng bức mà sửa đổi. Và để bảo đảm dân chủ trong công tác cán bộ, Đảng cần phải ra sức chống căn bệnh hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa, kéo bè, kéo cánh…

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải "dựa vào ý kiến của dân chúng mà sữa chữa cán bộ và tổ chức ta". Người cho rằng, "nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích". Còn trong nội bộ Đảng, phải hết sức chú trọng công tác phê bình từ dưới lên. Tin cậy, tôn trọng ý kiến và sự lựa chọn của cấp dưới, của quần chúng nhân dân chính là dân chủ.

Thứ ba, mặc dù rất đề cao dân chủ nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý: Dân chủ nhất thiết phải đi đến tập trung và tập trung phải trên nền tảng dân chủ. Giữa dân chủ tập trung là sự hòa quyện hữu cơ, là sự "tương sinh" mật thiết nên nếu thiếu một trong hai yếu tố thì chẳng những Đảng sẽ rơi vào căn bệnh vô tổ chức hoặc độc đoán, chuyên quyền, mà bản thân yếu tố còn lại cũng không thể trở thành "chính nó", đúng như bản chất của nó. Thấu hiểu quan hệ biện chứng đó, nên theo Người, mở rộng dân chủ trong Đảng nhất thiết phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, phải tránh căn bệnh "dân chủ quá trớn". Mặt khác, do dân chủ là "của quý báu nhất" nên nó phải được bảo vệ nghiêm cẩn bằng cách triệt tiêu những yếu tố phản dân chủ. Vì thế, Bác nhấn mạnh, "chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ". Thấu hiểu sức mạnh của dân chủ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc rằng "trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi". Đây là sự đúc kết bao suy tư của Người về một vấn đề căn cốt của Đảng.

Là người "nói ít, làm nhiều", Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề ra hệ thống quan điểm về dân chủ, mà bản thân Người còn là tấm gương ngời sáng về phong cách lãnh đạo dân chủ. Dù là lãnh tụ với uy tín tối cao, Người luôn tôn trọng tập thể, lắng nghe cấp dưới, cho phép cấp dưới tự do thể hiện quan điểm, khuyến khích cán bộ phê bình mình… Những quan điểm đúng đắn, sáng tạo và sự mẫu mực trong thực hành dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn cho toàn thể cán bộ, đảng viên noi theo.

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - Số 939 (4/2020)


20/06/2020 12:00 SAĐã ban hành
Mẩu chuyện: Bác với Điều lệ Hợp tác xãMẩu chuyện: Bác với Điều lệ Hợp tác xã
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến nông dân - lực lượng to lớn của cách mạng. Người luôn khẳng định nông dân Việt Nam là động lực, là gốc của cách mạng Việt Nam, có vai trò to lớn trong khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện nhiệm vụ dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.

BAC HO VOI NONG DAN.jpg 

Những năm tháng cuối đời, tuy sức khỏe yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị hay trong các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc đến Điều lệ hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm, nên lấy ngày ban hành Điều lệ hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được.

Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào chữ nghĩa cầu kỳ, khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La Mã, Bác sửa lại "Chương Một… Hai...", câu "Nhà nước hết lòng giúp đỡ", Bác bỏ chữ "hết lòng" vì thừa. Câu "Xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu", Bác sửa cho chặt chẽ hơn: "Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu", chữ "để lại" vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và hợp tác xã.

Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: "Quỹ tích lũy để khoảng 7 - 10% thu nhập hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân". Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích lũy 5 - 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc, dễ nhớ để làm theo.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bác Hồ với nông dân.


16/06/2020 11:00 CHĐã ban hành
Những nội dung cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nayNhững nội dung cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Bac Ho 8620.jpg 

1. Tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; lấy đó làm nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở Việt Nam gần 35 năm qua. Đảng ta ngày càng trưởng thành hơn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, nâng vao vai trò, vị thế cầm quyền, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng Đảng đã khẳng định, phải tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết, mạnh mẽ nhằm tạo ra một bước chuyển biến rõ rệt hơn nữa trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố tổ chức chặt chẽ; tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xem đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta.

Phương hướng chung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là phải tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, khoa học và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

3. Tiếp tục phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn luôn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp cần phải quan tâm, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; bồi dưỡng sức dân; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút trọng dụng nhân tài; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học - công nghệ; xây dựng và phát triển giá trị, sức mạnh con người Việt Nam; quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

4. Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII); đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước góp phần tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, xem đó là công việc quan trọng cần triển khai thường xuyên; học tập, vận dụng sáng tạo và thực hiện có hiệu quả Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước; kịp thời lựa chọn, phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các mô hình điểm, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, thiết thực trong các phong trào thi đua ở địa bàn cơ sở; các gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới trong các phong trào thi đua yêu nước để tuyên truyền động viên, cổ vũ, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng… Qua đó, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bản tin Thông tin nội bộ - số 05/2020


07/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Đức Huệ sơ kết 04 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trịĐức Huệ sơ kết 04 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị
Chiều ngày 19/5/2020, Ban Thường vụ Huyện ủy Đức Huệ tổ chức sơ kết 04 năm thực hiện Chỉ thị 05 – CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và họp mặt biểu dương, khen thưởng điển hình tiên tiến nhân dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020). Đến dự hội nghị có ông Trần Thanh Phong – Bí thư Huyện ủy Đức Huệ, ông Võ Văn Hy – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, ông Lê Văn Nam – Chủ tịch HĐND huyện.

20-5-2020 ong Tran Thanh Phong  tang hoa cho cac tap the va ca nhan trinh bay tham luan tai hoi nghi.jpg 

Bí thư Huyện ủy – Trần Thanh Phong tặng hoa cho các tập thể và cá nhân trình bày tham luận tại hội nghị.

 20-5-2020 Cac tap the duoc UBND huyen trao giay khen (2).jpg

Các tập thể được UBND huyện trao giấy khen.

Qua 04 năm, huyện Đức Huệ triển khai thực hiện Chỉ thị số 05–CT/TW của Bộ Chính trị về việc "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị cũng như đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn huyện luôn xây dựng chương trình hành động, kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo chuyên đề hàng năm gắn với thực tế ở đơn vị, địa phương đồng thời thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chú trọng lựa chọn nội dung đột phá để tạo chuyển biến rõ nét.

Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện tích cực "học tập" và "làm theo" gương Bác bằng những mô hình, việc làm cụ thể, thiết thực và hiệu quả, chủ yếu bám sát nhiệm vụ chính trị. Qua đó, nhiều phong trào thi đua được triển khai thực hiện ở các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương một cách sinh động, linh hoạt, sáng tạo.

Điển hình như Mặt trận Tổ quốc huyện thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh giai đoạn 2016 – 2020 đã vận động nhân dân đóng góp số tiền trên 2,5 tỷ đồng và 259 ngày công lao động vào các công trình xây dựng nông thôn mới; Hội Nông dân với các mô hình "Tổ kinh tế hợp tác trồng chanh", nuôi gà công nghệ sinh học… Liên đoàn lao động phát động nhiều phong trào thi đua mang lại hiệu quả thiết thục đã thu hút đông đảo công đoàn viên tham gia như: vận động quỹ "Tấm lòng vàng" với số tiền gần 160 triệu đồng, vận động xây dựng 11 mái ấm công đoàn với kinh phí 440 triệu đồng; Hội LHPN thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua như  "Phụ nữ tích cực học tập, lao động, sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc", mô hình "Hủ gạo tình thương", "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương, "Nuôi heo đất" v.v….

Nhiều tham luận của các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực đã minh họa tại hội nghị sơ kết không chỉ đã làm nổi bật mà còn tô thấm thêm và tỏa ngát hương trong khu vườn hoa của huyện nhà trong việc "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" ở thời gian qua.

Dịp này, có 12 tập thể và 27 cá nhân vinh dự nhận giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Đức Huệ vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chỉ thị số 05 – CT/TW của Bộ Chính trị giai đoạn 2018  - 2020.

Tiến Anh


20/05/2020 8:00 SAĐã ban hành
Đức Huệ nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả từ việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TWĐức Huệ nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả từ việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW
Kế thừa, phát huy những thành tích, ưu điểm đã đạt được trong những năm qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Đức Huệ tích cực "học tập" và "ỉàm theo" gương Bác bằng những mô hình, việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, bám sát nhiệm vụ chính trị, gắn việc "học tập" và "làm theo" Bác với nhiều phong trào thi đua yêu nước được triển khai thực hiện ở các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương một cách sinh động, linh hoạt, sáng tạo.

th.jpg

 

Theo đó, việc "học tập" và "làm theo" gương Bác đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động "làm theo" gương Bác. Qua đó, các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương đã thực hiện và duy trì nhiều mô hình có hiệu quả như: mô hình "Thực hành tiết kiệm, chăm lo gia đình chính sách khó khăn" với thời gian thực hiện từ 19/5/2019 - 19/5/2020, kinh phí tiết kiệm sẽ sử dụng hỗ trợ sửa chữa, tu bổ nhà tình nghĩa, giúp đỡ gia đình chính sách nghèo, gặp khó khăn. Mô hình đã được đông đảo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đồng tình hưởng ứng. Kết quả tính đến ngày 31/3/2020, đã vận động đóng góp được số tiền 282.980.000 đồng. Qua đó, góp phần thiết thực chăm lo cho gia đình chính sách, người có công trên địa bàn huyện.

Bên cạnh đó, phong trào thi đua xây dựng mô hình "Dân vận khéo" cũng được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình, hưởng ứng tích cực và từng bước đi vào cuộc sống, nhiều mô hình thi đua "Dân vận khéo" đã góp phần giải quyết nhũng vấn đề bức xúc, phát sinh ở cộng đồng dân cư, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, phát huy dân chủ trong xây dựng nông thôn mới, xã văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở ấp, khu phố, với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Thời gian qua toàn huyện có hàng trăm mô hình, công trình phục vụ nhu cầu đi lại, sản xuất, đời sống ở cộng đồng dân cư do công sức của nhân dân và mạnh thường quân tài trợ, đóng góp. Qua đó, đã góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ và đồng thuận xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng trên địa bàn huyện và xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở trong sạch, vững mạnh, nhất là đã tạo được sự tin tưởng, đồng thuận cao của nhân dân trong thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Mặc khác, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể huyện cũng tích cực xây dựng, phát động trong đoàn viên, hội viên nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả, sáng tạo như: Mặt trận Tố quốc thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, trong giai đoạn 2016 - 2020 đã vận động nhân dân tham gia các công trình xây dựng nông thôn mới... với số tiền trên 2,5 tỷ đồng và đóng góp 259 ngày công lao động. Hội Nông dân với các mô hình "Tổ kinh tế hợp tác trồng chanh", nuôi gà công nghệ sinh học... Liên đoàn lao động phát động nhiều phong trào thi đua mang lại hiệu quả thiết thực, thu hút đông đảo công đoàn viên tham gia như: vận động quỹ "Tấm lòng vàng" với số tiền 159.175.000 đồng, vận động xây dựng 11 mái ấm công đoàn với kinh phí 440 triệu đồng... Hội Liên hiệp Phụ nữ thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua như: "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc"; "Gia đình 5 không, 3 sạch"; "Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc" cùng các mô hình "Hủ gạo tình thương"; "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương", "Nuôi heo đất"; "Bữa cơm nghĩa tình"... Hội Cựu chiến binh phát động phong trào thi đua "Cựu chiến binh gương mẫu" gắn với phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"; "gia đình hội viên không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội"; "Ánh sáng an ninh"; câu lạc bộ chăn nuôi trâu, bò... Huyện Đoàn tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Năm xung kích phát triên kinh tê - xã hội"; "4 đông hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp" bằng những việc làm thiết thực với hàng chục đợt ra quân tình nguyện thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia, tạo phong trào thi đua sôi nổi trong lực lượng đoàn viên thanh niên.

Đối với cấp cơ sở: Qua 4 thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị đã xuất hiện nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả như: xã Mỹ Thạnh Đông với mô hình "Thay trụ điện cây bằng trụ bê tông" kết hợp rải đá đường giao thông nông thôn với kinh phí 550.200.000 đồng và hơn 65 ngày công lao động; xã Mỹ Bình với mô hình "Nuôi heo đất" với số tiền 66.000.000 đồng; xã Mỹ Quý Tây, xã Bình Thành với mô hình câu lạc bộ chăn nuôi trâu, bò nhằm giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho hội viên; xã Mỹ Thạnh Tây với mô hình "Giúp hộ nghèo thoát nghèo bền vững", vận động mạnh thường quân xây dựng 07 căn nhà tình nghĩa, 06 căn nhà tình thương, 07 căn nhà đại đoàn kết và sửa chữa 03 căn nhà tình nghĩa với kinh phí 967 triệu đồng...

Những kết quả đạt được trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là cơ sở, nền tảng quan trọng góp phần vào kết quả thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh của các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương. Ngoài ra, còn rất nhiều gương điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực đời sống xã hội, ở các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương đã và đang ra sức tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, đáng được trân trọng và biểu dương.

Tấn Hữu


 


19/05/2020 11:00 CHĐã ban hành
Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người vĩ đại từ những điều giản dịChủ tịch Hồ Chí Minh: Người vĩ đại từ những điều giản dị
 "Giản dị-lão thực-hiền minh" là những đặc tính nổi bật trong đạo đức, lối sống và phong cách Hồ Chí Minh, sự giản dị một cách tự nhiên vốn có của một bậc vĩ nhân, hiền triết.

1305bacho1.jpg 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nông dân tỉnh Bắc Kạn đang thu hoạch lúa mùa năm 1950. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: "Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu đã cảm thấy thân thiết từ lâu."

"Giản dị-lão thực-hiền minh" là những đặc tính nổi bật trong đạo đức, lối sống và phong cách Hồ Chí Minh, sự giản dị một cách tự nhiên vốn có của một bậc vĩ nhân, hiền triết.

Cuộc sống riêng giản dị và thanh bạch

Tấm gương giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày - đó là đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị và thanh bạch.

Dù là anh Văn Ba phụ bếp trên tàu Đô đốc Latouche Tréville, là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng đầy khó khăn ở thủ đô Paris, nước Pháp, sau này là một vị Chủ tịch nước sống kham khổ nơi chiến khu trong những năm kháng chiến, hay là một vị nguyên thủ quốc gia sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch ở Thủ đô Hà Nội, thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh hết sức giản dị, yêu lao động.

Đức tính giản dị, thanh bạch của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trước hết trong lối ăn, mặc, ở của Người.

Đã là người Việt Nam, hẳn không ai là không biết hay nghe kể về cuộc sống giản dị của Bác. Mấy chục năm xa cách quê hương, trở về, Người vẫn yêu thích những món ăn mang đậm quê nhà như cá kho, cà muối…

Kể cả khi hòa bình, về Hà Nội, Người ăn uống vẫn rất thanh đạm. Sau khi xong bữa, Người luôn tự tay thu dọn bát đũa gọn gàng để người phục vụ chỉ việc mang đi.

Quần áo Người mặc thường ngày cũng chỉ là bộ bà ba màu nâu với đôi dép cao su, khi tiếp khách hay đến những sự kiện quan trọng cũng chỉ bộ kaki với đôi giày vải.

Lúc ở chiến khu, Người sống chung với cán bộ, nhân viên, cùng ăn ở, sinh hoạt như mọi người. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Người cùng Trung ương Đảng trở về Hà Nội.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Đảng và nhà nước trân trọng mời Bác về ở tại tòa nhà của Toàn quyền Đông Dương trước kia, nhưng Bác đã từ chối và chọn cho mình ngôi nhà nhỏ của một người thợ điện phục vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương để ở và làm việc.

Đến năm 1958, theo ý tưởng của Người, Đảng và Nhà nước đã dựng cho Người ngôi nhà sàn bằng gỗ theo kiểu nhà của đồng bào dân tộc thiểu số ở chiến khu Việt Bắc, giống như ngôi nhà Người đã từng sống và đồng cam cộng khổ với đồng bào trong những năm kháng chiến chống Pháp.

"Ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị, ngát hương thơm cây cỏ hoa vườn nhưng tâm hồn thì lộng gió bốn phương thời đại" (Thủ tướng Phạm Văn Đồng) và cũng như lời nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Nhà gác đơn sơ một góc vườn/ Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn/ Giường mây, chiếu cói, đơn chăn gối/ Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn" (bài thơ "Theo chân Bác.")

Chính vì vậy, nơi ở và làm việc của Người tại Phủ Chủ tịch đã trở thành một địa danh phản chiếu về cuộc đời thanh bạch và giản dị của Người. Và ngôi nhà sàn thân thương là nơi đã ghi dấu nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình hoạt động cách mạng của Bác.

Vào những năm đế quốc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc, Bác đã viết lời kêu gọi đồng bào quyết tâm đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Cũng tại đây, Bác viết Bản Di chúc lịch sử với những căn dặn tâm huyết để lại cho đời sau… 

Cả cuộc đời, Người luôn hết lòng yêu thương con người, yêu thiên nhiên, yêu tất cả sự sống. Người đặc biệt kính già, yêu trẻ, thương bộ đội, chiến sỹ dân công. Người "nâng niu tất cả, chỉ quên mình."

Người cảm thông, chia sẻ, đau nỗi đau của mọi người, mọi nhà. Người vui niềm vui từ một ánh trăng soi, một bông hoa nở, một nụ cười, tiếng hát trẻ thơ. Những rung cảm tinh tế đó trở thành niềm hạnh phúc của Người, rồi trở thành vẻ đẹp cao quý của đạo đức và tâm hồn Hồ Chí Minh.

Trí tuệ uyên bác, nhân cách cao đẹp

Không chỉ thể hiện trong lối sống, đức tính khiêm tốn, giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện thông qua cách nói, cách viết, cách làm việc của Người.

 1305bacho2.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và tham gia tát nước chống hạn cùng nông dân xã Đại Thanh, Hà Đông (nay là Hà Nội), ngày 12/1/1958. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Người mang tri thức uyên bác Đông Tây kim cổ, thông thạo nhiều ngoại ngữ, là nhà chính trị tài ba, nhà ngoại giao sắc sảo, nhà báo, nhà thơ lớn của dân tộc, nhưng Người tuyệt nhiên không cao đạo, không hàn lâm bác học.

Ngược lại, Người suy nghĩ, cảm xúc, nói và viết như lời ăn tiếng nói của người dân bình thường. Người truyền tải những tư tưởng lớn một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, đơn giản, không triết lý dài dòng, không vòng vo khuôn sáo, từ đó đi thẳng vào lòng dân chúng như những lẽ phải thông thường.

Dù là lãnh tụ tối cao nhưng khi tiếp xúc với nhân dân, cử chỉ, lời nói của Người vẫn hết sức mộc mạc, dân dã. Ngay cả khi đứng trên lễ đài đọc Bản tuyên ngôn độc lập lịch sử, trước hàng nghìn dân chúng, Người cũng dừng lại để hỏi: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?"

Một câu nói chân thật, giản dị đã xóa nhòa khoảng cách giữa người đứng trên lễ đài với hàng triệu người đang lắng nghe. Hiếm có vị lãnh tụ nào trên thế giới có nếp nghĩ, cách nói giản dị, chân thành như thế!

Không chỉ trong lời ăn tiếng nói, Bác luôn quan tâm, gần gũi nhân dân bằng những hành động cụ thể thiết thực. Bác đến với các chiến sỹ trên mặt trận, cùng chiến sỹ hành quân; Bác đi thăm chỗ ở, nhà bếp, nhà vệ sinh của các gia đình, tập thể; Bác trực tiếp xuống ruộng làm việc, hướng dẫn bà con về sâu bệnh, về thủy lợi; Bác đến thăm các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học; Bác viết thư thăm hỏi người già, trẻ em…

Bác luôn chủ động tiếp xúc, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó đi vào lòng dân bằng trái tim nhân hậu, đồng cảm. Sự giản dị đó hết sức tự nhiên, ở ngay trong lòng dân, trong cuộc sống của nhân dân, do đó ai cũng có thể học tập và làm theo đức tính giản dị của Người.

Lối sống giản dị, thanh tao của Bác là cả một nét đẹp văn hóa, cũng đồng thời là bản lĩnh văn hóa của Người.

Người thanh cao, giản dị chứ không hề giản đơn, bởi suốt đời, Người không màng danh lợi, mà chỉ theo đuổi một mục tiêu cao cả: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.161)...

Thanh tao ấy là cốt cách của bậc hiền triết Á Đông, đậm bản sắc Việt Nam và cũng lấp lánh tinh thần minh triết Hồ Chí Minh. Là người bạn lớn của nhân dân các dân tộc, Hồ Chí Minh đem tấm lòng chân thành và khiêm tốn, cả sự tinh tế đầy chất nhân văn và tình người để thắt chặt tình hữu nghị, đưa thế giới đến với Việt Nam và đem hình ảnh Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

Nhà nghiên cứu Ba Lan Hélène Tourmaire, trong tác phẩm "Trở thành người Bác như thế nào?" đã viết: "Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình… Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Marx, thiên tài cách mạng của Lenin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên."

Cũng từ sự vĩ đại mà giản dị đó, tên gọi của Người đã trở thành huyền thoại, một cái tên khiến cho đồng bào yêu kính, bạn bè quốc tế cảm phục, ngưỡng mộ, Người là Hồ Chí Minh./.

Gia Khánh

Theo TTXVN

 


18/05/2020 9:00 SAĐã ban hành
Nguyên tắc "dụng nhân như dụng mộc" trong công tác xây dựng ĐảngNguyên tắc "dụng nhân như dụng mộc" trong công tác xây dựng Đảng
Hiện nay, toàn Đảng đang tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Trong đó, công tác chuẩn bị nhân sự để bố trí, sắp xếp vào các vị trí lãnh đạo nhiệm kỳ tới có vị trí cực kỳ quan trọng, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đánh giá: "Đây là công việc có ý nghĩa chiến lược gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước".

Thực hiện tốt nguyên tắc "dụng nhân như dụng mộc" sẽ là "cẩm nang" để lựa chọn đội ngũ cán bộ thực sự tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín,có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong tình hình mới. "Dụng nhân như dụng mộc" – đó là nguyên tắc dùng người được người xưa đúc kết. Mỗi loại gỗ đều có công năng khác nhau, nếu biết chọn đúng loại gỗ, người thợ sẽ làm ra sản phẩm ưng ý.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: "Dùng người cũng như dùng gỗ". Người thường nói: "Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng cong đều tùy chỗ mà dùng được". Phương cách "dụng nhân" của Hồ Chí Minh là sử dụng cán bộ "đúng chỗ, đúng việc", "tùy tài mà dùng người": "Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy". Nhờ thực hiện nguyên tắc "Dụng nhân như dụng mộc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được đông đảo những người có đủ đức độ, tài năng tham gia Chính phủ khi nước nhà vừa mới giành độc lập; phát hiện, huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ trở thành các nhà lãnh đạo ưu tú của Đảng và Nhà nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác cán bộ là khâu then chốt trong xây dựng Đảng, là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Trong đó, sử dụng cán bộ là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu cán bộ được sử dụng đúng chỗ, đúng việc, đúng chuyên môn, sở trường sẽ phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của họ, đồng thời thúc đẩy công việc chung phát triển. Sử dụng cán bộ không đúng với khả năng chuyên môn, không đúng chỗ, đúng việc, sẽ ảnh hưởng đến kết quả công việc, cán bộ khó có điều kiện để phát huy hết năng lực, sở trường của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tổng kết: Biết dùng người, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ. Dùng người không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại.

Trong nhiệm kỳ này, việc bố trí, sử dụng cán bộ của Đảng thực sự đem lại hiệu quả, nhiều cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đã khẳng định được vai trò, năng lực quản lý, điều hành trong các lĩnh vực được phân công. Về cơ bản, đội ngũ cán bộ được sử dụng đúng năng lực, sở trường, chuyên ngành đào tạo và phát huy tác dụng tốt. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã khẳng định: "Sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ 20 năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, đội ngũ cán bộ của ta hiện nay đông nhưng chưa thật mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc; bố trí cán bộ không đúng chỗ, không đúng chuyên môn, sở trường...

Để lựa chọn, sử dụng cán bộ "đúng chỗ, đúng việc", trước hết cần sớm hoàn thiện cơ chế trọng dụng nhân tài; xây dựng cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc. Quan điểm chung là, sử dụng cán bộ trước hết phải vì công việc, vì việc mà bố trí người, không vì người mà giao việc. Lựa chọn được cán bộ phù hợp với công việc mới chỉ là bước đầu của việc dùng người. Trong quá trình sử dụng cán bộ, cần thường xuyên đánh giá cán bộ, đặc biệt là phát hiện những cán bộ có năng lực nổi trội và triển vọng phát triển để tính toán giao cho họ nhiệm vụ lớn hơn, trách nhiệm cao hơn, luân chuyển đến những địa bàn và lĩnh vực công tác khó khăn, phức tạp hơn để họ tiếp tục khẳng định năng lực của mình. Tập thể, cá nhân có thẩm quyền trong bố trí, sử dụng cán bộ phải thật sự công tâm, khách quan, đặt lợi ích của quốc gia – dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên, lên trước; kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài; đồng thời không để lọt người không đủ phẩm chất và năng lực vào các vị trí lãnh đạo.

Nguyên tắc "Dụng nhân như dụng mộc" còn được hiểu và áp dụng trong việc lựa chọn người đứng đầu.  Thực tế đã chứng minh, người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng. Những bộ, cơ quan, địa phương nào người đứng đầu thể hiện được vai trò "thủ lĩnh", nêu gương sáng về đạo đức, lối sống..., thì ở đó nội bộ đoàn kết, tổ chức đảng và chính quyền vững mạnh; sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng cao và ở đó kinh tế - xã hội phát triển.

Dấu ấn của người đứng đầu ở những bộ, cơ quan, địa phương này thể hiện rất nổi bật, được nhân dân ghi nhận và đánh giá cao. Ngược lại, ở bộ, cơ quan, địa phương nào, người đứng đầu thiếu gương mẫu, uy tín thấp, suy thoái về đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm... thì ở đó nội bộ mất đoàn kết, kinh tế kém phát triển, nhiệm vụ chính trị không hoàn thành. Bản thân người đứng đầu ở những nơi đó vướng vào vòng lao lý, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp dưới phải chịu những hình thức xử lý nghiêm khắc. Những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí... ở một số bộ, địa phương gây bức xúc trong dư luận thời gian qua đều liên quan đến trách nhiệm của người đứng đầu. Cho nên, khi lựa chọn nhân sự cho vị trí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cần phải tiến hành thận trọng, khách quan, đúng quy trình, bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định của Trung ương.

Ban biên tập

Nguồn cand.com.vn


13/05/2020 3:00 CHĐã ban hành
Gia đình Bác – Tinh hoa gia đình ViệtGia đình Bác – Tinh hoa gia đình Việt
Khi đọc quyển Di chúc thiêng liêng của Bác, có một nhận định đã đọng lại trong tôi rất nhiều cảm xúc và tôi không quên được đó là câu của Tổng Bí thư Lê Duẩn nói về Bác tại lễ tang của Người: "Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, vị anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta...".

Qua học tập, tôi đã biết Bác là một con người vĩ đại, một người con ưu tú của dân tộc Việt Nam là như thế nào? Và trên thế giới này cũng chưa có một lãnh tụ nào được tổ chức UNESCO phong tặng hai danh hiệu như Bác của chúng ta: Anh hùng giải phóng dân tộc- Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Bằng tấm lòng yêu nước nồng nàn, thương dân tha thiết và ý chí căm thù giặc sâu sắc. Bác đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thách thức, từ thân phận nô lệ để đi đến bến bờ vinh quang-đứng lên làm chủ đất nước và giúp các nước thuộc địa trên thế giới đứng lên tự giải phóng mình.

Nhiều năm trước, tôi đã có tìm hiểu về tiểu sử, thời niên thiếu, quá trình đi tìm đường cứu nước của Bác, cũng như những nội dung (chín nội dung) trong tư tưởng của Người. Nhưng bản thân tôi chưa tìm được sách, báo nào nói cụ thể về cuộc đời, sự nghiệp, gia cảnh... của những người trong gia đình Bác? Đến thời gian gần đây, tôi đã đến trường Dục Thanh, tôi đã tìm được quyển "Những người thân trong gia đình Bác Hồ" của tác giả Trần Minh Siêu do nhà sách Nghệ An xuất bản. Những thông tin trong quyển sách ấy, đã giúp tôi hiểu ra những gì mình muốn tìm kiếm. Lần đầu tiên đọc quyển sách ấy, dù nhà xuất bản không đưa ra nhận định về những thành viên trong gia đình Bác nhưng tôi đã tự đúc kết rằng: Không chỉ riêng Bác mà những người thân trong gia đình Bác, đều là người con ưu tú của quê hương Nam Đàn, Nghệ An và của  dân tộc Việt Nam, mỗi người đều có nhân cách cao quý, suốt đời phấn đấu cho quê hương, đất nước, là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo. Cốt cách của từng người, tiêu biểu cho từng thế hệ, từng vai thứ, bổn phận, vai trò, trách nhiệm của con người Việt Nam đối với gia đình, xã hội trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể. Tựu chung những phẩm chất cao quý của những người thân trong gia đình Bác, đều là đại diện cho những đức tính tốt đẹp, truyền thống quý báu của dân tộc ta. Cũng có thể nói rằng, gia đình Bác là gia đình kiểu mẫu, là tế bào gốc, chứa đựng tất cả tinh hoa tạo nên một bức tranh đẹp đầy tự hào cho dân tộc Việt. Tổng hợp những đức tính tốt đẹp từ những con người cụ thể trong ngôi nhà ấy, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy nó hiện hữu trong từng người, từng nhà, từng thế hệ trong khắp xã hội Việt Nam ta.

* Đầu tiên, chúng ta nói về cụ Nguyễn Sinh Sắc (1863-1926)

Ông là người có nhiều tố chất cao quý như:

- Cần cù, nổ lực, hiếu học

Dù từ nhỏ ông đã mồ côi cả cha lẫn mẹ: ba tuổi mẹ mất, bốn tuổi cha mất. Ông phải về sống với người anh cùng cha khác mẹ với mình, nhưng kinh tế gia đình người anh (ông Nguyễn Sinh Trợ) đang trong giai đoạn khó khăn, ông không được đi học hành như những đứa trẻ cùng trang lứa mà phải giúp anh làm việc nhà và chăn trâu trên đồng. Nhưng ông đã vượt lên khó khăn, tụ học, tự rèn và còn học giỏi hơn những người cùng trang lức được đi học tử tế.

Sau khi được cụ Hoàng Đường đem vể nuôi dạy, tạo điều kiện cho ăn học và giai đoạn sau thì có sự chăm lo, giúp sức, ủng hộ của người vợ, ông đã thi đỗ nhiều kỳ thi: Kỳ thi tuyển sinh ở huyện Nam Đàn (1980); đậu kỳ thi Hương (1891) và đậu cử nhân (1894); đậu phó bảng (1901)

Điều đó cho thấy, ông luôn nổ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn để đạt thành tích trong học tập.

- Khiêm tốn, giản dị

Khi ông đậu cử nhân, địa phương tổ chức lễ tiệc đẽ đón tân khoa, ông lấy lý do đang chịu tang bố vợ nên không tham dự, mà chỉ làm lễ bái ở nhà thờ rồi sau đó đi bộ về nhà.

Hai mươi năm sau, ông đậu phó bảng kỳ thi hội ở Huế. Lần này, ông cũng được chuẩn bị võng, lọng, cờ, trống lên tỉnh để rước ông bái tổ vinh quy. Lúc này ông lại viện lý do là đang chịu tang vợ nên cũng từ chối lễ rước. Theo quy định ông được nhân dân xã Chung Cự trích cho 200 quan tiền quỹ để ông làm cổ đãi mọi người, nhưng ông chỉ nhận 10 quan tiền để mua trầu, nước để mời dân làng, phần còn lại ông đem đi chia cho dân nghèo. Ông còn tận tình đi xuống từng nhà chỉ cho bà con tìm chọn mua nguyên vật liệu làm nghề, chăn nuôi...Nguồn vốn đó, có nơi còn duy trì đến tận năm 1945.

Trong thời kỳ làm quan, trong nhà, ông viết "vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng" (đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) để răn dạy con. Riêng đối với bản thân ông, chúng ta luôn thấy hình ảnh của ông gắng với bộ áo bà ba đen sờn vai với đôi guốc mộc. Hai thứ ấy, nó theo ông đến lúc ông tạ thế.

- Yêu nước, thương dân, chăm lo cho dân

Khi ông đỗ đạt, triều đình Huế nhiều lần mời ông ra làm quan nhưng ông từ chối với lý do bị bệnh phải ở nhà để chạy chữa thuốc than, nhưng thực chất không ra làm quan là để ở nhà dạy học cho trẻ em nghèo trong làng.

Tháng 5/1905, khi ông hết tang vợ, triều đình lại giục ông ra làm quan, lúc ông ra đi chỉ để lại cho cô con gái lớn là bà Nguyễn Thị Thanh ít sào ruộng để canh tác mưu sinh, còn số ruộng còn lại của gia đình ông đem bán hết lấy tiền đi giúp những gia đình trong làng có người bị giặc bắt đi phu phen.

Thời gian làm tri huyện ở huyện Bình Khê (Bình Định), ông ít có mặt ở huyện đường mà thường đi đến từng nhà dân để thăm hỏi, khám bệnh cho dân; các tù chính trị trong phong trào chống thuế bị triều đình bắt giam, ông tìm cách thả ra hết; còn các vụ kiện của những tên quan lại, ác ôn thì ông không xét xử vụ nào.

- Người có tư tưởng tiến bộ

Ông thường đi đến các địa danh gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp sôi nổi và anh dũng và tìm đàm đạo với các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu để nắm vận mệnh của đất nước và tìm con đường cứu nước.

Nếu như các nho sĩ khác không cho con mình theo học ở trường Pháp - Việt, vì vào đấy là phải học chữ Pháp, bỏ mất chữ Nho là mất chữ thánh hiền. Các sĩ phu cho rằng, chữ Pháp là chữ của kẻ thù không cho con mình học, thì ông Sắc lại cho hai con trai của mình học ở trường đó. Đây là điểu kiện để con ông chứng kiến thực trạng xã hội của chế độ phong kiến, để tiếp xúc với nền văn minh Pháp. Đặc biệt, là để thấy rõ bộ mặt thật đê hèn của Pháp đằng sau các từ mỹ miều "tự do, bình đẳng, bát ái"

Lúc ông làm quan ở Bình Khê, khi con trai đến thăm ông, ông đã bảo quay về và nói "nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có ích gì". Từ cuộc gặp gỡ đó, đã thôi thức thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Hay lúc ông làm thầy thuốc ở Sài Gòn, làm lương y ở Đồng Tháp, thì được rất nhiều người dân nể phục, thương yêu, trong đó có không ít thanh niên cảm phục ông thường đến thăm ông, ông đã dạy: "mày đến thăm tao tao cũng thế. Chẳng đến thăm tao cũng thế này. Chúng mày đang tuổi thanh niên phải học hành và làm việc. Đến thăm tao phỏng có ích gì".

Để cho con an tâm làm cách mạng, khi ông Lê Mạnh Trình đến từ biệt ông để đi sang Quảng Châu dự lớp Thanh niên cách mạng Đồng chí hội. Ông Sắc nhắn gửi cho con trai" "cháu ra đi cố gắng. Bác nghe nói Quốc đang ở Quảng Châu. Cháu gặp thì nói bác vẫn khỏe, đừng lo, cứ cố gắng làm việc...trung với nước tức là hiếu với bác". Đây là tư tưởng tiến bộ mang tính vượt thời đại.

- Cống hiến đến suốt đời.

Ông thường dạy chữ nghĩa cho học trò nghèo, cho thanh niên, xem mạch, kê đơn, bóc thuốc cho dân nghèo từ Nam Đàn đến tận Đồng Tháp, từ lúc còn trẻ đến lúc tạ thế.

Khi tuổi về chiều, tuy sức khỏe đã yếu ông vẫn ngày ngày đi xuồng đến từng nhà khám bệnh, kê đơn cho bà con ở Đồng Tháp, chiều về bào chế thuốc, tối đi đàm đạo với bạn bè tìm đường giúp dân, cứu nước.

Đến lúc còn những hơi thở cuối cùng, ông biết mình không qua khỏi, ông cũng gượng dậy trao tặng cho ông Lê Chánh Đáng phương thuốc y học dân tộc bí truyền để giúp dân và qua đó nhờ gửi cho con gái Nguyễn Thị Thanh tập thơ rồi trút hơi thở cuối cùng tại Cao Lãnh Đồng Tháp, hưởng thọ 66 tuổi.

* Thứ hai, nói vể Bà Hoàng Thị Loan (1968-1901)

Là người phụ nữ sinh ra trong gia đình truyền thống gia giáo, nho học lâu đời. Trong bà, hội tụ đầy đủ bốn đức tính Công, Dung, Ngôn, Hạnh của người phụ nữ phương Đông. Nó được cụ thể hóa trong cuộc sống hằng ngày từ lúc còn ở cùng với cha mẹ đến lúc lìa xa cỗi đời nơi xứ lạ quê người. Bà là người phụ nữ:

- Xinh đẹp, tài giỏi, đảm đang

Từ nhỏ bà đã sớm thể hiện là người thuộc và thông hiểu nhất về những điệu hát ở Hí vải phường (hát giao duyên lúc dệt vải). Những người khác chỉ đơn thuần là học thuộc và hát giao lưu trong lúc dệt vải, nhưng riêng bà bà hiểu tận tường ý nghĩa của từng câu chữ mà mình hát.

Khi 16 tuổi bà đã là trụ cột cho gia đình, toàn tâm, toàn ý lo cho gia đình để chồng an tâm lo việc sách đèn. Bà lao động cật lực không để chồng, con thiếu thốn. Buổi sáng bà tảo tần ngoài đồng ruộng, tối về dệt vải, ru con:

 " À ơi!

Ru con, con ngủ đi nào

Mong con khôn lớn nên người khôn ngoan

Là trai gánh vác giang san

Mẹ cha trông xuống, thế gian trong vào

Ru con, con ngủ đi nào

Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng

Làm trai quyết chí anh hùng

Ra tay xây dựng vẫy vùng nước non".

- Chịu thương, chịu khó

Năm 1895, do muốn giúp chồng theo đuổi con đường học vấn, bà phải gửi con gái lớn ở lại quê với mẹ mà khăn gối cùng chùng và hai con trai di lý vào kinh đô Huế lao động nuôi chồng, nuôi con ăn học, làm hậu phương vững chắc cho chồng an tâm mài kinh nấu sử ở trường Quốc Tử Giám.

Trong suốt hành trình cùng chồng đi tìm con đường học vấn, bà lúc nào cũng  chân đi dép mo cau, vai quẩy đoàn gánh, một bên là con nhỏ, một bên là cả gia đình mang theo, vượt bao suối, bao đèo, suốt giữa những ngày mưa rào, những ngày nắng gắt. Cũng chính hình ấy, mà cả đời ông Sắc không bao giờ quên về người vợ tào khan của mình.

Những ngày ở Huế, với quyết tâm không muốn chồng dừng con đường học tập vì thiếu cơm, áo, không để con mình quá thiếu thốn, trong 5 năm 1895-1901 khung cửi của bà không một ngày ngừng tiếng thoi đưa.

Sống giữa chốn bộn bề ở Kinh thành Huế, bà nuôi gia đình bằng nghề vệt dải truyền thống, nhưng bà phải chật vật lắm mới lo đủ cái ăn, cái mặt cho gia đình, vì sản phẩm của bà làm ra không đủ sức cạnh tranh nơi chốn đô thành xa hoa, tráng lệ. Do đó, bà phải sử dụng sự khéo léo của mình để làm ra những sản phẩm tốt nhất đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng lúc bấy giờ. Chính những ngày tháng lao động cơ cực, cộng với cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nơi xứ người đã bào mòn sức khỏe của bà đến cạn kiệt. Và bà đã từ biệt cỡi đời khi tuổi còn rất trẻ -33 tuổi

- Luôn lạc quan về tương lai của chồng con

Suốt đời tảo tần vì gia đình nhưng bà chưa bao giờ than thân trách phận mà luôn tin tưởng ông Sắc sẽ công thành danh toại cùng bà bái tổ vinh qui về làng. Bà có lòng tin vững chắc về tài đức của chồng. Đó còn là động lực để bà lao động không mệt mỏi bao năm và cũng là giúp chồng thực hiện di nguyện của cha mình- cụ Hoàng Đường trước khi qua đời.

Từ nhỏ bà luôn dạy các con những điều hay lẻ phải, làm việc tốt, biết kính trọng người trên, biết sống chan hòa với bạn bè, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết nhường nhịn mọi người và phải yêu quê hương đất nước.

 "Con ơn mẹ dạy câu này

Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm người đói sạch rách thơm

Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền"  

* Thứ ba, Bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954)

- Thông minh, xinh đẹp

Chị gái của Bác tuy không được học cao nhưng là người có nhiều kiến thức, am hiển về nhiều lĩnh vực như: Hán học, y học dân tộc, kiến thức nhà nông, mưu trí trong cách đánh giặc...

Thời xuân thì, bà là người xinh đẹp, có rất nhiều người ngỏ lời muốn xin cưới bà nhưng bà đã không màng chuyện gia đình chồng con, mà chỉ lo việc giúp dân, cứu nước.

- Là người phụ nữ tự lập

Năm 11 tuổi, cha mẹ cùng các em vào Huế, dì An đi lấy chồng, mới 11 tuổi đầu bà phải lo liệu hết mọi việc sinh hoạt thường ngày trong nhà và thay dì, hay mẹ lo cho bà ngoại tuổi đã ngoài 60.

Khi lên 17 tuổi (lúc mẹ đã qua đời) bà phải thay mẹ chăm sóc người em út mới mấy tháng tuổi như một người mẹ.

Trong lúc ông Sắc đi làm quan, ông chỉ để lại cho bà Thanh 01 mảnh đất nhỏ đủ để canh tác nuôi thân, bà phải tự lập, tự quản cho gia đình.

Đến lúc bà 20 tuổi, ông Sắc lại vào Huế làm quan theo lệnh của triều đình, bà chỉ một mình ở lại làng Kim Liên tham gia các hoạt động cứu nước.

- Yêu nước, kiên trung

Tham gia các hoạt động yêu nước từ lúc còn rất trẻ, nhưng bà Thanh rất dũng cảm, mưu trí, nhiều lần mai phục, cướp vũ khí của Pháp giúp cho cách mạng. Bà cũng nhiều lần bị giặc bắt, chúng đã dùng mọi thủ đoạn và mọi hình thức tra tấn dã man nhất để tra tấn bà khai thác về tài liệu và tổ chức của nghĩa quân nhưng bà không hề nao núng. Vì chịu nhiều cực hình tra tấn của giặc, nên trên thân thể của người phụ nữ ấy còn để lại rất nhiều vết thương chằn chịt và đến cuối đời bà bị chứng bệnh lẫn thẫn do di chứng của việc bị tra tấn.

Do bà nhiều lần tổ chức cướp súng của Pháp, nên khi bị bắt chúng đã mắn bà "Người ta chửa thì đẻ ra con, còn mày chửa thì đẻ ra súng". Và bà đã bị chúng phạt 100 trượng và kết án tù khổ sai 9 năm.

- Hiếu thảo

Những năm tháng bị giam cầm ở Huế, bà luôn canh cánh bên lòng về người mẹ thân thương đang nằm lạnh lẽo một mình nơi xứ người, xa quê hương gần  400 km, lòng dạ day dứt không nguôi nên đã bà quyết định lấy tro cốt của mẹ đem về quê an táng.

Để làm điều đó, trước tiên bà tìm một loại gổ quý, lấy nước thơm từ loại gỗ quý dùng để rữa sạch hài cốt của bà Loan, sau đó đem bỏ vào một tấm vải điều màu đỏ thật đẹp gói lại như một gối hành lý. Sau đó bà đi theo đường thiên lý Bắc - Nam, ngày ngủ đêm đi, hơn 02 tuần mới về tới làng Kim Liên, tận tay trao hài côt của mẹ cho ông Khiêm tìm chổ an táng.

Cũng trong thời gian ở Huế, bà đã đi tìm thăm cha mình. Khi thấy Ông Sắc ốm o gầy mòn, bà đã khóc thật nhiều và lạy xin cha hãy cho bà rước về phụng dưỡng. Nhưng ông Sắc có chí lớn của riêng mình đã không đồng ý việc đó mà tiếp tục đi vào miền nam. Sau đó bà quay về sống với dì An. Sau cách mạng tháng tám thắng lợi, bà đã ra Hà Nội tìm thăm em trai là Hồ Chủ Tịch rồi vế quê sống đến cuối đời.

* Thứ tư, ông Nguyễn Sinh Khiêm (1888-1950)

- Yêu nước, thương dân, chăm lo cho dân

Sinh ra trong gia đình có truyền thống hiếu học, yêu nước nồng nàn nên ông cũng hội đủ các yếu tố tốt đẹp của truyền thống gia đình. Trong giai đoạn, khi ông Sắc vào Huế làm quan, ở nhà ông đã cùng chị Thanh tham gia cách mạng trong phong trào yêu nước của cụ Phan Bội Châu. Cũng như chi gái của mình, ông cũng từng nhiều lần vào tù ra khám, ở tù nhiều hơn ở nhà.

Ông ở làng Kim Liên mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho con cháu và nhân dân trong vùng. Đây là lớp dạy chữ quốc ngữ đầu tiên ở làng Kim Liên và Hoàng Trù.

Ngoài ra, ông còn mở lớp dạy võ cho dân trong làng để giúp bà con tự vệ và cũng để sẵn sàng tham gia vào hoạt động của nghĩa quân.

Năm 1912 ông thay mặt nhân dân làng Sen đưa bản điều trần tới nhà nước bảo hộ đòi "Nới rộng quyền tự do dân chủ, giảm bớt sưu thuế, mở mang việc học hành cho dân".

- Là người trượng nghĩa

Trong thời gian gánh vác việc làng, ông tìm cách giảm sưu thuế, rút ruộng của bọn cường hào, ác bá chia cho dân nghèo (ông đã rút được 36 hecta). Ông còn cải cách chế độ cúng bái, tế lễ, đình đám, bỏ đốt vàng mã...để giảm gánh năng cho dân.

Ông bí mật tham gia chống Pháp. Vận động tài chính tiếp tế cho nghĩa quân. Quãng thời gian ông bị giam lỏng ở Huế, ngoài những ngày phải đi trình diện chính quyền, ông mở lớp dạy học cho dân nghèo. Trong cuộc sống hằng ngày, nếu ông thấy người đói rách thì ngay cả quần áo ông đang mặc trên người ông cũng sẵn sàn nhường cho người khác bất hạnh hơn mình.

- Giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc

Khi một công sứ người Pháp rất thích văn thơ, ca dao tục ngữ, hò vè nên đã sai ông sưu tầm và nộp về tỉnh những câu ca dao tục ngữ Việt Nam. Khi làm việc đó, ông chỉ tập trung những câu có nội dung tiến bộ, ca ngợi dân tộc, quê hương, con người Việt Nam còn những câu ca tụng công lao của bọn thống trị thì ông bỏ ra hết.

- Hiếu thảo

Cả cuộc đời ông là việc dạy chữ, dạy võ và tham gia cách mạng. Nhưng chúng ta không nghĩ ông còn là người rất chu đáo, hiếu lễ. Khi được ra khỏi nhà từ, ông đã nhận thêm một trách nhiệm trọng đại của gia đình, đó là việc nhận hài cốt của người mẹ hiền đáng kính từ bà Thanh mới mang từ Huế về tới quê nhà, ông đã đi khắp nơi trong vùng để tìm vị trí có phong cảnh đẹp, phù hợp để an táng mẹ mình. Ông cùng người cháu ruột đã đào chín cái hố trên núi, chính ông là người đặt hài cốt của bà Loan vào trong một trong những cái hố đó và cũng chỉ có mình ông mới biết được bà Loan nằm ở vị trí nào. Chính việc đó, đã giúp bảo vệ được bà Loan đến ngày đất nước tươi đẹp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng "Gia đình là tế bào của xã hội".
Và chúng ta cũng thấy rằng, gia đình được xem chính là nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi người; tình cảm gia đình như những tia sáng diệu kì sưởi ấm cho tâm hồn mỗi người; là cái nôi giáo dục nên nhân phẩm, tính cách và là yếu tố tác động đến tâm lý, lối sống của các thành viên trong gia đình. Tình cảm gia đình là tình cảm đẹp đẽ thiêng liêng nhất mà ai cũng trân trọng bằng cả trái tim. Nếu chúng ta mở rộng ra, thì nó chính là sự gắn kết giữa người với người trong xã hội. Nó không còn bó hẹp trong phạm vị huyết thống, mà có thể hiểu là toàn xã hội, là tình cảm giữa con người với nhau trong cộng đồng dân tộc. Nếu tất cả mọi gia đình đều tốt đẹp thì sẽ xây dựng nên một xã hội phát triển, văn minh.

Chúng ta nhìn lại gia đình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rõ ràng gia đình ấy không chỉ là một gia đình kiểu mẫu, là tế bào "gốc", là gia đình tinh hoa, tổng hợp tất cả những phẩm chất, đặc điểm tốt đẹp của mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam trong đó. Mà hơn hết, mỗi thành viên trong gia đình Bác đều là những hạt giống quý, là kết quả của quá trình vun trồng, chăm bón bằng thực tiễn của xã hội và truyền thống tốt đẹp của quê hương, dân tộc. Nếu mọi gia đình hiện nay, chúng ta học tập theo tấm gương của những người thân trong gia đình Bác hay nói cách khác, nếu chúng ta nhân rộng mô hình từ gia đình "gốc" đó, thì từng thành viên trong gia đình hiện đại đều có những phẩm chất đạo đức cao đẹp; từng gia đình trong xã hội ngày nay sẽ hết lòng vì dân, vì nước, phấn đấu vì mục đích, lý tưởng chung. Từ đó, mỗi gia đình thật sự là tế bào lành mạnh để xây dựng nên một xã hội phát triển, văn minh, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" trong thời kỳ mới./.

Phạm Thúy Kiều (TTBDCT)




 


12/05/2020 11:00 SAĐã ban hành
Thấm nhuần và thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí MinhThấm nhuần và thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa, đẹp đẽ nhất của văn hóa dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế trong sáng, rạng ngời cốt cách của một bậc vĩ nhân. Người là biểu tượng sáng ngời của phong trào giải phóng dân tộc, của hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng cao cả của Người là cội nguồn và gắn liền với mỗi bước đường phát triển và thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Với tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, nồng nàn, chứng kiến sự thất bại liên tiếp của các phong trào yêu nước và các cuộc đấu tranh theo các khuynh hướng khác nhau của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nung nấu quyết tâm ra đi tìm con đường mới để cứu nước. Sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, hòa mình vào cuộc sống của nhân dân cần lao ở nhiều nước, vừa lao động, vừa tự mình tìm tòi, nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới, năm 1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm thấy ở đó con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là bước phát triển đột phá về tư duy, nhận thức và cũng là sự lựa chọn sáng suốt, đúng đắn con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử dân tộc ta và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Trong hoàn cảnh muôn vàn gian khó, với bản lĩnh phi thường, trí tuệ thiên tài, tầm nhìn vượt thời đại và tài tổ chức lỗi lạc, Người đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, tích cực và dày công chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời của Đảng ta - Một chính đảng cách mạng chân chính, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập vào năm 1930, cùng với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ bản được hình thành, con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam đã cơ bản được xác định. Sự đúng đắn ngay từ đầu của tư tưởng, đường lối cách mạng Việt Nam do Người vạch ra đã được thực tiễn chứng minh và khẳng định. Và chính trong quá trình vận động của cách mạng, Tư tưởng đó, Đường lối đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện dần, trở thành ngọn đuốc mãi mãi rực sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước do nhân dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", giải phóng hoàn toàn miền bắc, xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế mà hiện nay nhân dân ta đang tiến hành.

Kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, bằng chính sự nghiệp vĩ đại và cuộc đời oanh liệt, đầy hy sinh gian khổ, song vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của mình, Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau cả một gia tài đồ sộ, một di sản vô cùng quý giá. Đó là Thời đại Hồ Chí Minh - Thời đại rực rỡ nhất, vinh quang nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh - hệ thống các quan điểm, lý luận toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng; về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,... Đó là các quan điểm và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên hết, trước hết; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; hết lòng yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương con người; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; thật sự là công bộc của nhân dân, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,... Đó là phong cách Hồ Chí Minh, phản ánh những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người và được thể hiện vô cùng sinh động, tự nhiên, độc đáo, có sức thu hút, cảm hóa kỳ diệu trong hoạt động, ứng xử hằng ngày. Một phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; một phong cách làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng, cụ thể, tới nơi, tới chốn; một phong cách ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; một phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người; nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; một phong cách sống thanh cao, trong sạch, giản dị; một phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương,...

Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng. Người không chỉ là một nhà tư tưởng lỗi lạc về văn hóa, sáng tạo ra một nền văn hóa mới, văn hóa cách mạng Việt Nam, kiến tạo ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nền văn hóa dân tộc, mà chính bản thân Người, cuộc sống của Người, những việc làm bình thường hằng ngày của Người là hiện thân của nền văn hóa Việt Nam, là mẫu mực của con người Việt Nam. Tư tưởng, tâm hồn, cốt cách của Người là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, kết tinh những giá trị văn hóa Phương Đông và Phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. Từ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã tỏa ra ánh sáng văn hóa thấu tận tương lai. Theo tiến trình lịch sử, khi thời gian ngày càng lùi xa, những điều tưởng như bình thường, giản dị trong cuộc sống và công việc hằng ngày của Người càng trở nên lớn lao, có giá trị nhân văn vô cùng sâu sắc, vượt thời đại./.

Gia Khánh

Nguồn Tuyengiao.vn


11/05/2020 3:00 CHĐã ban hành
Giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí MinhGiải pháp phát huy dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ thực hiện dân chủ là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp phát triển của Đảng. Trong những năm qua, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến việc phát huy dân chủ trong Đảng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong xã hội, trong đó có quyền dân chủ của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng đã "khắc phục một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ và trong việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách".

bac ho.jpg 

Tuy nhiên hiện nay, việc phát huy dân chủ trong Đảng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhìn nhận: dân chủ trong Đảng còn hạn chế, kỷ luật không nghiêm, một số nơi mất đoàn kết nghiêm trọng… Không ít cấp ủy và tổ chức đảng thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới. Không ít cán bộ lãnh đạo chưa quen với ý kiến phản biện, những thông tin ngược chiều, không thích nghe ý kiến khác với ý kiến của mình. Còn thiếu những cơ chế cụ thể có hiệu lực bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Hiện tượng cán bộ lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, mệnh lệnh, trù dập, ức hiếp quần chúng còn xảy ra ở một số nơi. Tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, tự do vô kỷ luật đã phần nào gây bức xúc trong dư luận. 

Từ thực trạng đó, Đảng ta đã chủ trương phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, đặc biệt là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp. Trong nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, lần đầu tiên Đảng đã thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và việc thực hiện chất vấn trong Đảng. Điều đó cho thấy bước tiến mới của Đảng ta trong quá trình phát huy, thực hành dân chủ trong Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: "Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy dân chủ trong xã hội". Quan điểm trên phản ánh rõ nhận thức của Đảng ta về tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ trong Đảng. 

Để tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng, làm cơ sở phát huy dân chủ trong toàn xã hội, cần thực hiện một số giải pháp sau: 

Một là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ thông qua việc giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng cần xây dựng hệ thống quy chế, quy định đồng bộ, nhất quán bằng văn bản để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cơ sở để quản lý, điều chỉnh các hành vi, hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và đấu tranh phòng, chống những biểu hiện xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng phải thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của người đứng đầu tổ chức đảng trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ: "Cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân".

Hai là, dân chủ phải đi đôi với kiểm tra, giám sát thực hiện kỷ luật Đảng. Trong những năm gần đây, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số quy định, quy chế bảo đảm thực hiện dân chủ và kỷ luật trong Đảng, như: quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; quy chế chất vấn trong Đảng; quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm trong Đảng; xây dựng quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII xác định nhiệm vụ: "Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng". 

Ba là, thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mỗi đảng viên cần nhận thức rõ mục đích của công tác tự phê bình và phê bình là nhằm làm cho bản thân mình tốt hơn, cán bộ, đảng viên mình tiến bộ hơn, tổ chức vững mạnh hơn. Trong việc phê bình cần có thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, không né tránh. Đồng thời, phải phê bình với tinh thần tôn trọng, giúp đỡ đảng viên được phê bình; tuyệt đối không lợi dụng phê bình để nói xấu, trù dập hay bôi nhọ người khác. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công khai, tránh tình trạng "việc gì cũng không phê bình trước mặt mà để nói sau lưng". Công tác tự phê bình và phê bình cần được tiến hành thường xuyên nhằm phát huy hiệu quả lâu dài, làm cho nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực sự trở thành một thứ vũ khí sắc bén để mỗi đảng viên tốt hơn, Đảng ta ngày càng thêm vững mạnh.

Bốn là, triển khai hiệu quả công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân: "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho". Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa XII đã nêu nhiệm vụ: "Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra…". Tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ trong Đảng có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng và hoạt động của Đảng ta hiện nay. Vì vậy, phát huy dân chủ trong Đảng vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài để tăng cường sức mạnh nội bộ của tổ chức, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thực hiện tốt dân chủ trong Đảng là nền tảng để mở rộng dân chủ trong toàn xã hội, thực hiện thành công mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Gia Khánh

Nguồn Dangcongsan.vn


04/05/2020 2:00 CHĐã ban hành
Rèn luyện bản lĩnh chính trị là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyềnRèn luyện bản lĩnh chính trị là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền
Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên là toàn bộ hoạt động của các cấp uỷ, tổ chức đảng và của chính cán bộ, đảng viên trên tinh thần quán triệt sâu sắc và theo đúng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xây dựng và xác định rõ các tiêu chí đánh giá bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên; được tiến hành đồng bộ: từ việc nâng cao nhận thức tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị đến nâng cao năng lực công tác, phương pháp làm việc, tác phong công tác; với sự tham gia, phối hợp nhiều lực lượng và đi liền đó là tạo điều kiện, môi trường thử thách để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn liền với việc đề cao vai trò tự giác tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị của mỗi người.

Nhờ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trong 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt và nhất quán trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Đảng luôn coi trọng việc rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên - nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, trong mọi hoàn cảnh, thời điểm.

Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, khi mà một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; trong đó, có những cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, với những biểu hiện về sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, chạy theo danh lợi, tiền tài, địa vị, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm… yêu cầu phải tăng cường rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Trong những năm qua, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chú trọng công tác rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thông qua quá trình nỗ lực học tập, tu dưỡng về mọi mặt, năng lực nhận thức, trình độ hiểu biết của mỗi cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Đồng thời, tư duy khoa học độc lập, năng lực tự định hướng và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nâng cao năng lực tự rèn luyện, tu dưỡng trong thực tiễn về phẩm chất đạo đức, nhân cách, phương pháp công tác, kỹ năng làm việc và lãnh đạo gắn liền với việc tôi luyện ý chí, tinh thần kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, nhất là khả năng "tự đề kháng", "tự miễn dịch" với những cám dỗ vật chất, những tiêu cực từ cơ chế kinh tế thị trường, với những thủ đoạn, âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch cũng được tôi luyện.

Việc triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", với những quy định về những điều đảng viên không được làm, các quy định về nêu gương và đi liền cùng đó là đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng đã góp phần rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt là việc thường xuyên, liên tục gắn với tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc tại mỗi cấp ủy, trong mỗi người sẽ khiến "phú quý không dụ dỗ được ta, nghèo khổ không lay động được ta, oai lực không dọa nạt được ta. Mà khó khăn gì chúng ta cũng vượt qua được, việc gì chúng ta cũng làm được"6.

Bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên và của Đảng, song đó là kết quả của một quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn. Thực tế cho thấy, về cơ bản, đội ngũ cán bộ, đảng viên với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn "kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện"7 đã năng động, sáng tạo, đi đầu trong mọi lĩnh vực, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm với những công việc khó, mới trong xu thế hội nhập.

Tuy nhiên, trước những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, những khó khăn, phức tạp nảy sinh trong quá trình hội nhập, đặc biệt là các thủ đoạn tinh vi và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, vẫn còn một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài về lý tưởng cách mạng của người cộng sản; giảm sút ý chí, niềm tin về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam... Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: "Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao"...

Trong thời gian tới, nhất là trong khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang nỗ lực chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, hướng tới Đại hội XIII của Đảng, yêu cầu về nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên càng trở nên cần thiết và quan trọng. Do đó, mỗi cấp ủy cần thấm nhuần và thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của việc phải thường xuyên, liên tục rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên; coi đó là yêu cầu bức thiết, gắn với phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng. Đồng thời, chú trọng "xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị"8, góp phần đẩy lùi, ngăn chặn các nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đối với đảng cầm quyền, nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng, năng lực và sức chiến đấu của Đảng.

Thứ hai, xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, sát thực tiễn để quán triệt, thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, quy định của Đảng về học tập lý luận chính trị; trong đó, tập trung thực hiện Quy định số 54-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; Quy định số 164-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý,... Theo đó, hệ thống các trường chính trị từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; trong đó, chú trọng xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thiết thực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ ba, đổi mới công tác đánh giá bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt nói riêng gắn với việc đặc thù từng lĩnh vực, từng địa phương, cơ quan, đơn vị mà họ công tác. Do đó, cùng với việc đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII và các quy định về nêu gương, là việc phải xây dựng các tiêu chí để đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên phù hợp bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Khi xem xét, đánh giá phải dựa vào tiêu chí, nội dung đăng ký thực hiện và kết quả công tác của mỗi người; thống nhất giữa đánh giá bản lĩnh chính trị với kết quả thực thi nhiệm vụ, gắn đánh giá đạo đức công vụ với đánh giá kết quả thực thi công vụ, đảm bảo hiệu quả thực sự trong đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên hằng năm, khắc phục triệt để cách đánh giá cán bộ, đảng viên một cách chung chung, hình thức, dĩ hòa vi quý... Thông qua đó, tạo động lực để cán bộ, đảng viên phấn đấu vươn lên, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kiên định, kiên trì và năng động, sáng tạo hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đội ngũ cán bộ của Đảng là việc thực hiện tốt quy trình, quy hoạch đội ngũ cán bộ và tạo môi trường cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ lãnh đạo, quản lý chủ chốt được thử thách, rèn luyện bản lĩnh chính trị. Thực tế cho thấy, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên có điều kiện bộc lộ khi được trải nghiệm trong môi trường thực tiễn nhiều thử thách, có độ phức tạp và nhạy cảm về chính trị, do đó, cần thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, đảng viên trong diện quy hoạch, nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, để đào tạo, bổ sung kiến thức lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Trong đó, "có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ" và "xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ" theo đúng tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW khóa XII về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" gắn liền với công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ, để trui rèn những cán bộ trẻ có triển vọng phát triển, được quy hoạch và dự kiến bổ nhiệm giữ trọng trách cao, kịp thời sàng lọc, loại bỏ những cán bộ "đẹp hồ sơ" nhưng lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị không tương xứng.

Thứ năm, phát huy tính tích cực, tự giác trong rèn luyện bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là ở những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu, nhiều khó khăn, thử thách, nhạy cảm và phức tạp; đồng thời, xây dựng cơ chế để mỗi người đều nỗ lực rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Học lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Học để tin tưởng: Tin tưởng vào đoàn thể. Tin tưởng vào nhân dân. Tin tưởng vào tương lai của dân tộc. Tin tưởng vào tương lai của cách mạng"9. Đồng thời, tạo điều kiện, môi trường, các phong trào thi đua, các cuộc vận động để cán bộ, đảng viên trải nghiệm, tự giác rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, qua đó, không chỉ giúp họ tự mình nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng mà còn góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ.

Gia Khánh

Nguồn Tapchimattran.vn


30/04/2020 10:00 CHĐã ban hành
Đức Huệ thực hiện công tác chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của BácĐức Huệ thực hiện công tác chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của Bác
Hồ Chí Minh - "Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất"- Người đã từng là thầy giáo: thầy Nguyễn Tất Thành ở trường Dục Thanh (1910), thầy Vương ở lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu (1925-1927) do Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức và cũng chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục cho nước ta từ những ngày đầu mới thành lập nước.

Khi nói về đóng góp của Hồ Chí Minh đối với nhân loại về giáo dục, Tổ chức Liên hiệp quốc đã nhận định, Hồ Chí Minh đã đề ra phong trào xóa nạn mù chữ (năm 1945), trong khi Liên hiệp quốc đến đầu thập niên 1990 mới đề ra phong trào này trên thế giới. Điều đó chứng tỏ, Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn dự báo chiến lược mà không phải người lãnh đạo nào trên thế giới cũng có được.

Về giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh khai trường (24/10/1955), Người nhắn nhủ việc giáo dục phải gồm:

 "- Thể dục: Để làm thân thể mạnh khoẻ, đồng thời cần giữ vệ sinh riêng và vệ sinh chung.

- Trí dục: Ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới.

- Mỹ dục: Để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp.

- Đức dục: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công".

Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm, chăm lo đến thế hệ trẻ, đặc biệt là công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng họ thành lớp người thừa kế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của nhân dân. Người cũng đã từng nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Người xem đó việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi quốc gia. Người cho rằng thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích của cách mạng. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác đã để lại tâm tư của mình với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về những chủ nhân tương lai của đất nước với đầy niềm tin và hy vọng: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng", vừa "chuyên". "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau" theo Bác là việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Điều này cho thấy nhãn quan chính trị sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng của Người đối với vận mệnh của cả dân tộc.

Trong bản "Di chúc", Người viết: mục tiêu lý tưởng phấn đấu của thanh niên đó là học tập và học để làm gì ? Người trả lời: "Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, học để làm cho dân giàu, nước mạnh".Đó là trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; làm cho họ có tri thức văn hoá, khoa học và kỹ thuật giỏi; làm cho họ là những người kế tục xứng đáng gánh vác sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ là nhằm làm cho thế hệ trẻ trở thành những người công dân có ích, những người chiến sĩ tốt, những người cách mạng chân chính vì nước nhà.

Có thể nói, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau" vừa thể hiện tình cảm, sự yêu mến và tin tưởng của Bác đối với thế hệ trẻ; vừa cho thấy tư duy biện chứng đúng đắn của Người trong việc xem xét, đánh giá vai trò của thanh niên đối với sự phát triển của đất nước. Với tư tưởng này, cho thấy Người đã chăm lo vun trồng sự nghiệp cách mạng vững bền từ gốc.

Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thế hệ trẻ Việt Nam luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân ta đã lựa chọn. Tuổi trẻ Việt Nam đã chứng tỏ được bản lĩnh, trí tuệ và cốt cách cao đẹp của người Việt Nam. Họ luôn đi đầu trong lao động sản xuất, trong ứng dụng khoa học-công nghệ hiện đại, trong chiến đấu, trong các phong trào thi đua yêu nước... để cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc biệt, khi đất nước lâm nguy, thanh niên lập tức kết thành một khối bền, chặt, tiên phong trước mọi mặt trận. Có thể nói, thế hệ trẻ Việt Nam không phụ niềm tin yêu và kỳ vọng của Bác và dân tộc.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch, nhằm vào thế hệ trẻ Việt Nam, đã có một bộ phận thanh niên bị cuốn vào vòng xoáy của danh lợi, lối sống lai căng, thực dụng, sa vào các tệ nạn xã hội và mất phương hướng phấn đấu, xa rời  mục tiêu, lý tưởng và thuần phong mỹ tục, truyền thống đạo đức của dân tộc.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau và học theo phong cách của Bác về đổi mới, sáng tạo, không chấp nhận lối cũ trong công tác giáo dục. Để góp phần thực hiện tốt công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ ở Đức Huệ, với chức năng, nhiệm vụ của mình, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Đức Huệ thực hiện lời dạy của Bác trong công tác chăm lo "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau" bằng những việc làm cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương.

Thực hiện Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An, về việc Hướng dẫn thực hiện công tác giáo dục lý luận chính trị đối với Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; dựa trên tình hình thực tế của địa phương, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Đức Huệ phối hợp với các ngành liên quan khảo sát nhu cầu thực tế của người học để xác định lượng thông tin, nội dung cần bồi dưỡng, tuyên truyền. Qua đó phối hợp Ban Tuyên giáo Huyện ủy tham mưu Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng kế hoạch mở các lớp học tập giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, trong những năm qua đạt được kết quả như sau:

Thứ nhất: Tham mưu cho lãnh đạo huyện mở các lớp bồi dưỡng Kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng là quần chúng nhân dân, đặc biệt là nhân dân các xã biên giới của huyện. Trong đó, chú trọng đến đối tượng người học là những đoàn viên, thanh niên công tác ở các ấp biên giới. Thông qua đó, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước trực tiếp đến với người dân, nhất là tuyên truyền về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ an ninh biên giới, biên giới quốc gia và tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Campuchia trong tình hình mới. Sau lớp học, mỗi học viên sẽ là những tuyên truyền viên trực tiếp đến các địa bàn xóm, ấp nơi cư trú. Đồng thời, cũng thông qua các lớp học này, là kênh thông tin hữu hiệu để chúng tôi nắm bắt, phúc đáp và trao đổi những vấn đề của đời sống xã hội có liên quan trực tiếp đến nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong nhân dân, góp phần đưa chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân nhanh chóng, hiệu quả; tạo hiệu ứng tốt trong nhân dân.

Thứ hai: Phối hợp với Ban giám hiệu các trường học trên địa bàn, tổ chức  các lớp chuyên đề Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học sinh các khối 10-11-12 trong tất cả các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện (THPT Đức Huệ, THCS-THPT Mỹ Bình, THCS-THPT Mỹ Quý). Với loại hình lớp học này, đã góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ cội nguồn, truyền thống yêu nước của dân tộc, khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước, ý thức độc lập dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong tình hình mới; đặc biệt, các lớp chuyên đề này đã giới thiệu nhiều tấm gương tiêu biểu trong cuộc sống, lan tỏa những nghĩa cử cao đẹp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thu hút đông đảo học sinh tham gia; đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của Ban giám hiệu các trường và có sức hưởng rất lớn trong giáo dục nhân cách, lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ - những mầm non tương lai của đất nước nhiều năm qua.

Thứ ba: Tổ chức các lớp Đối tượng kết nạp Đảng cho thanh niên tình nguyện lên đường nhập ngũ. Hàng năm, Trung tâm bồi dưỡng chính trị xây dựng kế hoạch phối hợp với Đảng ủy Quân sự huyện, Đảng ủy Công an huyện và các Ban xây dựng Đảng Huyện ủy tổ chức rà soát, thống kế số liệu thanh niên ưu tú tình nguyện đi làm nghĩa vụ quân sự, để tổ chức lớp Đối tượng kết nạp Đảng cho nguồn tuyển quân. Nhiều năm qua, huyện Đức Huệ đã phát triển đảng viên trong lực lượng tân quân phục vụ lâu dài trong quân đội với số lượng và chất lượng ngày càng cao.

Thứ tư, Trong Di chúc thiêng liêng, Bác căn dặn: "Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thành những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết" Kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị phối hợp với Ban Thường vụ Huyện Đoàn, định kỳ hằng năm tổ chức lớp chuyên đề Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đoàn cơ sở nhằm xây dựng, hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa trong thanh niên, vì đạo đức là "gốc của người cách mạng, giáo dục thanh niên nhận thức đúng các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Từ đó, Thanh niên xứng đáng là người kế tục cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Thứ năm, Thông qua nguồn xã hội hóa trong các lớp, Trung tâm bồi dưỡng chính trị thường xuyên tổ chức các buổi tham quan học tập thực tế tại các di tích lịch sử như: Khu căn cứ lịch sử cách mạng của tỉnh Long An, Khu tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, Vàm Nhật tảo, Trung ương cục miền nam, Khu di tích Địa đạo Củ Chi, Căn cứ Ấp Bắc, Xẻo Quyết, Khu lăng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, Nhà tưởng niệm chị Võ Thị Sáu, Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Dinh độc lập...cho các lớp Đoàn Thanh niên, Đối tượng kết nạp Đảng, lớp Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới, lớp Sơ cấp lý luận chính trị... .nhằm giáo dục lịch sử truyền thống của dân tộc ta cho thế hệ tương lai, nâng cao ý thức cách mạng, cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Như vậy, cùng với hệ thống chính trị huyện trong công tác chăm lo  giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng đạo đức lối sống cho thế hệ trẻ, Trung tâm bồi dưỡng chính trị Đức Huệ đã góp phần trong công tác "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau"  theo tinh thần "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên bằng nhiệm vụ chính trị của mình, đã chăm lo bồi dưỡng, giáo dục rèn luyện thanh niên có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức, có năng lực để xứng đáng với vai trò là người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng", vừa "chuyên" , xứng đáng là chủ nhân tương lai nước nhà và xứng đáng với mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Thúy Kiều (TTBDCT)


27/04/2020 11:00 SAĐã ban hành
Mẩu chuyện: Giờ này Miền Nam đang nổ súngMẩu chuyện: Giờ này Miền Nam đang nổ súng
          Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Đó là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng đối với muôn đời con cháu. Người nói: "Nước ta là một, dân tộc ta là một". "Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam". Lúc sinh thời, Người luôn luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam, ngày đêm Người tưởng nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam với tấm lòng thương yêu không bờ bến.

          Tết Mậu Thân năm 1968 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

          Tết năm ấy, do điều kiện sức khỏe, Bác Hồ đi nghỉ và chữa bệnh ở nước ngoài. Tuy ở xa Tổ quốc, nhưng Bác luôn luôn theo sát những thành tích và thắng lợi của đồng bào, chiến sĩ cả nước, nhất là những tin chiến thắng chiến trường miền Nam.

          Tối hôm 30 Tết, Bác cùng đồng chí giúp việc ngồi trong một căn phòng vắng, tĩnh mịch, thức để theo dõi tin tức trên đài và đón giao thừa. Khi ở Đài Tiếng nói Việt Nam tiếng pháo nổ vang tiễn năm Đinh Mùi và đón mừng năm Mậu Thân vừa dứt thì lời Thơ chúc Tết của Bác được truyền đi khắp mọi miền của Tổ quốc.

                                              Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,

                                              Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

                                              Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

                                              Tiến lên!

                                              Toàn thắng ắt về ta!

          Bác Hồ ngồi yên lặng đón giao thừa. Tiếng Bác đầu năm phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam hòa vào tiếng nhạc hùng tráng như một nguồn động viên cổ vũ lớn lao đối với đồng bào chiến sĩ cả nước:

                                                Tiến lên!

                                                Toàn thắng ắt về ta!

          Ánh mắt Bác lộ rõ niềm vui. Bỗng từ căn phòng nhỏ tĩnh mịch giữa lúc giao thừa thiêng liêng ấy, lời Bác nói khe khẽ nhưng nghe rất rõ: "Giờ này miền Nam đang nổ súng"..

 Ngọc Thuận

Nguồn: Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch: Mỗi câu chuyện nhỏ một bài học lớn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

                                                                                                                 


27/04/2020 11:00 SAĐã ban hành
Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận!Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận!
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thể kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam".

gia-tri-tu-tuong-ho-chi-minh-la-khong-the-phu-nhan.png 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam. Cùng với đó là sự tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông và phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin; trong đó, nét đặc sắc chính là sự kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy, chắt lọc, hấp thụ được tích lũy qua thực tiễn. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành bởi tư duy, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của Người. Đó cũng là quá trình tiếp thu, làm giàu, rèn luyện từ học tập, nghiên cứu, trải nghiệm thực tiễn, khám phá các quy luật vận động, đời sống văn hóa, xã hội và cuộc đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn nên mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động. Trong khi tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với xu thế khách quan của thời đại, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, đạo đức và phong cách; là quan điểm và tấm gương mẫu mực của người chiến sĩ cộng sản trung thành và kiên định lý tưởng cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, dân tộc và nhân dân lên trên hết, luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân; luôn cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; là phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, phong cách làm việc dân chủ, khoa học; phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị, hòa đồng với thiên nhiên,v.v.. tự mình nêu gương về đạo đức cách mạng, thể hiện sinh động, tự nhiên, đầy cảm hóa trong công tác và ứng xử hằng ngày.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu quan trọng về mọi mặt trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn, quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Không thể phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, song các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình"; những kẻ tự xưng là "người yêu nước", người "bất đồng chính kiến" ở trong và ngoài nước đã lợi dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bóp méo và bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói và viết: "Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam"; "Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin"; "Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều"; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ nó để "kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi" - con đường tư bản chủ nghĩa. Có những người tìm mọi cách đả kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức cách mạng của Người để "hạ bệ thần tượng" và lung lạc những người nhẹ dạ, cả tin để phủ nhận những giá trị cơ bản, đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Thậm chí, có người lại "cực đoan" đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ và coi tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam nên Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh để xuyên tạc và hạ thấp sự cống hiến của Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và thế giới, hạ thấp tư tưởng của Người mà không hiểu và cố tình không hiểu rằng: Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, tiếp tục dẫn dắt, soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Những giọng điệu "lạc dòng", phủ nhận của một bộ phận những người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu đúng bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh đó không hề làm giảm đi giá trị tư tưởng của Người, vì "trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận vế cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc..." như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định.

ĐẢNG LẤY CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa và Người nhận thấy: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!". Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba". Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần những chỉ dẫn của V.I.Lênin: "Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong" để nỗ lực hoạt động, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó và khẳng định: Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt; "Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam", "bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin". Sau đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động và điều này được khẳng định trong Luận cương chính trị năm 1930 Đảng: "Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc".

Trung thành với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng Hồ Chí Minh không giáo điều mà nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin để vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong quá trình: 1) Thành lập Đảng và xây dựng Đảng cầm quyền; 2) Tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong tiến trình cách mạng; 3) Xây dựng nhà nước kiểu mới; 4) Xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa… Lý luận Mác - Lênin là thế giới quan, nhân sinh quan, là lý luận tiên phong của thời đại được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Cùng với thời gian, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta mà còn nhấn mạnh tại Đại hội VI (12/1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới của Đảng: "Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Tại Đại hội VII (6/1991), Đảng nhấn mạnh việc phải "Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh"; thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) và khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân". Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng này đã cho thấy cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị to lớn, toàn diện cống hiến vô giá về lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh được thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX chứng thực, Đại hội IX (4/2001) của Đảng và khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta". Tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định gồm 9 nội dung cơ bản: 1) Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2) Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 3) Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. 4) Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. 5) Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. 6) Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 7) Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. 8) Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 9) Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi". Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

TIẾP TỤC LÀM CHO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LAN TỎA, THẤM SÂU TRONG ĐẢNG VÀ TRONG XÃ HỘI

Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ, song tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân song rất đỗi vĩ đại của Người đã là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành một phần giá trị của văn hóa nhân loại. Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, nhất là khi tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang diễn biến khó lường cùng những khó khăn, phức tạp trong đời sống xã hội. Thực tế, hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển; đồng thời, những thành tựu đã đạt được về mọi mặt ở Việt Nam là không thể phủ nhận; không chỉ phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng trong thời đại cách mạng vô sản mà còn phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi trường tồn cùng dân tộc và thời đại vì đã thấm sâu vào quần chúng nhân dân, được minh chứng qua thực tiễn cách mạng Việt Nam và ngày càng tỏa sáng, in sâu trong trái tim, khối óc của hàng triệu triệu con người. Vì thế, việc tiếp tục giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh; việc kiên định mục tiêu, con đường phát triển độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là yêu cầu tất yếu khách quan của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi mà còn góp phần giữ vững bản chất của một Đảng chân chính, cách mạng.

Để kiên định và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp và trước thềm Đại hội XIII của Đảng, toàn Đảng cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về "Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới gắn với "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, một cách thiết thực, hiệu quả. Trong đó, cấp ủy các cấp, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải chú trọng nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để kịp thời nhận diện và kiên quyết phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị, phòng và chống những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong  Đảng, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai, chú trọng xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh học từ đại học đến sau đại học, để đội ngũ cán bộ đó có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn tốt, góp phần bổ sung và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng các lực lượng chuyên trách, thường trực, tác chiến nhanh, chính xác, làm xoay chuyển tương quan so sánh lực lượng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới" gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội.

Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trên báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, gắn với công tác kiểm tra, đánh giá, tự phê bình và phê bình để không chỉ bảo vệ mà còn góp phần củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh - cội nguồn sức mạnh, tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong hành trình hướng đến tương lai.

Thứ tư, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cụ thể từng nội dung của chuyên đề hằng năm trong sinh hoạt của chi bộ, đoàn thể, trong các cuộc họp của cơ quan, đơn vị, trong các phong trào thi đua gắn với việc chủ động phòng, chống, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; coi đó là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân, là một giải pháp căn cốt để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục nỗ lực học tập và nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có hệ thống di sản tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng trong thực tiễn và chủ động tuyên truyền, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng của Người lan tỏa, thấm sâu trong Đảng và trong xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Ban biên tập

Nguồn Ban Tuyên giáo Trung ương


15/04/2020 10:00 CHĐã ban hành
Phát huy sức mạnh tinh thần yêu nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí MinhPhát huy sức mạnh tinh thần yêu nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thấm nhuần sâu sắc rằng, lòng yêu nước là một giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, được sinh dưỡng bởi những cư dân một nước nông nghiệp luôn gắn bó, cố kết, đùm bọc, che chở và giúp đỡ lẫn nhau để chống lại thiên tai, địch họa và cả dịch bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta".

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đang đắm chìm trong đêm dài nô lệ. Yêu nước, thương dân, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Sức mạnh truyền thống yêu nước đã hun đúc quyết tâm cứu nước, cứu dân và  thôi thúc Người bôn ba tìm đường giải phóng đất nước; cũng chính là cơ sở dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản"... Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi từ biệt chúng ta trở về với thế giới người hiền, Người luôn khát khao và phấn đấu cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân chủ và giàu mạnh, nhân dân Việt Nam được ấm no, tự do và hạnh phúc. Cuộc đời cách mạng đầy gian truân song rất đỗi vinh quang của Người xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân và cũng vì nước vì dân mà tận tâm, tận lực phấn đấu.

Thấm nhuần sâu sắc rằng, lòng yêu nước là một giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, được sinh dưỡng bởi những cư dân một nước nông nghiệp luôn gắn bó, cố kết, đùm bọc, che chở và giúp đỡ lẫn nhau để chống lại thiên tai, địch họa và cả dịch bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" và "chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước". Trong tất cả những con dân đất Việt đó, chỉ "trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước"…

Vì thế, trên những chặng đường cách mạng, Người luôn khơi dậy và  phát huy nguồn sức mạnh của lòng yêu nước đó để lãnh đạo nhân dân ta từng bước giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh chính là yêu Tổ quốc và nhân dân, coi việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc, thực dân và ngoại bang, giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là lòng yêu nước chân chính, sâu sắc và triệt để. Vì thế, khi thấu hiểu rằng "tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm", Người đã khơi dậy lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam, coi đó là "chìa khóa vàng" để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tổ chức họ, lãnh đạo họ thực hiện mục tiêu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Đất nước đang tiến hành đổi mới và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hơn bao giờ hết, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Càng khó khăn, thử thách, truyền thống yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam được hun đúc từ bao đời, trở thành sức mạnh Việt Nam, biểu tượng Việt Nam càng được tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ, tỏa sáng trên tinh thần: "Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết", để luôn chủ động, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa…

Để đất nước vững bước trên hành trình đã chọn và nhất là để phát huy tinh thần yêu nước của mỗi cá nhân, mỗi tập thể, cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành chức năng cùng cả hệ thống chính trị cần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về lòng yêu nước, về lý tưởng cách mạng và sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cụ thể hóa thành các chính sách và các phong trào thi đua yêu nước cụ thể, thiết thực. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống phải góp phần làm cho mỗi người Việt Nam, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên… nhận thức rõ yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh và thực hành yêu nước là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lòng yêu nước ấy, tinh thần yêu nước ấy rất cụ thể và sinh động, hiển hiện trong mỗi việc làm hằng ngày của mỗi người tại mỗi cơ quan, đơn vị, gia đình và trong cộng đồng. Đó chính là ý thức chấp hành pháp luật, là tinh thần là cần, kiệm, liêm, chính, nỗ lực góp sức dựng xây quê hương, đất nước, kiên quyết chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu; là lối sống giản dị, chan chứa tình yêu thương con người, không vô cảm trước khó khăn của đồng chí, đồng bào, sẻ chia và cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau khi gặp nguy nan, thử thách.

Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước phải trở thành động cơ để trước hết gắn kết mọi người dân Việt Nam trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Yêu nước đồng nghĩa với yêu đồng bào và cao hơn chính là trân trọng truyền thống lịch sử cách mạng, gắn bó và bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng; trung thành với sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì thế, cần thầm nhuần sâu sắc và chú trọng xây dựng lòng yêu nước, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước; đồng thời, chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách... theo tinh thần các văn kiện Đại hội của Đảng, nhất là văn kiện Đại hội của Đảng trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế và tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết 33-NQ/TW về "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước".

Thực tế cho thấy, từ trong các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, rộng khắp ở mọi cấp, mọi ngành, khắp các địa phương trong cả nước đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các đoàn viên, thanh niên, các sinh viên thủ khoa, các doanh nhân giỏi, các chiến sĩ thi đua... trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Gần đây nhất, những tấm gương của đội ngũ y, bác sĩ, chiến sĩ quân đội trong cuộc chiến chống dịch bệnh, sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân cả nước trong cuộc chiến chống "giặc dịch Covid-19" để "không để một ai bị bỏ lại phía sau" chính là biểu hiện sinh động nhất của tình thần nghĩa yêu nước Việt Nam. Đó cũng chính là trái ngọt của việc phát huy sức mạnh tinh thần yêu nước Việt Nam, là kết quả việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trở thành nhu cầu tự thân, nền nếp tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Và hơn bao giờ hết, càng đối diện với khó khăn, thử thách từ thiên tai, địch họa và dịch bệnh, mỗi người dân Việt Nam càng phát huy và tỏa sáng tinh thần yêu nước, chung sức, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phát triển bền vững.                  

Đặc biệt, đối với thế hệ trẻ - lực lượng kế cận, rường cột của nước nhà, việc giáo dục lòng yêu nước phải thầm nhuần yêu cầu "cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ", để mỗi người trở thành người công dân có tài và có đức, kiên định và tiếp tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Những nét đặc sắc trong tư tưởng yêu nước và tấm gương mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lòng yêu nước, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân không chỉ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn; là tấm gương sáng, bài học quý để mỗi người Việt Nam, mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện và noi theo./.

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

 


03/04/2020 9:00 CHĐã ban hành
Xứng danh con cháu Lạc HồngXứng danh con cháu Lạc Hồng
 "Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba" - ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là sự kiện thiêng liêng của dân tộc, nhắc chúng ta nhớ về cội nguồn và lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đó là mệnh lệnh thiêng liêng của đất nước và dân tộc mà tất cả các thế hệ người Việt phải ra sức giữ gìn, xây dựng và phát triển để Tổ quốc thân yêu ngày càng giàu đẹp, trường tồn.

Ngày 18/02/1946, sau hơn 5 tháng thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22 CNV/CC cho công chức cả nước được nghỉ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm. Ngày 19/9/1954, trước Đền Hạ thuộc Đền Hùng, Phú Thọ, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô, Bác căn dặn: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"! Lời Bác dạy không chỉ đối với quân đội mà còn đối với toàn Đảng, toàn dân.

Thực hiện lời dạy của Bác, trong thời chiến, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, quyết tâm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất và chủ quyền của đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Phát huy truyền thống anh hùng, đoàn kết của dân tộc, trong thời bình, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đồng lòng, chung sức bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, mang lại cuộc sống ấm no, tươi đẹp cho nhân dân. Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị và mỗi người dân, tùy vào điều kiện thực tế đã, đang và sẽ làm nhiều điều ích nước, lợi nhà. Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính nêu gương, học tập và làm theo gương Bác để ra sức chăm lo cho dân, vì sự phát triển chung của toàn xã hội. Lực lượng đoàn viên, thanh niên lan tỏa lối sống tích cực, xung kích trên mọi lĩnh vực để góp sức trẻ vào công cuộc bảo vệ, dựng xây quê hương, đất nước. Người cao tuổi, phụ nữ, nông dân, thiếu niên, nhi đồng,... mỗi thành phần tham gia một việc làm thiết thực, tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua để tạo nên sức bật cho sự phát triển. Tất cả cùng đoàn kết một lòng, chung vai góp sức để xây dựng và "giữ lấy nước", xứng danh truyền thống con cháu Lạc Hồng.

Ngoài phát huy sức mạnh đoàn kết trên mọi lĩnh vực, ngày nay, thực hiện lời dạy của Bác, bên cạnh việc cảnh giác, đề phòng giặc ngoại xâm, kiên quyết đánh trả và chiến thắng mọi kẻ địch, chúng ta phải ra sức đấu tranh với "giặc nội xâm", đó là nạn tham nhũng, lãng phí, thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, hiện nay, nước ta đang tập trung quyết liệt phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Do đó, đây cũng là lúc mỗi người dân thể hiện tinh thần dân tộc, sự đoàn kết "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" để đẩy lùi dịch bệnh như Phó Thủ tướng Chính phủ - Vũ Đức Đam đã tin tưởng: "Nếu toàn dân đồng lòng chống dịch, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng dịch bệnh Covid-19 như dân tộc Việt Nam đã nhiều lần chiến thắng".

Nhớ ngày Giỗ Tổ, nhớ lời Bác dặn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc, cùng nhau đoàn kết, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh và nhất là sớm đẩy lùi dịch bệnh Covid-19 để trả lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online


02/04/2020 10:00 CHĐã ban hành
Miền Nam hướng về Bác kính yêuMiền Nam hướng về Bác kính yêu
          Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Chúng tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, chúng phải thả. Nhưng trước khi thả, chúng giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, chúng trải hình Bác dưới đất và bảo: "Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!". Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.

Hay như những năm 1955 - 1956, sau khi Mỹ - ngụy dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất khốc liệt. Thế mà hai ngày 1-5 của năm 1955 và năm 1956, hàng triệu quần chúng tập hợp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn, đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!.

Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng dịch tạm chiếm. Ở Viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (tỉnh Trà Vinh), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Cà Mau). Nhiều trí thức Công giáo như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở Sài Gòn…

Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho trước khi Đồng khởi, có chi bộ bị chúng bắn chết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gửi bức thư đó cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó.

Sau đó, Xứ ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch - ta và góp ý kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ xây dựng đề cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15 rất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị quyết 15 là phong trào bật lên.

Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta cho đến ngày nay.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bác Hồ với miền Nam - miền Nam với Bác Hồ,

Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1986.


28/03/2020 8:00 CHĐã ban hành
Để làm tròn trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viênĐể làm tròn trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh nêu gương là một phương thức lãnh đạo của Đảng và thành phần cốt yếu của văn hóa Đảng. Thấm nhuần tư tưởng ấy của Người, Đảng ta luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

​Chủ trương của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Thực hiện trách nhiệm nêu gương là một trong những nội dung chủ đạo, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Người từng dạy: "Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành, Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công". Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người nói chung, đặc biệt là con người phương Đông nói riêng coi trọng thực tiễn hơn lý thuyết. Chính vì thế, Người nhắc nhở đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua Đảng ta rất coi trọng công tác rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu trong mọi hoạt động công tác. Đảng đã kịp thời ban hành nhiều quy định, nghị quyết về thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, điển hình như: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về "Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương".

Nhờ sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhất là thông qua 3 quy định trên, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên bước đầu đã đạt được kết quả tích cực, thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, về tư tưởng chính trị: Đa số cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo, đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu trong việc thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhận diện và tham gia đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Thứ hai, về đạo đức, lối sống: Nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đã tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện các bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; qua đó, tạo được sự chuyển biến bước đầu trong nhận thức và nêu cao tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có thái độ chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương, cán bộ chủ chốt và người đứng đầu là tấm gương sáng về sự khiêm tốn, giản dị; có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Việc thực hiện các quy định về nếp sống văn minh, văn hóa công sở… đã có nhiều tiến bộ.

Thứ ba, về tự phê bình và phê bình: Nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần xây dựng, cầu thị, tự giác. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục được tình trạng độc đoán, chuyên quyền hoặc dân chủ hình thức.

Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đã xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân trong khuyết điểm của tập thể.

Thứ tư, về quan hệ với nhân dân: Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân để có hướng xử lý phù hợp.  Một số cấp ủy và chính quyền đã có những cách làm hiệu quả như tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo cấp ủy, chính quyền với nhân dân; ban hành quy định về việc các đồng chí tỉnh ủy viên, các đồng chí cấp phó sở, ban, ngành đi công tác cơ sở và dự sinh hoạt chi bộ; định kỳ bí thư cấp ủy cấp huyện giao ban với các bí thư, trưởng thôn, bản, trưởng ban công tác mặt trận thôn, bản… để kịp thời lắng nghe những vấn đề phát sinh từ cơ sở; phát huy vai trò đại biểu dân cử trong việc tiếp xúc cử tri; xây dựng chương trình đối thoại trên các phương tiện thông tin đại chúng; công bố số điện thoại đường dây nóng, số điện thoại cơ quan, đơn vị để nhân dân phản ánh kịp thời về tinh thần, trách nhiệm, thái độ thực thi nhiệm vụ và phục vụ nhân dân… Qua đó, vừa nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp thu được ý kiến của nhân dân, giải quyết các vụ, việc bức xúc, phức tạp, vừa kịp thời chấn chỉnh thái độ, phong cách giao tiếp, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, về trách nhiệm trong công tác: Thông qua thực hiện các quy định, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp chung, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ do tổ chức phân công; thực thi công vụ bảo đảm nguyên tắc, kỷ cương, hoàn thiện các quy trình, đổi mới cách làm, tận tụy với công việc; xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, đạo đức công vụ, nhất là về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.

Thứ sáu, về ý thức tổ chức kỷ luật: Đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong chi bộ, cơ quan, đơn vị; tuân thủ sự phân công, điều động của tổ chức; gương mẫu thực hiện chế độ sinh hoạt Đảng và các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị và địa phương.

Thứ bảy, về đoàn kết nội bộ: Ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên đã tích cực tham gia xây dựng đoàn kết nội bộ trong tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội. Nhiều cán bộ chủ chốt là tấm gương trong đoàn kết, tạo môi trường làm việc dân chủ, hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; tích cực đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, cục bộ, bè phái. Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương khi phát hiện có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, người đứng đầu đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu, nắm bắt thông tin từ nhiều nguồn để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Một số hạn chế, khuyết điểm

Một là, một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu, thậm chí cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Vẫn còn tư tưởng cho rằng việc nêu gương là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên có chức vụ. Tình trạng ngại đọc, lười học, lười nghiên cứu lý luận chính trị vẫn còn phổ biến. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung chủ yếu vào đảng viên có chức vụ. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt thiếu gương mẫu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, với các biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, trục lợi; lạm dụng tài sản công (công quỹ, xe công, nhà công vụ…); lãng phí trong công tác và sinh hoạt, tiêu dùng xa xỉ, cờ bạc, tiệc tùng xa hoa; thiếu minh bạch trong kê khai thu nhập, tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, không thực sự sâu sát cơ sở, chưa kịp thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị chưa được giải quyết kịp thời, vẫn còn cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt, ngại khó khăn, gian khổ, đùn đẩy, né tránh, không sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được tổ chức phân công.

Hai là, vẫn còn tình trạng vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm nêu gương. Tinh thần, trách nhiệm của nhiều cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa mạnh dạn, chưa thẳng thắn, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, không dám nhận khuyết điểm, sai phạm của mình. Trong đấu tranh còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va phạm, ngại góp ý với đồng chí, đồng nghiệp, nhất là khi phê bình người đứng đầu. Vẫn còn tình trạng lợi dụng phê bình để xu nịnh, lấy lòng, thổi phòng thành tích hoặc nói xấu, cường điệu khuyết điểm, hạ thấp uy tín của nhau.

Ba là, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định nêu gương của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thường xuyên, nghiêm túc, chủ yếu là lồng ghép với kiểm tra, giám sát các nghị quyết, quy định, chỉ thị khác. Nhiều vi phạm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, chủ yếu do cấp trên kiểm tra, giám sát phát hiện hoặc do đơn, thư tố cáo, phản ánh, kiến nghị, góp ý của đảng viên, nhân dân và báo chí. Việc xử lý vi phạm ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa nghiêm, tính răn đe chưa cao.

Bốn là, công tác sơ kết, đánh giá việc thực hiện quy định nêu gương còn nhiều hạn chế. Hàng năm không có báo cáo riêng về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Việc phát hiện, xây dựng gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến và tổng kết mô hình mới, cách làm hay để nhân rộng và biểu dương, khen thưởng chưa kịp thời.

Một số bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, nêu gương là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng. Tất cả đảng viên phải có trách nhiệm nêu gương, cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu, đặc biệt khi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiên phong, gương mẫu sẽ tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, làm xoay chuyển tình hình theo hướng tích cực trong toàn hệ thống chính trị.

Thứ hai, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền, quán triệt, tổ chức thực hiện quy định nêu gương có vai trò quan trọng và tác động sâu sắc tới nhận thức, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Thứ ba, ý thức trách nhiệm, tinh thần gương mẫu của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị có ý nghĩa quyết định. Nơi nào người đứng đầu nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiên phong gương mẫu, nói đi đôi với làm thì nơi đó việc thực hiện nêu gương đi vào thực chất, hiệu quả.

Thứ tư, thực hiện quy định nêu gương phải kết hợp giữa "xây" và "chống"; động viên, biểu dương, nhân rộng những điển hình tiên tiến, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Thường xuyên kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện.

Thứ năm, việc nêu gương phải thể hiện bằng những hành động cụ thể, thiết thực gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao của từng cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời, coi trọng công tác sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm.

Thứ sáu, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân là hết sức quan trọng trong kiểm tra, giám sát thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Giải pháp để phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên          

Để phát huy trách nhiệm tự giác, tích cực nêu gương của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện tốt các công việc sau:

Một là, nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên; phải nhận thức rằng nếu cán bộ, đảng viên mà không nêu gương thì không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên nữa.

Hai là, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm nêu gương trước quần chúng nhân dân; từ đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, trước hết là phải quán triệt mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải có nhận thức đúng và quyết tâm hành động; phải có mối quan hệ tốt với nhân dân theo những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; không biến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ thành quan hệ kinh tế vì lợi ích cá nhân hay lợi ích cục bộ của cơ quan, đơn vị… Tổ chức đảng, cơ quan quản lý Nhà nước có quy định cụ thể, lấy tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân làm thước đo chuẩn mực đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng Đảng. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là phải tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và phong cách công tác. Nhưng để trách nhiệm nêu gương đó được thực hiện tốt cần có sự chuyển động từ hai phía: cán bộ, đảng viên và cấp ủy Đảng.

Với cấp ủy, người lãnh đạo: phải thực hành dân chủ rộng rãi trong tổ chức Đảng, tổ chức tốt việc tự phê bình và phê bình như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc thiêng liêng. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải thực sự gương mẫu, tôn trọng nguyên tắc sinh hoạt đảng, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên… có như vậy mới phát huy được tính tích cực, tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên.

Với cán bộ, đảng viên: phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn; tham gia vào các quá trình xây dựng đường lối chính trị; góp phần triển khai đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân; đấu tranh bảo vệ đường lối chính trị đúng đắn, kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với cộng đồng, gia đình và xã hội. Duy trì và tự giác thực hiện các truyền thống tốt đẹp, các chuẩn mực đạo đức trong gia đình, có lối sống mực thước, nêu gương trong học tập, lao động, sản xuất, công tác, người trên làm gương cho người dưới, thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau, cán bộ, đảng viên nêu gương trước quần chúng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi người đều có trách nhiệm xây dựng cộng đồng làng, xã, cơ quan mình trong sạch, vững mạnh. Phải luôn luôn đoàn kết, tôn trọng và bảo vệ cộng đồng; bảo vệ những tập quán truyền thống tốt đẹp; có ý thức cộng đồng, ý thức về cội nguồn, đạo lý uống nước nhớ nguồn; tôn trọng những quy tắc ứng xử của cộng đồng; lên án những hành vi xâm hại lợi ích chung, xâm hại đến lợi ích của thành viên trong cộng đồng.

Năm là, xác định rõ trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng vị trí công tác. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống qua xác định trách nhiệm chung với Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình chỉ có tác dụng tích cực khi xác định rõ trách nhiệm nêu gương cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên. Để mỗi người đều thấy rõ trách nhiệm với chính mình, tự mình phải rèn luyện đạo đức cách  mạng, coi đó là nhiệm vụ không thể thoái thác, tự thân… cần xác định rõ nghĩa vụ và quyền lợi trên mỗi cương vị công tác. Đó là trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể.

Phẩm chất chính trị, đạo đức của mỗi người cán bộ, đảng viên được thể hiện trong sự tôn trọng bản thân, thể hiện trong các mối quan hệ với chính mình, với người và với việc, trong đó với chính mình là rất quan trọng. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi người thể hiện qua trách nhiệm với công việc được giao. Mọi công việc phải làm cho đến nơi, đến chốn, làm cho kỳ được với tinh thần "việc thiện thì nhỏ

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - số 936 (2-2020)

 

07/03/2020 1:00 CHĐã ban hành
Định hướng chiến lược trong thư Bác gửi cho cán bộ ngành Y tếĐịnh hướng chiến lược trong thư Bác gửi cho cán bộ ngành Y tế
Từ ý nghĩa to lớn của bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đội ngũ cán bộ ngành Y tế, ngày 6-2-1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27-2 hằng năm làm "Ngày Thầy thuốc Việt Nam". Kể từ đó, ngày 27-2 đã trở thành Ngày truyền thống của ngành Y tế.

490.jpg 

Bác Hồ thăm Bệnh xá Vân Đình, Hà Tây (tháng 4-1963). Người căn dặn: "Lương y như từ mẫu". (Ảnh tư liệu)

Ba chỉ đạo chiến lược

Cách đây 65 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị cán bộ y tế tổ chức tại Thủ đô Hà Nội (27- 2-1955). Bức thư được đăng trên báo Nhân Dân ngày 27- 2-1955. Thư của Người dù chỉ có 386 chữ, nhưng đã thể hiện sự chỉ đạo sâu sắc, khoa học, mang tính định hướng chiến lược cho ngành Y tế Việt Nam.

Một là, "đoàn kết là sức mạnh", vì "đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích"(1). Cùng chung một mục đích là "phục vụ nhân dân" cho nên, dù công việc và địa vị khác nhau, song đội ngũ cán bộ ngành Y cần phải "đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc"(2).

Hai là, "lương y phải như từ mẫu". Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của những người làm trong ngành Y tế; biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm phục vụ, tình thương yêu, chăm sóc người bệnh. Là một nghề liên quan trực tiếp đến sinh mệnh con người, người thầy thuốc không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải giàu về đạo đức nghề; "chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu". Người nhấn mạnh rằng, "người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khoẻ cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang"(3), cho nên những người làm nghề y "cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn(4).

Ba là, "xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân", Chính phủ cần phải "xây dựng một nền y học của ta" - nền y học "phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng"; "chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc "Đông" và thuốc "Tây"(5).

Theo chỉ dẫn của Người, đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành Y tế cả nước, từ Trung ương đến cơ sở, từ thành phố đến tận cơ sở vùng sâu, vùng xa đều nỗ lực phấn đấu, luôn đoàn kết, sẻ chia kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau về tay nghề, phương tiện điều trị để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Thực hiện lời thề Hippocrate và đạo đức người thầy thuốc như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, tấm gương mẫu mực về chuyên môn và đạo đức nghề y của bác sĩ Vũ Đình Tụng, Trần Hữu Tước, GS. Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Hồ Đắc Di, Đặng Thuỳ Trâm, Tôn Thất Bách… cùng thầy thuốc, y tá, y sĩ, hộ lý, lương y trong đội ngũ những người "anh hùng áo trắng" trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn được đội ngũ những người công tác trong ngành học tập và noi theo.

Trong mọi thời điểm, lời dạy của Người về đoàn kết, về sự sẻ chia, chăm lo cho người bệnh luôn hiển hiện trong công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, trong từng phiên trực cấp cứu hằng ngày của những người thầy thuốc, dù ở bất cứ thời điểm nào, địa bàn nào. Mỗi người, tùy vị trí công tác và chuyên môn đã luôn giữ và rèn luyện y đức, nỗ lực học tập để nâng cao trình độ y thuật, ngày đêm tận tuỵ vì sức khoẻ của nhân dân. Ở những thời khắc quyết định, đã có những thầy thuốc tình nguyện hiến máu để kịp thời cứu chữa người bệnh. Ở các tuyến bệnh viện, cũng đã có không ít thầy thuốc giúp đỡ tiền để bệnh nhân nghèo chữa bệnh, khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho dân nghèo, nhất là cho đồng bào miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, ở những thời điểm các đợt dịch bùng phát cúm A (H5N1), (H1N1), SARS, chân tay miệng ở trẻ em, sốt xuất huyết… hay nCoV như hiện nay, những khi phải cứu chữa cho các bệnh nhân mắc bệnh nan y, nguy hiểm, đội ngũ những người công tác trong ngành Y đã tiếp cận, xử lý và tranh thủ từng phút để giành giật sự sống cho bệnh nhân, khắc chế sự lan rộng của đại dịch, thể hiện rõ trình độ chuyên môn và đạo đức nghề, tinh thần và trách nhiệm như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn.

Thực hiện chỉ đạo của Người, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất đặc biệt và cao quý trong xã hội, ngành Y tế đã mở rộng cơ sở chăm sóc sức khỏe từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Hệ thống bệnh viện các tuyến đều được quan tâm đầu tư, xây dựng, tạo thành chỉnh thể liên hoàn, hỗ trợ nhau để ngày càng nâng cao hơn chất lượng thăm, khám và chữa bệnh cho nhân dân. Nhiều chứng bệnh nguy hiểm đã được điều trị có hiệu quả, nhiều kỹ thuật tiên tiến đã được áp dụng ở tuyến bệnh viện Trung ương và các bệnh viện tuyến cơ sở đã góp phần nâng cao chất lượng thăm khám và điều trị bệnh, khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước.

Mạng lưới y học dân tộc, kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa Đông y và Tây y đã chữa trị thành công rất nhiều loại bệnh, góp phần rất lớn và ngày càng tạo được sự tin tưởng trong nhân dân đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được. Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, do đó, "thầy thuốc tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y... Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như người có hai cái tay, hai bàn tay cùng làm việc thì làm việc được tốt, cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào"(6).

Đó chính là sự kết hợp giữa y học dân tộc và y học hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa và phát huy những vốn quý cổ truyền của Đông y với Tây y, tạo nên sự phát triển vượt bậc của y học Việt Nam, góp phần bảo tồn và phát triển những vốn quý của y học cổ truyền. Sự có mặt của Khoa (Bộ môn) Y học cổ truyền trong hệ  thống trường đào tạo Y khoa và Khoa Đông Y trong các Bệnh viện hoặc Viện nghiên cứu chuyên ngành Y học cổ truyền đã cho thấy sự phát triển đúng hướng trong đào tạo và phát huy vai trò của Đông y trong thăm khám và điều trị cho người bệnh.

Ngành Y tế tiếp tục thực hiện lời dạy của Người

65 năm qua, lời dạy của Người vẫn là kim chỉ nam cho ngành Y tế trong xây dựng và phát triển. Những thành tựu quan trọng trong phát triển mạng lưới y tế, dự phòng bệnh tật, khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, từng bước củng cố, tăng cường mạng lưới y tế cơ sở và đổi mới phương thức hoạt động, năng lực dự báo, giám sát và phòng chống dịch bệnh của các cơ sở y tế dự phòng, phòng và khống chế được các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đã được thế giới ghi nhận. Đồng thời, đạo đức nghề, phong cách, thái độ phục vụ và trình độ chuyên môn của đội ngũ những người công tác trong ngành Y tế được chú trọng, nâng cao, xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương y, bác sĩ tận tuỵ chăm sóc, cứu chữa người bệnh được xã hội trân trọng, ghi nhận.

Tuy nhiên, hệ thống y tế từ Trung ương đến cơ sở còn nhiều đầu mối, chưa đồng bộ, thiếu ổn định, hoạt động chưa hiệu quả, chưa phù hợp với biến đổi mô hình bệnh tật, mất an toàn thực phẩm, biến đổi khí hậu, già hóa dân số để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân... Trong khi đó, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường, y đức trở thành vấn đề bức xúc. Những biểu hiện tiêu cực, vi phạm quy định và đạo đức của ngành mặc dù chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh", song cũng gây ảnh hưởng xấu đến sự thanh cao của nghề y, làm tổn hại đến danh dự của những làm nghề chân chính, tận tâm cống hiến cho nghề nghiệp cao quý này.

Để phát triển và nâng cao chất lượng công tác của ngành Y tế, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân" ra đời (Nghị quyết 20). Tinh thần và nội dung của Nghị quyết không chỉ thể hiện sâu sắc 3 chỉ đạo có tính định hướng chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành Y tế, mà còn bổ sung và hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Theo đó, toàn ngành cùng đoàn kết, chung tay xây dựng một nền y tế Việt Nam tiên tiến, dân tộc, khoa học, đại chúng gắn với nhu cầu thực tế của nhân dân. Trong đó, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế Việt Nam theo hướng công bằng - hiệu quả - phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, để mọi người dân, nhất là người nghèo, các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, có chất lượng.

Đồng thời, tiếp tục thực hiện Quyết định số 2088/BYT-QĐ, 12 điều về y đức của Bộ Y tế,  Thông tư số 07/2014/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về "Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động tác cơ sở y tế" và Quyết định số 2151/QĐ-BYT phê duyệt kế hoạch thực hiện "Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh" gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó có lời dạy "lương y phải như từ mẫu" của Người, đồng thời đưa Nghị quyết 20 vào cuộc sống, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành trên mọi miền đất nước đã và đang không ngừng nỗ lực phấn đấu vượt lên mọi khó khăn gian khổ hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân mà Đảng, Nhà nước giao phó.

Trên tinh thần lấy người bệnh làm trung tâm, toàn ngành tiếp tục nỗ lực đổi mới toàn diện, tăng cường y tế cơ sở, hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân thông qua nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ; trong đó, có nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới y tế cơ sở và nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng khám, chữa bệnh tới sự hài lòng của người bệnh. Tập trung đổi mới toàn diện phong cách, thái hộ phục vụ của nhân viên y tế đối với người bệnh, xây dựng môi trường bệnh viện xanh - sạch - đẹp, đảm bảo mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.

Cùng với đó, đội ngũ những người công tác trong ngành trên khắp mọi miền của Tổ quốc nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện và trau dồi y đức, bồi đắp lòng nhân ái, lương tâm và tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất cao đẹp của những người thầy thuốc "Lương y phải như từ mẫu" để không ngừng nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân./.

Gia Khánh

Nguồn Học viện chính trị quốc gia

28/02/2020 5:00 CHĐã ban hành
Củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí MinhCủng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng.

297.jpg 

Bác Hồ với đồng bào dân tộc thiểu số. (Ảnh tư liệu)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Với tinh thần nhân văn cao cả và nhãn quan chính trị sắc bén, suốt cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng, các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân. Người nhận thức sâu sắc, đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp, lực lượng, đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, các cá nhân yêu nước, người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người đã lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải trở về với nhân dân. Nói cách khác, khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ"(1). 

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất lợi ích quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng; nòng cốt khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người chỉ rõ, cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, dân cư ở các vùng miền khác nhau. Phát huy mặt tương đồng, hóa giải điểm khác biệt. Mẫu số chung để đại đoàn kết toàn dân tộc là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: "Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh"(2).

Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Người cho rằng, trước hết, cần tuyên truyền, vận động nhân dân. Thứ hai, phải chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Về Nhà nước, Đảng phải làm cho Nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội là cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với nhân dân. Coi đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi đoàn kết là một đức tính cơ bản của người cách mạng. Ai không có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các đồng chí của mình thì không thể làm cách mạng, không thể làm cán bộ. Người căn dặn: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"(3).

Song song với việc xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh gây chia rẽ, mất đoàn kết.

Phải chống bệnh hẹp hòi. "Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hoá, v.v. đều do bệnh hẹp hòi mà ra!"(4). Thứ hai, phải chống chủ nghĩa cá nhân. Do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ, đảng viên sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền.

Để thực hiện được chiến lược đại đoàn kết dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mới thành công, Hồ Chí Minh khẳng định, "ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó" và giải thích: "Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó"(5).

Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: "Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân"(6).

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau"(7). 

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót. Giáo dục, lãnh đạo nhân dân, đồng thời không ngừng học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Biết biến quyết tâm của Đảng, Nhà nước thành quyết tâm của nhân dân. "Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ"(8).

Đối với toàn thể nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc.

Củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, về tôn giáo, về người Việt Nam ở nước ngoài, từng bước được thể chế hóa thành luật, pháp lệnh, chính sách và ngày càng thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Nhiều cấp ủy đảng đã quan tâm hơn đến sự nghiệp đại đoàn kết, đến công tác dân vận và công tác mặt trận, củng cố tổ chức và tăng cường cán bộ, phương tiện và điều kiện cho công tác mặt trận. Chính quyền ở nhiều cấp, nhiều địa phương đã thật sự có chuyển biến trong nhận thức và hành động về quan hệ với nhân dân. Nhiều dự án về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của Nhà nước được ban hành nhằm chăm lo đời sống cho nhân dân đã thực hiện có kết quả. Quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội được thể chế hóa, đã từng bước được phát huy. Sự đổi mới hệ thống chính trị, việc tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội, nhất là việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần quan trọng vào việc động viên nhân dân và cán bộ hăng hái tham gia các sinh hoạt chính trị của đất nước, đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Đó là những nhân tố rất quan trọng, là động lực chủ yếu bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Cùng với những tiến bộ và chuyển biến nêu trên, nhiều vấn đề mới đã và đang nảy sinh trong quá trình đổi mới, đó là xã hội, giai cấp, tầng lớp, nhóm dân cư đang trong quá trình phân hóa. Xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân lao động ở các khu công nghiệp với những người lao động có chuyên môn, tay nghề trong các lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, giữa người đương chức và người về hưu… Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc. Những đặc điểm nêu trên đã tác động mạnh mẽ đến khối đại đoàn kết. Vì vậy, tuy đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường, song chưa thật vững chắc và đang đứng trước những thách thức không thể xem thường. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang khai thác những thiếu sót, yếu kém của ta hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên, trước hết là các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc đề xướng. Phải nắm vững những quan điểm cơ bản và cũng là những định hướng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Đó là lợi ích cơ bản của nhân dân, của dân tộc ta ngày nay là độc lập, tự do và cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó thể hiện cụ thể hằng ngày trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Củng cố tăng cường đoàn kết hiện nay không thể chung chung mà phải gắn chặt với việc bảo đảm các lợi ích đó. Một trong những động lực thúc đẩy nhân dân tăng cường đoàn kết trong tình hình hiện nay là quyền làm chủ đất nước của nhân dân cần được tôn trọng. Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp đã quy định.

Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và của toàn dân. Do đó, qua hoạt động của mình, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội cần không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để góp phần làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn luôn bền chặt, ý Đảng và lòng dân là một. Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có tác dụng trực tiếp và quyết định đến kết quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội, để các chủ trương, chính sách sát cuộc sống, đáp ứng lợi ích của nhân dân.

Kiên trì thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định, phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng trở nên sống động và mang tính thời sự, ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng. Để tăng cường củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay, cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu và cả hệ thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Các cấp ủy đảng và người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Cần thực hiện triệt để Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XI về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương". Cán bộ, đảng viên phải xung phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để nhân dân học và làm theo.

Thứ hai, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và các giai tầng, các giới trong toàn dân tộc.

Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở.

Thứ tư, tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm công tác dân vận. 

Thứ năm, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đảm bảo thế và lực cho đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Gia Khánh

Nguồn Ban Tuyên giáo Trung ương

 

24/02/2020 7:00 CHĐã ban hành
Mọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dânMọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dân
Trong cuộc sống cũng như trong công việc, Bác có phong độ ung dung, thư thái, khẩn trương nhưng không vội vàng. Hôm xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ (năm 1964), tôi đang chuẩn bị theo Bác sang đọc tin bên nhà sàn thì đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi điện cho Bác. Cuộc báo cáo ngắn xong, Bác bình thản ung dung trên đường sang nhà sàn. Buổi làm việc vẫn diễn ra bình thường.

images.jpg 

Ảnh tư liệu

Đừng thần thánh Bác Hồ. Bác Hồ không phải là ông thánh nhưng là người tất cả vì dân vì nước, mọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dân. Các bác sĩ trong hội đồng sức khỏe không ai nỡ khuyên Bác bỏ thuốc lá vì là một thú vui riêng từ nhiều năm, từ tuổi trẻ. Thấy Bác ho nhiều bác sĩ chỉ khuyên Bác bớt hút thuốc lá nhưng tự Bác đã bỏ thuốc. Bỏ một thói quen từ nhiều năm, một người không có những thú vui riêng, một người thường ngồi làm việc một mình, suy nghĩ một mình đâu phải là dễ. Cuối buổi làm việc, trước khi ăn bữa sáng, Bác thường uống một tách cà phê. Hôm đó tôi làm việc với Bác, khi anh em đưa cà phê vào, Bác đẩy tách cà phê sang tôi và nói: "Chú uống đi", "Dạ để mời Bác uống", "Uống cà phê Bác lại nhớ tới thuốc lá, chú cứ uống đi". Tôi uống chén cà phê thấy đắng hơn.

Bác Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác bên dưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất. Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu, tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai, Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đưa cho tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: "Làm gì mà chú phải khổ sở thế!".

Bác giản dị nhưng đàng hoàng. Trời nóng ngồi làm việc một mình với chúng tôi có thể Bác mặc áo mây ô, quần cộc nhưng đi ra ngoài dù kaki, quần áo nâu cũng phải phẳng phiu. Không chỉ một lần Bác phê bình đồng chí cán bộ cao cấp ra chỗ tiếp khách không ăn mặc chỉnh tề, tuy đồng chí này không phải nhân vật chủ chốt.

Qua những năm hoạt động cách mạng gian khổ, Bác mắc một số bệnh mãn tính, sức chiến đấu chống bệnh của Bác thật mãnh liệt. Ngày ba bữa, dù mưa nắng, nóng rét Bác vẫn đi ăn bên nhà xây (nhà số 54). Có một lần trời mưa gió, anh em đã bày bàn ăn dưới nhà sàn nhưng Bác vẫn đội ô, chống gậy sang nhà ăn.

Bác kiên trì rèn luyện sức khỏe, tập Thái cực quyền hàng ngày. Từ lúc vào cơ quan làm việc cho đến năm 1967 tôi không thấy Bác nghỉ ốm ngày nào; mặc dù nhiều lúc biết Bác phải gắng vượt lên sức khỏe của tuổi già. Từ giữa năm 1967 có hội đồng chăm sóc sức khỏe theo dõi hàng ngày nhưng Bác vẫn làm việc đều. Không đi họp thì nghe báo cáo. Giữa năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút. Buổi trưa sau bữa ăn, nằm nghỉ dưới nhà xây, Bác vẫn nghe tin tức gần một tiếng rồi mới ngủ. Sau có hôm tôi đọc độ mười phút Bác ngủ, tôi liền ngừng đọc thì Bác giật mình bừng dậy bảo tôi nghỉ nhưng rồi Bác khó ngủ lại. Từ buổi sau, khi đọc tin thấy Bác ngủ tôi vẫn đọc tiếng nhẹ đi để giấc ngủ của Bác được dài thêm. Tôi trao đổi hiện tượng và kinh nghiệm đó với đồng chí Chước.

Làm việc bên Bác trong một thời gian dài, tôi thấy những điều Bác Hồ kêu gọi, dạy dỗ, giáo dục cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân không phải chỉ là những lời hô hào của người lãnh đạo mà là những điều Bác Hồ đã sống và làm trong cả cuộc đời của mình. Mỗi việc làm của Người đều vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Ngọc Thuận

Nguồn: Những chuyện kể về tấm gương trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

                                                                                                     

          

17/02/2020 5:00 CHĐã ban hành
Bình Hòa Hưng quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020Bình Hòa Hưng quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020
Ngày 14/02/2020, Đảng ủy xã Bình Hòa Hưng tổ chức hội nghị học tập, quán triệt chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Tham dự buổi học tập có 85 đảng viên thuộc Đảng bộ xã, 5 đảng viên Ban Quản lý Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An.

hcm2.jpg 

Ảnh: Ông Nguyễn Văn Nghiêm – PBT Đảng ủy xã phát biểu quán triệt tại hội nghị

Thông qua hình thức xem trình chiếu video, các đại biểu được nghe GS.TS Hoàng Chí Bảo - nguyên Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh báo cáo nội dung chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh".

Chuyên đề học tập nhằm nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta về nội dung cơ bản, giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tiếp tục đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người trở thành nề​​n nếp, gắn với thực hiện nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

 hcm.jpg

Ảnh: Đại biểu tham dự học tập

Chuyên đề trong năm 2020 về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách  Hồ Chí Minh" bao gồm 2 phần chính:

Phần thứ nhất: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Phần thứ hai: Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới.

Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người nhằm tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh vừa là trách nhiệm vừa là tình  cảm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của mỗi tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, mỗi người dân đối với Bác Hồ - vị Cha già kính yêu của dân tộc

Sau khi học tập, nghiên cứu học tập chuyên đề trong năm 2020, mỗi cán bộ đảng viên sẽ viết bài thu hoạch tự liên hệ bản thân và đề ra phương hướng phấn đấu làm theo trong thời gian tới.

Phạm Văn Tài

 

15/02/2020 12:00 CHĐã ban hành
Chuyên đề 2020  "TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH"Chuyên đề 2020  "TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH"

111.png

 

MỞ ĐẦU

 

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, đây cũng là nội dung và giải pháp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, nhằm phát huy sức mạnh nội lực, tạo động lực cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Năm 2020 kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh…, là năm diễn ra đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; nhằm tiếp tục tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, thiết thực, hiệu quả trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm nhiệm vụ; Ban Tuyên giáo Trung ương đã chọn chuyên đề: "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Chuyên đề gồm 02 phần:

Phần thứ nhất: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

 Phần thứ hai: Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới.

 

Phần thứ nhất

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ

TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC; XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

I. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong các tác phẩm của mình, Bác có tới trên 400 bài nói và viết về đoàn kết. Tư tưởng về đoàn kết của Người được thể hiện nổi bật là: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".

1. Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược quyết định thành công của cách mạng Việt Nam

lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. "Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi"; "Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công" …

Để lý giải một nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu lại có thể đương đầu và đánh bại những thế lực có ưu thế tuyệt đối về vật chất, phương tiện chiến tranh, Người nói: "Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại"[1].

Theo Bác, đoàn kết trong Đảng là tiền đề đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để đoàn kết quốc tế. Đó là đường lối chiến lược kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam; vì "Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: "ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC"[2].

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện mong muốn tột bậc: "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới"[3].

2. Lực lượng và hình thức tổ chức đại đoàn kết toàn dân tộc

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp, lực lượng, đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, các cá nhân yêu nước, người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người đã lầm đường, lạc lối nhưng biết hối cải trở về với nhân dân. Nói cách khác, khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm: "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ"[4].

Mẫu số chung để đại đoàn kết toàn dân tộc là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: "Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh"[5].

Hình thức tổ chức lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận dân tộc thống nhất chỉ có thể bền vững khi được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo Người, để tập hợp lực lượng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không được phép bỏ sót bất cứ thành phần giai cấp, xã hội nào, miễn là họ có lòng yêu nước, sẵn sàng cống hiến, phục vụ quốc gia dân tộc. Và "Công, nông, trí chúng ta đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó khăn trở ngại… Chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"[6].

3. Nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc

Thứ nhất, tin vào dân, dựa vào dân vì lợi ích của dân để đoàn kết toàn dân, phát động các phong trào thi đua yêu nước trong lao động, học tập, sản xuất và chiến đấu, bởi vì: "Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"[7].

 Thứ hai, đoàn kết lâu dài, rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo. Nhân dân cần được vận động, giác ngộ, tự nguyện đứng trong Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng để "Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị.

Thứ ba, đoàn kết trên cơ sở hiệp thương, dân chủ, chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết gắn với đấu tranh, tự phê bình và phê bình. Vì "Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân"[8].

Thứ tư, đoàn kết trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng "phần thiện", dù nhỏ nhất ở mỗi con người để tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: "Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang"[9].

4. Phương pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

 Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết, cần tuyên truyền, vận động nhân dân. Nội dung tuyên truyền phải đáp ứng đúng nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân và yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: "Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ 6 chữ ấy thôi là đủ rồi"[10].

Thứ hai, phải chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng cộng sản là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong Đảng đoàn kết, thống nhất từ tư tưởng đến hành động; có kỷ luật, tự giác, nghiêm minh; thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng.

Về Nhà nước: Đảng phải làm cho Nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Không ngừng cải cách bộ máy hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước quản lý bằng pháp luật. "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân. Chính phủ chỉ có một mục đích là: Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân"[11].

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể phải có cương lĩnh, đường lối thiết thực, rõ ràng; hình thức tổ chức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, các ngành, các giới, các dân tộc, tôn giáo… để toàn dân tộc có thể tham gia xây dựng và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

5. Đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc và là đức tính cơ bản của người cách mạng

Coi đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, theo chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi đoàn kết là một đức tính cơ bản của người cách mạng. Người căn dặn: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"[12]. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: học tư tưởng, đạo đức đoàn kết Hồ Chí Minh là "Gột rửa tất cả cái gì có thể chia rẽ chúng ta, trau dồi tất cả cái gì thắt chặt chúng ta"[13].

Về tư tưởng "Đoàn kết toàn dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế", Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Quan sơn muôn dặm một nhà/Vì trong bốn biển đều là anh em"[14]. Người cho biết: "Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản"[15]. Và, sẵn sàng "Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai"[16]. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cần có tinh thần quốc tế trong sáng.

Đối với toàn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: "Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo"[17]. Để đoàn kết nhất trí, cán bộ lãnh đạo phải cần, kiệm, liêm, chính; kiên quyết chống quan liêu, tham ô, lãng phí; hết lòng hết dạ phục vụ nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Chính phủ và pháp luật của Nhà nước.

 Đối với mỗi đảng viên, Người cho rằng, muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên… "Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết"[18].

Đối với toàn thể nhân dân Việt Nam, Người kêu gọi "tất cả dân ta đều Thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính" và giải thích: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái…"[19].

 Song song với việc xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh gây chia rẽ, mất đoàn kết.

 6. Phong Cách Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

 Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: "Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân"[20]. Họ phải là: "Những người mà:

- Giàu sang không thể quyến rũ,

- Nghèo khó không thể chuyển lay,

- Uy lực không thể khuất phục"[21].

Người khẳng định, Đảng ta với phong cách vì dân, vì nước nên: "không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân"[22] để đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau"[23].

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót.

Đối với toàn thể nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc. "Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay"[24].

Với đồng bào các tôn giáo, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta không phân biệt lương, giáo, hãy làm theo gương của các bậc sáng lập Đạo mà đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng là để giữ gìn quyền tôn giáo tự do. Bác cũng khẳng định đạo đức tôn giáo có giá trị nhân văn, phù hợp với đạo đức của xã hội.

 "Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa". Theo Người: "Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ"[25].

Đối với đồng bào các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em"[26].

II. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

 1. Xây dựng Đảng Cộng Sản cầm quyền trong sạch, vững mạnh làm hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị

Công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm: Xây dựng Đảng về chính trị; xây dựng Đảng về tư tưởng; xây dựng Đảng về tổ chức; xây dựng Đảng về đạo đức.

(1) Xây dựng Đảng về chính trị và xây dựng Đảng về tư tưởng: Phải dựa vào lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị và tư tưởng. Đảng phải tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt ra trong quá trình lãnh đạo. Việc thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng sẽ làm sáng tỏ những vấn đề mới trong thực tiễn, làm cho đường lối của Đảng ngày càng hoàn thiện.

Nội dung xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng bao gồm: đường lối chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị… Trong đó, đường lối chính trị là một vấn đề cốt tử trong sự tồn tại và phát triển của Đảng.  Đảng cần phải thường xuyên giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh.

(2) Xây dựng Đảng về tổ chức:

Về hệ thống tổ chức đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức. Hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thực chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Sức mạnh các tổ chức liên quan chặt chẽ với nhau; mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng. Trong hệ thống đó, chi bộ đóng vai trò là hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng; là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và giám sát đảng viên; có vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng với quần chúng nhân dân.

Về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài. Người nhận thức rõ vị trí, vai trò của người cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp cách mạng. "cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"[27].

Theo Người, "Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta"[28].

(3) Xây dựng Đảng về đạo đức:

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đảng là một tổ chức cách mạng chứ không phải tổ chức để "làm quan phát tài". Không như vậy, Đảng sẽ rơi vào thoái hóa, biến dạng, tha hóa, xa dân, tự đánh mất sức mạnh tự bảo vệ. Xây dựng Đảng về đạo đức là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, đặc biệt là giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng.

Để xây dựng Đảng thực sự đạo đức, văn minh, cần nắm rõ 3 nguyên tắc:

Một là, những chuẩn mực đạo đức cần có của tổ chức Đảng: Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, chống giáo điều và xa rời nguyên tắc. Trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân, dân tộc Việt Nam và của loài người. Đảng gắn bó với dân, là người lãnh đạo đồng thời là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Hai là, những phẩm chất đạo đức cách mạng cần có của cán bộ, đảng viên: Trung với nước hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; yêu thương, quý trọng con người; có tinh thần quốc tế trong sáng.

Ba là, những nguyên tắc, biện pháp xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng: Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức; tu dưỡng đạo đức suốt đời; xây dựng đạo đức đi đôi với chống lại những hiện tượng phi đạo đức.

Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng gồm 5 nguyên tắc: Nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; nguyên tắc tự phê bình và phê bình; nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh, tự giác; nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng.

2. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là nhà nước của dân, nhà nước do dân và nhà nước vì dân, được thể hiện ở những nội dung như sau:

Nhà nước của dân là tất cả mọi quyền lực nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân. Nhân dân lao động làm chủ nhà nước tất yếu dẫn đến hệ quả là nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước. Cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh.

Nhà nước do dân là nhà nước do dân tạo ra và nhân dân tham gia quản lý. Hồ Chí Minh khẳng định: Việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm "ghé vai gánh vác một phần".

Nhà nước vì dân là nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu. Tất cả đều vì lợi ích của nhân dân; ngoài ra, không có bất cứ một lợi ích nào khác. Một nhà nước vì dân là từ Chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đày tớ cho nhân dân. Mọi công chức, từ nhân viên đến Chủ tịch nước đều do dân ủy thác cho và phải phục vụ nhân dân.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam mới thể hiện ở các đặc điểm sau: (1) Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. (2) Nhà nước bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước. (3) Nguyên tác tổ chức và hoạt động cơ bản là tập trung dân chủ.

Xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ: Hoạt động quản lý nhà nước phải bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống. Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước dân chủ Việt Nam không thể thiếu pháp luật vì pháp luật là "bà đỡ" cho dân chủ. Dân chủ đích thực bao giờ cũng đi liền với kỷ cương, phép nước. Mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật; ngược lại, hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài bao gồm những yêu cầu sau: (1) Tuyệt đối trung thành với cách mạng. (2) Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ. (3) Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân. (4) Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, "thắng không kiêu, bại không nản". Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước.

2.2. Xây dựng Mặt trận dân tộc và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh để bảo đảm dân chủ trong xã hội

Đối với xây dựng Mặt trận dân tộc, Hồ Chí Minh quan niệm, trong việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam, cần chú trọng việc xây dựng Mặt trận với vai trò là liên minh chính trị tự nguyện của tất cả các tổ chức chính trị - xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển đất nước. Bởi "Mục đích phấn đấu của Mặt trận dân tộc thống nhất là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"[29]. Mặt trận dân tộc thống nhất là cơ sở chính trị - xã hội của Đảng, Nhà nước ta.

Đối với các đoàn thể chính trị - xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định:

"- Đoàn Thanh niên Lao động phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản".

- Công đoàn phải thật sự trở thành trường học quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và văn hóa của giai cấp công nhân nước ta.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ phải là lực lượng mạnh mẽ giúp Đảng động viên, tổ chức và lãnh đạo phụ nữ tiến lên chủ nghĩa xã hội"[30].

- Hội Nông dân có nhiệm vụ: "Làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giới mình, làm cho nông dân vào Hội nông dân cứu quốc cho đông để phấn đấu cho mục đích của mình và tích cực tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc"[31].

3. Đạo đức Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng

Hồ Chí Minh suốt một đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, quan tâm rèn luyện Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tấm gương mẫu mực của Người về phẩm chất, tư cách, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng được thể hiện nổi bật ở các điểm sau:

Một‌ ‌là, ‌tuân‌ ‌thủ‌ ‌các‌ ‌nguyên‌ ‌tắc‌ ‌tổ‌ ‌chức‌ ‌và‌ ‌sinh‌ ‌hoạt‌ ‌Đảng.‌ ‌

Là‌ ‌người‌ ‌thành‌ ‌lập, ‌rèn‌ ‌luyện‌ ‌và‌ ‌lãnh‌ ‌đạo‌ ‌Đảng,‌ Chủ‌ ‌tịch‌ ‌Hồ‌ ‌Chí‌ ‌Minh‌ ‌luôn‌ ‌gương‌ ‌mẫu, ‌trung‌ ‌thực,‌ ‌trách‌ ‌nhiệm,‌ ‌thực‌ ‌hiện‌ ‌nghiêm‌ ‌các‌ ‌nguyên‌ ‌tắc‌ ‌tổ‌ ‌chức,‌ ‌sinh‌ ‌hoạt‌ ‌Đảng,‌ ‌coi‌ ‌kỷ‌ ‌luật‌ ‌Đảng‌ ‌là‌ ‌kỷ‌ ‌luật‌ ‌nghiêm‌ ‌minh‌ ‌và‌ ‌tự‌ ‌giác,‌ ‌quan‌ ‌tâm‌ ‌đến‌ ‌việc‌ ‌thực‌ ‌hành‌ ‌dân‌ ‌chủ‌ ‌trong‌ ‌Đảng.‌ ‌Người‌ ‌xác‌ ‌định‌ ‌rõ‌ ‌trách‌ ‌nhiệm‌ ‌cá‌ ‌nhân,‌ ‌nêu‌ ‌cao‌ ‌tinh‌ ‌thần‌ ‌"phụ‌ ‌trách"‌ ‌trước‌ ‌Đảng,‌ ‌trước‌ ‌dân‌ ‌tộc‌ ‌và‌ ‌nhân‌ ‌dân.‌ ‌

Hai‌ ‌là,‌ ‌tấm‌ ‌gương‌ ‌luôn‌ ‌tự‌ ‌rèn‌ ‌luyện,‌ ‌trau‌ ‌dồi‌ ‌phẩm‌ ‌chất,‌ ‌năng‌ ‌lực,‌ ‌đạo‌ ‌đức,‌ ‌lối‌ ‌sống,‌ ‌tác‌ ‌phong‌ ‌của‌ ‌một‌ ‌đảng‌ ‌viên.‌ ‌

Khổ luyện, tiếp thu các giá trị văn hóa, tự hoàn thiện nhân cách, không ngừng học tập để có tri thức, nâng cao tầm trí tuệ, Hồ Chí Minh đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.

Rèn luyện, giữ vững đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tấm lòng nhân ái, thủy chung, son sắt; lối sống giản dị, thiết thực, hòa đồng, làm chủ bản thân và luôn hướng tới những chuẩn mực của chân, thiện, mỹ.

Rèn luyện để có tác phong gần dân, hiểu dân, vì dân; gương mẫu trong cuộc sống hàng ngày.

Chăm lo xây dựng Đảng ta thành một Đảng đạo đức, văn minh với những chuẩn mực được xây dựng từ mỗi tổ chức đảng cho đến từng cán bộ, đảng viên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là Đảng Cộng sản cầm quyền phải trong sạch, vững mạnh. "Đảng không phải chỉ đại biểu lợi ích của đảng viên, mà đại biểu lợi ích của toàn giai cấp công nhân, toàn thể dân tộc và loài người"[32]. "Đảng ta là một đảng cầm quyền... Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"[33].

Cán bộ, đảng viên cũng cần có phẩm chất yêu thương, quý trọng con người, phát huy truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc, sống có tình có nghĩa, "tối lửa tắt đèn có nhau". Hồ Chí Minh khẳng định: "Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa"[34].

4. Đạo đức Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị

4.1. Kết hợp đạo đức với pháp luật xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính phục vụ Tổ quốc và nhân dân có hiệu quả

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng đã xóa bỏ kiểu chính phủ cai trị dân của đế quốc, phong kiến. Nay Đảng phải xây dựng chính phủ kiểu mới hoạt động theo pháp luật và trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức cách mạng. "Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh"[35].

 Chính phủ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì phải liêm chính, biết làm việc. Được Quốc hội giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "Tuy trong quyết định không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết. Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà"[36].

Để xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động có hiệu quả, Người nêu rõ: "Cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân. "Quan tham vì dân dại". Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì "quan" dù không liêm, cũng phải hóa ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì"[37].

Nhà nước cần biết cách làm cho người dân thực sự có quyền lực, mở rộng dân chủ để dân tham gia hoạch định chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Hiến pháp nước ta cần có nội dung: "Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước"[38].

Để bộ máy nhà nước trong sạch, thật sự phục vụ nhân dân, mỗi công dân cần phải kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí và nâng cao cảnh giác đề phòng địch phá hoại. "Các cơ quan phụ trách cần phải nghiêm khắc ngăn ngừa tham ô, lãng phí và kịp thời thi hành kỷ luật đối với những kẻ ngoan cố không chịu sửa đổi"[39].

4.2. Định hướng xây dựng đạo đức trong Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể chính trị - xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ định hướng phấn đấu của các cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong Mặt trận và các đoàn thể, đó là: Cán bộ, đảng viên của Mặt trận phải thông suốt và thực hiện đúng chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời phải giải thích cho mọi người hiểu thật thấu và làm cho đúng. Phải đi đường lối nhân dân, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân.

"Công đoàn phải giáo dục cho công nhân về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng… công nhân phải hiểu mình là chủ xí nghiệp, chủ nước nhà, hiểu lao động là vẻ vang, phải giữ gìn của công, chống tham ô lãng phí, phải bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều, mau, rẻ. Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm"[40].

Hội Nông dân thì phải tổ chức nông dân thật chặt chẽ. Đoàn kết nông dân thật khăng khít. Huấn luyện nông dân thật giác ngộ. "Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc"[41].

Đoàn Thanh niên cần làm đầu tàu, làm gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu "Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm"[42]. "Nhiệm vụ của thanh niên là ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội"[43]. "Đoàn Thanh niên Lao động cần phải phụ trách: Việc tổ chức và giáo dục cho tốt các cháu nhi đồng, chuẩn bị cho các cháu ấy mai sau trở nên những đoàn viên tốt. Việc đẩy mạnh phong trào đời sống mới một cách thiết thực và liên tục, từ việc nhỏ đến việc to"[44].

Hội Phụ nữ thực hiện các nhiệm vụ là: (1) Thắt chặt mối đoàn kết giữa các tầng lớp phụ nữ trong nước, giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ các nước bạn cùng phụ nữ dân chủ thế giới. (2) Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. (3) Hăng hái tham gia chính quyền. (4) Giúp đỡ bộ đội. (5) Bảo vệ nhi đồng[45].

5. Phong cách Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh

 Để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng và phong cách lãnh đạo nêu gương cho cán bộ, đảng viên.

Về phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng, theo Người phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng là khiến cho cấp dưới và nhân dân cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên muốn đoàn kết, phục vụ nhân dân phải gần dân, được lòng dân, nghe theo dân. Lãnh đạo là dìu dắt nhân dân. Xa nhân dân thì không đoàn kết, lãnh đạo được nhân dân.

Về phong cách lãnh đạo nêu gương cho cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là một phong cách lãnh đạo nhân văn và hiệu quả. Là tấm gương sáng nhất, Người chỉ dẫn: Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. "Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo. Mà muốn cho quần chúng nghe theo lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ"[46].

Để làm cho bộ máy Nhà nước Việt Nam thật sự phục vụ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và phong cách ứng xử chân thành cho cán bộ, đảng viên.

Về phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, mỗi cá nhân, tập thể đều phải nêu cao nguyên tắc, xây dựng phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, mọi việc đều đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên, có như vậy mới phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về phong cách ứng xử chân thành cho cán bộ, đảng viên, theo đó, mỗi cá nhân cần phải học và làm theo phong cách ứng xử Hồ Chí Minh: Khiêm tốn, nhã nhặn, tôn trọng nhân dân. Chân tình, nồng hậu, tự nhiên với nhân dân như trong một đại gia đình. Xóa đi bức tường ngăn cách giữa cán bộ lãnh đạo với nhân dân. Từ đó, mới đoàn kết được toàn Đảng, toàn dân.

Toàn bộ hệ thống chính trị: Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm công tác tham mưu, thực hiện dân vận khéo, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

III. Bài học lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

1. Bài học về đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng

Thực tiễn cách mạng Việt Nam 90 năm qua là hiện thực sinh động khẳng định nội dung phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là một bài học, nguyên tắc căn bản trong đường lối cách mạng của Đảng. Sự đoàn kết, đồng lòng của cả dân tộc chính là nguồn lực mạnh mẽ đưa đất nước vượt qua nhiều thời điểm khó khăn, khắc nghiệt, để lại những dấu ấn hào hùng trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới toàn diện đất nước Đảng và Nhà nước ta tiếp tục nêu cao chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong một mặt trận thống nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tư tưởng "đại đoàn kết", "lấy dân làm gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt các kỳ Đại hội của Đảng, được coi là nhân tố quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Bài học về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Lịch sử phát triển Đảng trong những chặng đường qua đã cho thấy, Đảng ta với tư cách là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do vậy, Đảng và hệ thống chính trị phải thật sự trong sạch, vững mạnh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: "Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo[47].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra 6 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất: "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ"[48].

Cụ thể hóa nhiệm vụ trên, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; Nghị quyết Trung ương 6 về "Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ"; Quy định số 08-Qđi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương".

Bài học về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là bài học không bao giờ là cũ, được coi là nguyên tắc cốt tử đối với sự phát triển, tồn vong của Đảng. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, liên minh giai cấp công - nông - trí thức là lực lượng nòng cốt, hợp tác giữa công - nông - trí thức và doanh nhân là một động lực cho tăng cường, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" làm động lực phát triển, đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc tạo khí thế mới, động lực mới, quyết tâm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong thời gian qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị phải trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển, giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế.

Ba là, kết hợp giữa "xây" và "chống".  "Xây" là công việc thường xuyên, cơ bản, lâu dài, xuất phát từ nhu cầu không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho Đảng xứng đáng với vai trò lãnh đạo và trách nhiệm cầm quyền, Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân. "Chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, bởi trước tình trạng suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, phải có giải pháp đủ mạnh, xứng tầm để ngăn chặn, đẩy lùi, tạo môi trường cho phát triển bền vững.

 Bốn là, đi đôi với giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng phải tôn trọng, phát huy đầy đủ tính chủ động, tích cực của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị. Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định bảo đảm thành công của xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Năm là, huy động, lôi cuốn, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phải "đưa chính trị vào giữa dân gian"[49]. Có nhiều kênh phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trong đó cần đặc biệt coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.

 

Phần thứ hai

ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH NHẰM TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC; XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH ĐỂ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI

I. Những vấn đề đặt ra về đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay

1. Những vấn đề đặt ra về đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực hiện đường lối đổi mới đúng quy luật, đầy sáng tạo, hợp lòng dân do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, nhân dân ta đã vượt qua bao khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển và bước vào hàng ngũ những nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên gấp nhiều lần.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cùng với sự chuyển hóa của các giai cấp và tầng lớp xã hội, xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp nhân dân… Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang tiếp tục khai thác những thiếu sót, yếu kém của đất nước ta hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, tuy đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường, song chưa thật sự vững chắc và đang đứng trước những thách thức không thể xem thường.

Bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng trở nên sống động và mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng.

Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên,  trước hết là các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc mà Mặt trận dân tộc đề xướng. Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp đã quy định. Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của toàn dân.

2. Những vấn đề đặt ra về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới. Trên cơ sở kiên trì các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, công tác xây dựng Đảng được tiến hành trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Tổ chức đảng và hệ thống chính trị có bước đổi mới quan trọng, từ thể chế, tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành, đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược; chỉnh đốn lề lối, tác phong công tác; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Tuy nhiên, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cũng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm: Năng lực dự báo, định hướng chính sách, thể chế hóa, cụ thể hóa để tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, còn khoảng cách với đòi hỏi của thực tiễn. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng chưa cao …

Hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp.

II. Một số nhiệm vụ giải pháp cụ thể

1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu và của cả hệ thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Các cấp ủy đảng và người đứng đầu tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc về công tác dân vận, công tác mặt trận và các đoàn thể[50]. Đưa nội dung lãnh đạo các công tác này thành một trong những tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng các cấp.

 Các cấp ủy đảng và người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Thực hiện triệt để Quy định số 101 của Ban Bí thư khóa XI về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 08 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương". Cán bộ, đảng viên phải xung phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để nhân dân học và làm theo.

2. Nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

Tập trung vào các vấn đề: toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi, làm giàu hợp pháp; từng gia đình làm giàu cho mình, cho cộng đồng, cho đất nước, xóa đói, giảm nghèo, phấn đấu hằng năm có thêm nhiều địa phương không còn hộ nghèo; tiếp tục thực hiện tốt phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và tích cực tham gia ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn, sự xuống cấp đạo đức trong xã hội.

Tôn vinh người tốt, việc tốt; bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Lên án, phê phán, đấu tranh chống tệ quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, những hành động coi thường kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật.

3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở. Phát huy quyền chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong công tác vận động nhân dân phù hợp với đặc điểm từng giai tầng, dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, ngành nghề ở địa phương, cơ sở.

Phát huy vai trò tư vấn của tổ chức tư vấn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện tốt quy định về giám sát và phản biện xã hội, chủ động tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

4. Tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm công tác dân vận.

Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, các quy chế phối hợp công tác giữa Ủy ban nhân dân với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị -xã hội các cấp nhằm phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân. Thực hiện tốt phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

Nhà nước đảm bảo kinh phí và điều kiện hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện những nhiệm vụ được giao nhằm phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội.

5. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần tham gia tuyên truyền sâu rộng để mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Từ đó, tạo sự chuyển biến tốt trong nhận thức, nâng cao tinh thần cảnh giác, nhạy bén nhận diện và tích cực tham gia đấu tranh với những thông tin quan điểm sai trái, thù địch.

 

KẾT LUẬN

"Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" là nội dung tư tưởng, chính trị và giải pháp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng nhằm phát huy sức mạnh nội lực, tạo động lực cho công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, của dân tộc.

Một nửa thế kỷ đã qua từ khi Bác đi xa, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn luôn đồng hành cùng Đảng, dân tộc và cách mạng Việt Nam; soi sáng, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đạt nhiều thành tựu to lớn.

Đẩy mạnh hơn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người nhằm tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh vừa là trách nhiệm vừa là tình  cảm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của mỗi tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể các cấp, của mỗi người dân chúng ta đối với Bác Hồ - vị Cha kính yêu của dân tộc./.

Trần Cương

                                                                                     Ban Tuyên giáo Huyện ủy


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.178-179.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.49.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.624.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.576.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.379-380.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.453.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.362.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.280-281.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.484.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.382-383.

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611.

[13] Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2012, tr.44.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.558.

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.396.

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.256.

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.368.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16, 130-131.

[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16, 130-131.

[20] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[22] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[23] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611.

[24] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.280-281.

[25] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.228.

[26] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.495.

[27] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309, 313.

[28] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309, 313.

[29] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.452.

 

[30] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.420.

[31] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.249.

[32] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.290.

[33] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611-612.

[34] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668.

[35] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.21.

[36] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.478.

[37] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127.

[38] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.374.

[39] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.298.

[40] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.477-480.

[41] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.248.

[42] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90, 89.

[43] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90, 89.

[44] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90.

[45] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.340.

[46] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.55.

[47] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.89.

[48] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.217.

[49] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.338.

[50] Ví dụ như Nghị quyết số 23-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện các nghị quyết này.

09/02/2020 9:00 CHĐã ban hành
Mỹ Thạnh Bắc quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020Mỹ Thạnh Bắc quán triệt, học tập Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020
 Vừa qua sáng ngày 06/02/2020, Đảng ủy xã Mỹ Thạnh Bắc tổ chức hội nghị học tập, quán triệt chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

IMG_20200208_200128.jpg 

Ảnh: Quang cảnh hội nghị học tập

Tham dự buổi học tập có gần 100 đảng viên thuộc Đảng bộ xã. Thông qua hình thức xem video, các đại biểu được nghe GS.TS Hoàng Chí Bảo - nguyên Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh báo cáo nội dung chuyên đề "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh".

Chuyên đề học tập nhằm nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về nội dung cơ bản, giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tiếp tục đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người trở thành nền nếp, gắn với thực hiện nghị quyết TW4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Chuyên đề năm 2020 về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách  Hồ Chí Minh" gồm 2 phần chính:

Phần thứ nhất: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Phần thứ hai: Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới.

Sau khi học tập, nghiên cứu chuyên đề, mỗi cán bộ đảng viên, công nhân viên chức  sẽ viết bài thu hoạch tự liên hệ bản thân và đề ra phương hướng phấn đấu làm theo trong thời gian tới.

Nguyễn Tấn Phát 

07/02/2020 9:00 CHĐã ban hành
Bác Hồ với vấn đề vệ sinh phòng bệnhBác Hồ với vấn đề vệ sinh phòng bệnh
Trong những dịp tiếp xúc với quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên, trong hoàn cảnh kháng chiến cũng như trong hoà bình, nhất là những khi nói đến công cuộc xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, dường như bao giờ Người cũng đề cập đến vấn đề sức khoẻ, đến giữ gìn vệ sinh - một biện pháp đơn giản, phổ cập và quan trọng của hoạt động y tế, theo phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh.

 Người nhắc nhở "Mọi người phải chú ý giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ". Người chỉ rõ: "Mình dù nghèo, ai cấm mình ǎn ở sạch sẽ. .. Sạch sẽ thì ít đau ốm. Sức khoẻ thì làm việc...". Người thường xuyên yêu cầu: "Phải rất chú ý việc vệ sinh".

Trong 12 điều rǎn cán bộ, Người cǎn dặn: "... phải dạy đồng bào vệ sinh thường thức". Phát động phong trào đời sống mới, nội dung chủ yếu được Người nêu ra cũng là giữ gìn vệ sinh. Người luôn luôn đề cao trách nhiệm của mọi người trong công tác vệ sinh phòng bệnh, luyện tập thể dục để chủ động giữ gìn và nâng cao sức khoẻ. Và cho đến những dòng cuối cùng để lại trước lúc đi xa, khi nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế, Người cũng đề cập đến "phát triển công tác vệ sinh, y tế". 

Đã thành một nét riêng, khi Người trong lần đến thǎm một đơn vị nào đó, Người đi từ bếp lên nhà; đến làm việc ở một cơ quan nào đó, Người đi kiểm tra khu nhà ǎn, khu vệ sinh trước rồi mới lên chỗ hội họp, đến vǎn phòng. Thǎm hỏi một gia đình công nhân hay một gia đình nông dân hoặc tới thǎm một khu tập thể, Người cũng thường như vậy - trước hết xem xét nơi ǎn, chốn ở, nhà bếp, nguồn nước, nhà tắm, hố xí và dǎn dò mọi người ǎn ở trật tự, vệ sinh. Quan sát với một sự quan tâm sâu sắc nơi ǎn, chốn ở, nơi thuộc vào đoạn cuối của quá trình sinh hoạt, nơi đặc biệt cần phải giữ vệ sinh mà thường khi người ta hay coi nhẹ, Bác Hồ của chúng ta như một vệ sinh viên vĩ đại, khi khen ngợi, động viên, lúc hướng dẫn, nhắc nhở nhân dân sống cho hợp vệ sinh, giữ cho bền sức khoẻ...

 Cứ vậy, giản dị và sâu sắc, thiết thực và dễ hiểu, cụ thể mà bao quát, Bác Hồ của chúng ta nói đến những gì cơ bản, thiết thực, những vấn đề và những việc làm khi được nêu ra ai cũng thấy cần, ai cúng hiểu được, cũng làm được, càng thấy phải làm thường xuyên cho sức khoẻ bản thân và vì sức khoẻ cộng đồng. Người, một vị Chủ tịch nước mà rất đỗi sâu sát thực trạng ǎn, mặc, ở của quần chúng nhân dân, bằng ngôn ngữ của quần chúng, bằng tục ngữ, đã làm cho nhân dân hiểu sâu một lẽ rất đời thường: thực hiện vệ sinh để sức khoẻ cũng như luyện tập thể dục để bồi bổ sức khoẻ là việc không tốn kém, khó khǎn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được.

 Có lẽ hiếm thấy một vị lãnh tụ nào của Đảng ta lại nhiều lần đề cập đến vấn đề giữ gìn vệ sinh như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đặt vấn đề: "Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết. Từ đó Người dẫn dắt nhận thức cho nhân dân về vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh yêu nước. Người phân tích ruồi muỗi là thứ bé nhỏ, dễ làm cho người ta chủ quan khinh địch. Nó bé nhỏ nhưng độc ác mà hàng triệu cái hại nhỏ, cộng lại sẽ thành cái to. Ruồi muỗi là bạn đồng minh của giai cấp bóc lột. Nó gây ra nhiều tật bệnh, làm cho nhân dân ta ốm đau. Người ốm đau thì sức lao động bị giảm sút, công cuộc phát triển kinh tế và vǎn hoá bị hạn chế. Vì vậy chúng ta phải ra sức tiêu diệt những kẻ địch độc ác là ruồi muỗi, để tiêu diệt bệnh tật, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Người làm phát triển nhận thức trong nhân dân về ý nghĩa chính trị, xã hội của giữ gìn vệ sinh, về giá trị lớn lao của vệ sinh yêu nước. Người khơi động trong nhân dân ý thức tự giác và lòng hǎng hái, tinh thần quyết tâm thực hiện vệ sinh yêu nước: "Không nên chủ quan, cho việc diệt ruồi muỗi là một việc nhỏ, dễ làm, chỉ quan hệ đến vệ sinh mà thôi. Nó có ý nghĩa chính trị nữa, có quan hệ đến kinh tế và vǎn hoá. Chắc bà con còn nhớ trước đây bọn thực dân Pháp gọi chúng ta là nòi giống bẩn thỉu. Nhân dân ta đã đuổi được thực dân Pháp, thì phải tiếp tục phấn đấu để tiêu diệt nốt cả bạn đồng minh của chúng là ruồi muỗi. Người yêu cầu phải kết hợp việc tiêu diệt ruồi muỗi với những công tác vệ sinh khác như diệt chuột, quét dọn nhà cửa, đường sá, lấp các vũng nước bẩn, v.v... Về phương pháp tiến hành Người chỉ ra:

 Phải phát động quần chúng, dựa vào lực lượng của quần chúng; Phải lãnh đạo chặt chẽ, đôn đốc và kiểm tra thường xuyên. Phải có quân chủ lực... Phải có trọng điểm như nhà thương, trường học, doanh trại, nhà máy, hàng quán, chợ búa, nơi đông người... 

Những điều Người chỉ ra quá đỗi cụ thể và thiết thực. Không chỉ với ngày ấy, mà đối chiếu với thực trạng vệ sinh ở nhiều thành phố, bản làng hiện nay, khi mà tốc độ đô thị hoá rất nhanh mà quản lý hành chính ở nhiều nơi bất cập; trong khi vệ sinh thực phẩm, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường ở nơi này nơi khác chưa được lãnh đạo và quản lý thực hiện tốt, chúng ta càng thấy những điều Người nêu về vệ sinh phòng bệnh vấn đầy tính thời sự. Những quan tâm sâu sát, cụ thể và thiết thực của Người vẫn luôn là kiểu mẫu cho cán bộ các cấp noi theo trong việc bảo vệ, chǎm lo cho sức khoẻ của nhân dân. Thực hiện vệ sinh theo tư tưởng của Người là thực hiện một phương châm cơ bản phòng bệnh hơn chữa bệnh.

Gia Khánh

Nguồn Bộ Y Tế; NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997

 

05/02/2020 11:00 SAĐã ban hành
Hồ Chí Minh với xây dựng Đảng chân chính cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đứcHồ Chí Minh với xây dựng Đảng chân chính cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đức
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về đảng cộng sản-đảng cách mạng chân chính theo học thuyết đảng kiểu mới của Lênin và đảng cộng sản cầm quyền có một vị trí nổi bật, có vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

bac ho.jpg 

Bác Hồ làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch (năm 1957). Ảnh tư liệu

Sau 10 năm đầu trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước (kể từ năm 1911), năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Việt Nam, là người đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, khi mới 30 tuổi. Cũng năm 1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc được đọc tác phẩm của Lênin về "Quyền tự quyết của các dân tộc" qua bản tiếng Pháp, tạo nên bước ngoặt nhận thức trong cuộc hành trình tư tưởng của Người. Sau này, khi hồi tưởng lại, Người đánh giá, tư tưởng Lênin đã rọi sáng cho Người, giúp Người nhận ra "đây là cái cẩm nang thần kỳ, là con đường giải phóng cho chúng ta, là con đường cứu sống chúng ta". 

Mười năm sau, năm 1930, ở tuổi 40, Người sáng lập Đảng ta với tên gọi "Đảng Cộng sản Việt Nam". Người trực tiếp soạn thảo Chính cương, Sách lược của Đảng, Điều lệ Đảng và thư gửi quốc dân đồng bào nhân sự kiện Đảng ra đời, kêu gọi đồng bào đoàn kết xung quanh Đảng, đi theo con đường cách mạng mà Đảng vạch ra. 

Trước đó, tại Quảng Châu (Trung Quốc), vào năm 1927, Người viết tác phẩm "Đường cách mệnh", đặt nền móng tư tưởng lý luận, đồng thời chuẩn bị về chính trị và tổ chức cho Đảng ra đời. Tác phẩm quan trọng này được viết sau Cách mạng Tháng Mười Nga đúng 10 năm, khi Người đã là một người Mác-xít, đã giác ngộ chủ nghĩa Lênin, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu chân lý của thời đại mới dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và từ thực tiễn xây dựng nước Nga Xô viết trong buổi đầu áp dụng "Chính sách kinh tế mới" (NEP) của Lênin. Người khẳng định trong tác phẩm "Đường cách mệnh": "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin".

Do vậy, khi xác định "tư cách của một người cách mệnh", Người đặc biệt nhấn mạnh "phải giữ chủ nghĩa cho vững" và phải "ít lòng tham muốn về vật chất". Từ đây cho chúng ta thấy, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng Mác-xít kiên định, suốt đời đi theo lý tưởng, mục tiêu cộng sản chủ nghĩa, trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Song, Người là một nhà Mác-xít sáng tạo, chứ không giáo điều. Người trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, không chỉ vận dụng mà còn phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới. Vốn sống và kinh nghiệm mà Người tích lũy được trong 30 năm tìm đường cứu nước (1911-1941), với hoạt động thực tiễn phong phú của Người trong phong trào công nhân và lao động ở châu Âu và phương Tây, cũng như thực tiễn gần 30 năm Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, kể từ khi Người về nước cho đến khi Người qua đời (1941-1969), thực sự là trường học vĩ đại-trường học của cuộc sống lao động-học tập và tranh đấu, rèn đúc nên cốt cách và bản lĩnh của một nhà cách mạng chân chính, nhà Mác-xít hiện đại Hồ Chí Minh.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng chân chính cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đức-đạo đức cách mạng. Đây là đóng góp quan trọng nổi bật của Hồ Chí Minh vào lý luận đảng cầm quyền. Theo Hồ Chí Minh, Đảng phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Đảng phải là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Người đòi hỏi Đảng và từng tổ chức đảng, cán bộ và đảng viên phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu để thực sự là những tấm gương sáng cho quần chúng tin tưởng, noi theo.

Theo Hồ Chí Minh, muốn vậy Đảng phải nêu cao tính kỷ luật, tinh thần đoàn kết, có sức chiến đấu. Đảng phải tỏ rõ bản lĩnh của một đảng cách mạng, đảng chiến đấu, đảng hành động. Nguyên tắc cốt tử của Đảng là tập trung dân chủ và Người cũng thường nhấn mạnh dân chủ tập trung, bảo đảm lãnh đạo tập thể gắn liền với cá nhân phụ trách. Kỷ luật của Đảng phải thật nghiêm minh, là "một thứ kỷ luật sắt", thống nhất ý chí và hành động, dựa trên sự tự giác của mỗi đảng viên.

Một trong những luận điểm quan trọng của Người về Đảng chân chính cách mạng là thái độ và hành động của Đảng trước những khuyết điểm, sai lầm mà Đảng và cán bộ đảng viên có thể mắc phải. Đảng phải tỏ rõ thái độ dũng cảm và tính phê phán nghiêm túc, trung thực mà sâu xa là trách nhiệm của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng, đối với cuộc sống của nhân dân.

Là một nhà tư tưởng Mác-xít sáng tạo đầy bản lĩnh, là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh có những đóng góp ở tầm phát kiến về lý luận xây dựng đảng cộng sản cầm quyền, làm sâu sắc và phong phú thêm lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Chỉ riêng "12 điều xây dựng Đảng cách mạng chân chính" mà Người nêu ra trong "Sửa đổi lối làm việc" từ năm 1947 đã là sự tiếp nối, sự phát triển hợp lô-gíc những tư tưởng của Người về Đảng trong "Đường cách mệnh", năm 1927. Các tác phẩm Người viết năm 1949, cách đây hơn 70 năm, như: "Đảng ta", "Cần kiệm liêm chính", "Dân vận"… cho thấy Người đã nhạy cảm và sâu sắc như thế nào khi bàn tới nội dung xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng Đảng về đạo đức. Cho đến Di chúc (1965-1969) và tác phẩm lý luận cuối cùng của Người, được công bố đúng vào dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1969) "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", thì sự quan tâm của Người về đạo đức trong Đảng càng nổi bật.

Trong hàng ngũ các lãnh tụ cộng sản, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh là người quan tâm nổi bật nhất và có những kiến giải hệ thống nhất về xây dựng đảng cộng sản cầm quyền, cũng là người nhấn mạnh nhiều nhất về đạo đức cách mạng của Đảng, của cán bộ đảng viên và xây dựng Đảng về đạo đức, từ đó đề cập tới văn hóa của Đảng, nhất là của đảng cộng sản cầm quyền.

Vận dụng những tư tưởng quý báu đó của Người vào thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, chúng ta cần bảo đảm sự thống nhất hữu cơ, chỉnh thể trong nhận thức và hành động, gắn liền tư tưởng với đạo đức và phong cách, giữa lý luận với thực tiễn; đặc biệt chú trọng thực hành. Cần quán triệt và thể hiện sáng tạo những chỉ dẫn của Người trong công tác lãnh đạo của Đảng. Theo đó, lãnh đạo một cách khoa học, trên cơ sở khoa học và trình độ khoa học cao. Đảng phải đặc biệt tỏ rõ vai trò tiên phong về lý luận. Đảng lãnh đạo bằng sự gương mẫu, nêu gương. Đây là cách lãnh đạo tốt nhất, hợp với ý nguyện, lòng dân nhất, có tác dụng thúc đẩy tốt nhất đối với quần chúng-lãnh đạo bằng sức mạnh của đạo đức cách mạng, đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, để toàn tâm toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng lãnh đạo và cầm quyền một cách dân chủ, nêu cao tính chiến đấu, trên tinh thần tôn trọng pháp luật của nhà nước pháp quyền và Điều lệ Đảng. Chỉ như vậy mới bảo đảm hiệu quả lãnh đạo và uy tín ảnh hưởng sâu rộng của Đảng trong xã hội.

Sự hài lòng của người dân, niềm tin của người dân với Đảng, với chế độ là thước đo quan trọng nhất mà Đảng và mọi cán bộ đảng viên trong toàn Đảng phải tự ý thức, phải phấn đấu đạt được trong công tác, lối sống và mỗi lời nói, việc làm cụ thể.

Gia Nguyên

Nguồn tuyengiao.vn

30/01/2020 9:00 SAĐã ban hành
Bài thơ Bác viết Xuân Canh TýBài thơ Bác viết Xuân Canh Tý
Sinh thời, mỗi mùa xuân mới, Bác Hồ đều có thơ chúc tết đồng bào và chiến sỹ cả nước. Mỗi bài thơ một vẻ riêng, nhưng đều gắn lời chúc mừng đầu xuân với lời dặn dò nhắn nhủ, như lời hiệu triệu cả nước thực hiện nhiệm vụ cách mạng.

img_20200107100535 bac.jpg 

Ảnh tư liệu

Như năm Tân Mão 1951, Bác kêu gọi Toàn dân hăng hái một lòng/Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời. Năm Kỷ Dậu 1969, lời kêu gọi đầy thiết tha, giục giã: Tiến lên! chiến sỹ đồng bào/Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn. Bài thơ Bác viết Xuân Canh Tý 1960 là một bài thơ như thế:

Mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh!

Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!

Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,

Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,

Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.

Cả nước một lòng, hăng hái tiến lên,

Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!

Bài thơ viết lúc Nhà nước ta tròn 15 xuân xanh, Đảng ta tròn 30 tuổi trẻ. Ngay những câu thơ đầu, Bác dùng liên tục các câu mừng, chúc với dấu câu cảm thán cho thấy một tâm hồn phấn khởi, một giọng thơ hào sảng, phơi phới, tự hào.

Không tự hào sao được, khi một Đảng 30 tuổi đã lãnh đạo nhân dân cả nước đứng lên đánh đuổi thực dân phong kiến, thành lập nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực. Hơn thế nữa, đã lãnh đạo nhân dân cả nước làm nên một chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Không tự hào sao được, khi Nhà nước mới 15 xuân xanh đã hiên ngang đĩnh đạc với nhiều quốc gia hùng mạnh trên bàn hội nghị quốc tế Giơ ne vơ. Trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp rất căng thẳng, Hiệp định về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương..

Vẫn là lời chúc xuân quen thuộc, bài thơ chúc đồng bào cả 2 miền hoàn thành nhiệm vụ xây dựng XHCN ở miền Bắc  và đánh thắng giặc Mỹ ở miền Nam. Những "bền bỉ, vững bền mạnh mẽ" như lời thủ thỉ, lời căn dặn ân cần trong một gia đình lớn.

Hai câu cuối Cả nước một lòng, hăng hái tiến lên, Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ! chính là lời kêu gọi, là hiệu lệnh của người lãnh tụ, về việc sẽ mở màn một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bởi ta biết, những năm 1957 - 1959, Mỹ và tay sai tăng cường dùng bạo lực khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng. Tháng 5/1959, chính quyền Sài Gòn ra Luật 10 - 59, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, làm cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề. Đảng ta chủ trương con đường cách mạng bạo lực, chuyển cách mạng miền Nam tiến lên đấu tranh vũ trang, tạo thành cao trào cách mạng khắp miền Nam. Đặc biệt, mùa xuân năm 1960, phong trào "Đồng khởi" bắt đầu nổ ra ở huyện Mỏ Cày, sau đó nhanh chóng lan ra toàn tỉnh Bến Tre, phá vỡ từng mảng lớn chính quyền của địch. Thắng lợi của "Đồng khởi" dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sau đó, đánh dấu bước ngoặt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên làm chiến tranh cách mạng, mở ra thời kỳ khủng hoảng của chế độ Sài Gòn.

Vì vậy, 2 câu thơ cuối bài được xem như một hồi kèn xung trận đầu xuân, thúc giục cả nước bước vào giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, nỗ lực vì nhiệm vụ thống nhất non sông.

Xuân Canh Tý này đọc lại bài thơ Bác viết xuân Canh Tý năm ấy, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn tư tưởng, trí tuệ, tình cảm của nhà chính trị, nhà quân sự, nhà thơ Hồ Chí Minh. Từ đó thấm thía thêm bổn phận của những người đi sau trong việc giữ gìn thành quả cách mạng mà cha anh đã phải dùng máu xương giành được.

Gia Khánh

Nguồn hochiminh.vn

25/01/2020 11:00 SAĐã ban hành
Mùa xuân của tuổi trẻMùa xuân của tuổi trẻ
Với tinh thần xung kích, năng động, sáng tạo, nhiều đảng viên viết nên câu chuyện mùa xuân của tuổi trẻ bằng nhiều việc làm tốt đẹp. Họ xứng đáng là những đảng viên trẻ tiêu biểu làm theo lời Bác, có những ý kiến, giải pháp sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, đi đầu trong phong trào đoàn kết, tập hợp thanh niên (TN) ở địa phương, đơn vị...

101 baotran.jpg 

Ảnh: Đảng viên Lê Thị Bảo Trân

Đảng viên trẻ Lê Thị Bảo Trân - cán bộ Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Công an tỉnh, được biết đến là 1 trong 392 đảng viên trẻ tiêu biểu toàn quốc được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tuyên dương nhân dịp tổng kết hoạt động cao điểm "Tuổi trẻ Việt Nam nhớ lời Di chúc theo chân Bác" và phát động đợt hoạt động "Tuổi trẻ Việt Nam sắt son niềm tin với Đảng".

27 tuổi, Bảo Trân được thử thách qua nhiều vị trí công tác khác nhau và luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Lúc đảm nhận vai trò Phó Bí thư Chi đoàn Công an huyện Đức Huệ, Bảo Trân khởi xướng nhiều phong trào, thu hút nhiều đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) tham gia. Đặc biệt, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ, nữ cán bộ công an vận động mạnh thường quân hơn 400 triệu đồng thực hiện hoạt động an sinh xã hội: Xây tặng 2 căn nhà đồng đội, 1 căn nhà tình bạn và nhiều suất học bổng tặng học sinh nghèo, vượt khó học giỏi,... Bên cạnh đó, Bảo Trân còn duy trì, nâng chất nhiều công trình TN mang lại hiệu quả thiết thực như TN Công an huyện Đức Huệ trực tiếp làm giấy chứng minh nhân dân tại nhà cho những người già yếu, bệnh tật, không đi lại được; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ĐVTN, học sinh các trường trên địa bàn huyện;...

2 năm công tác tại Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy, Công an huyện Đức Huệ (năm 2017, 2018), Bảo Trân lập và xử lý 233 hồ sơ vi phạm hành chính, quản lý 906.768 bao thuốc lá ngoại các loại, 96 chai rượu ngoại, 59 bao đường cát, 271 thùng nước ngọt cùng nhiều tang vật, phương tiện khác; hỗ trợ xác minh, tham mưu Ban Chỉ huy Công an huyện, Chủ tịch UBND huyện và Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 56 đối tượng. 

Bí thư Huyện đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp TN Việt Nam huyện Cần Giuộc - Trần Hải Phú là 1 trong 15 gương mặt đảng viên tiêu biểu xuất sắc đại diện cho hơn 10 triệu cán bộ, hội viên, TN Việt Nam vinh dự được nhận Giải thưởng "15 tháng 10" nhân dịp kỷ niệm 63 năm Ngày Truyền thống Hội Liên hiệp TN Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2019). Thành tích nổi bật của anh là phát huy được vai trò cán bộ Đoàn, Hội, đảng viên trẻ trong việc đoàn kết, tập hợp TN; thành lập nhiều mô hình hay, công trình thiết thực, hiệu quả, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

 102 hai phu.jpg

Ảnh: Đảng viên Trần Hải Phú

Là thủ lĩnh Đoàn hoạt bát, năng động, sáng tạo, anh mạnh dạn tham mưu thực hiện mô hình Cà phê sách, góp phần làm tốt công tác đoàn kết, tập hợp TN ở địa phương có nhiều khu, cụm công nghiệp. Đặc biệt, đây còn là nơi ĐVTN có thể gặp gỡ, giao lưu với các doanh nhân thành đạt, từ đó truyền cảm hứng sáng tạo, khởi nghiệp, cống hiến trong giới trẻ; tạo việc làm ngoài giờ cho nhiều ĐVTN ở địa phương cũng như tạo không gian vui chơi miễn phí cho trẻ em,…

Song song đó, Hải Phú còn nghiên cứu, đổi mới cách thức hoạt động của mô hình Tủ áo tình thương, góp phần thu hút đông đảo ĐVTN và người dân tham gia. Mô hình này hoạt động thứ năm hàng tuần tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cần Giuộc và di chuyển luân phiên về các xã, thị trấn trong huyện.Mỗi đợt, tủ áo trao tặng 200kg quần áo, vật dụng cá nhân cho hộ nghèo, gia đình gặp khó khăn trong cuộc sống. Đồng thời, anh luôn đồng hành với TN nông thôn trên bước đường lập thân, khởi nghiệp; tuyên truyền, nhân rộng các mô hình TN làm ăn hiệu quả như Hợp tác xã Tâm - Nông - Việt (trồng dưa lưới trồng nhà kín), nuôi heo rừng, nuôi tôm, đồ gỗ mỹ nghệ, trồng lan, nuôi dê, hoa sứ,... 

Để phát huy tinh thần đoàn kết, tập hợp TN trên địa bàn, Hải Phú khuyến khích các bạn trẻ sử dụng mạng xã hội để kết nối, lan tỏa những hành động đẹp. Đến nay, 30/30 cơ sở Đoàn của huyện sử dụng mạng xã hội thu hút gần 25.000 ĐVTN, góp phần thực hiện hiệu quả các hoạt động công tác Đoàn và phong trào TN ở địa phương. 

Với lòng nhiệt huyết của đảng viên trẻ, Hải Phú đưa hoạt động Đoàn, Hội của huyện luôn nằm trong tốp đầu của tỉnh. Đặc biệt, từ năm 2016 đến nay, tập thể Ủy ban Hội Liên hiệp TN Việt Nam huyện được tỉnh công nhận là đơn vị vững mạnh, xuất sắc.

Các gương mặt tiêu biểu như Lê Thị Bảo Trân, Trần Hải Phú là những điển hình đảng viên trẻ làm theo lời Bác. Những thành tích, sáng kiến của họ sẽ được nhân rộng trong các chương trình, phong trào hành động cách mạng của ĐVTN trong tình hình mới.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online

24/01/2020 11:00 SAĐã ban hành
Nhớ về Bác trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộcNhớ về Bác trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộc
Tết đến, Xuân về, trong không khí của mùa Xuân Canh Tý 2020, mỗi người dân đất Việt lại nhớ về Bác, nhớ về trái tim bao la nhân ái "nâng niu tất cả, chỉ quên mình" của Người luôn dành hết thảy cho đồng bào và chiến sĩ cả nước nói chung, nhân dân Hà Nội nói riêng, nhất là ở vào thời khắc đất trời chuyển sang Xuân.

 nho-ve-bac-trong-nhung-ngay-tet-co-truyen-cua-dan-toc.jpg

Phút Giao thừa là lúc chúng ta nhớ Bác hơn mọi thời khắc​

Tết Nhâm Ngọ năm 1942, lần  thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Tết cổ truyền ở quê nhà sau những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước. Đón Xuân mới, Người viết bài thơ "Mừng Xuân năm 1942" đăng trên Báo "Việt Nam độc lập" số 114, ra ngày 1/1/1942 và chúc:

"Năm cũ qua rồi, chúc năm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc trong năm này,

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Năm này là năm rất vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới".

Tết Bính Tuất năm 1946 là Tết độc lập đầu tiên, có lẽ là Tết lòng Người hoan hỉ nhất. Chiều 30 Tết, tại Bắc Bộ phủ, nữ thi sĩ Ngân Giang tặng Người bức thêu bằng lụa đỏ, thêu bài thơ thất ngôn bát cú, nhan đề Kính tặng các bậc Anh hùng dân tộc. Người làm hai câu thơ tặng lại: "Gửi lời cảm tạ Ngân Giang/Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu". Tối 30 Tết, trong niềm vui của Tết độc lập đầu tiên, Người đi chúc Tết gia đình ông Từ Lâm, bán sách cũ ở Cửa Nam; một gia đình nghèo ở ngõ Hàng Đũa, nay là ngõ Lương Sử C; một gia đình buôn bán ở phố Phúc Kiến, nay là phố Lãn Ông; một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng, nay là phố Lê Duẩn và thăm Cố vấn Vĩnh Thuỵ.

Đêm 30, Người và một nhà báo Mỹ cải trang đến thăm đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân Hà Nội đón khoảnh khắc Giao thừa thiêng liêng đất trời chuyển giao từ năm cũ sang năm mới. Sáng mùng một Tết Bính Tuất, 7 giờ 30, Người sang nơi làm việc. Trên đường đi, Người ghé thăm và chúc Tết Sở Cảnh sát Trung ương ở phố Hàng Trống. Sau đó, Người đến Nhà hát Thành phố chúc Tết đồng bào và đọc lời Chúc mừng năm mới. Trước khi ra về, Người ra bao lơn Nhà hát vẫy chào đồng bào mít tinh trên Quảng trường. Buổi trưa, Người dự tiệc tại Bắc Bộ phủ cùng anh em Vệ quốc đoàn. 14 giờ, Người đến thăm thương, bệnh binh Pháp tại Bệnh viện Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Quân y 108) và Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức). 16 giờ, Người đến Ấu trĩ viên chia kẹo và ăn Tết cùng các cháu nhi đồng rồi trở lại nơi làm việc và sau đó về nhà.

Ngày mùng 2 Tết, Người đến thăm "Phiên chợ mười ngày" tổ chức tại Chùa Láng (xã Yên Lăng, huyện Từ Liêm, Hà Nội); tại đó, Người nói về ý nghĩa của "Ngày Nam Bộ kháng chiến", biểu dương nhân dân Hà Nội đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, sốt sắng tham gia phong trào ủng hộ đồng bào Nam Bộ chống Pháp và chúc toàn thể nhân dân hưởng Tết độc lập đầu tiên vui vẻ, hạnh phúc và tiết kiệm.

Tết Đinh Hợi năm 1947 là Tết của những quyết định lịch sử. Tối 19/12/1946, trong khi đồng bào và chiến sĩ cả nước chuẩn bị đón Tết kháng chiến đầu tiên, bộ chỉ huy tối cao của dân tộc đứng đầu là Người cũng đang họp bàn về vận nước tại Vạn Phúc (Hà Tây) - cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội (nay là Hà Nội). Đêm 30 Tết, mặc dù trời mưa rét, Người đã họp phiên tất niên cùng Hội đồng Chính phủ tại Phủ Quốc Oai. Sát cánh cùng Người và các vị Bộ trưởng trong không khí chuẩn bị đón Giao thừa là một vị Thượng thư của triều Nguyễn và một vị Giám mục của Giáo hội Thiên chúa giáo, cùng một câu nói rất Hồ Chí Minh, đậm đà bản sắc dân tộc Việt, đó là: "Tôi chỉ lo hai cụ không đến được. Hôm nay có mặt thế này là thắng lợi! Đại thắng lợi!"[1]. Sau khi gửi những lời chúc mừng năm mới đến các vị tham dự cuộc họp, Người đã thông báo vắn tắt tình hình chiến trường và những thành tích mà nhân dân ta đã giành được trong năm qua. Trước khi phiên họp đêm tất niên kết thúc, mọi người đều được nghe bài thơ chúc Tết Đinh Hợi của Người.

Đêm khuya, Người rời Quốc Oai đến chùa Trầm, đọc thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước; khẳng định niềm tin tất thắng vào cuocj kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Thống nhất độc lập, nhất định thành công!". Sau đó, Người nói chuyện thân mật với anh chị em công tác tại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đang đóng tại chùa Trầm. Sư cụ chủ trì chùa Trầm sau khi xin yết kến Người đã tặng Người mâm bánh chưng, bày tỏ chút lòng thành của nhà chùa. Người cảm ơn Sư cụ, xin nhận bánh và nói: "Chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công"[2]. Trong giờ khắc thiêng liêng của đất trời, của lòng thành tâm, Sư cụ thưa với Người: "Thưa cụ Chủ tịch, chẳng mấy khi Cụ đến, nhân năm mới, xin Cụ mấy chữ để dán trước cửa chùa. Bác vui lòng dùng bút lông và nghiên mực đã được mài sẵn, viết mấy chữ Hán trên giấy hồng điều thành đôi câu đối: "Kháng chiến tất thắng/Kiến quốc tất thành"[3] và một dòng chữ nhỏ: Đinh Hợi nguyên đán bên trái câu đối. Mặc dù câu đối không đề tên người viết, nhưng trong câu đối đó, hai chữ Tất Thành đã nói lên tất cả niềm tin và hy vọng của Người vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc nhất định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tết Ất Mùi năm 1955 là Tết Nguyên đán đầu tiên ở thủ đô Hà Nội sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi. Ngày 30 tết, báo Nhân dân đăng bài Chúc mừng năm mới của Người: "Năm mới, với tinh thần và cố gắng mới, chúng ta quyết làm tròn nhiệm vụ để tranh lấy thắng lợi mới trong công cuộc hoà bình. Vậy có câu đối Tết nôm na là "Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ - Tam dương khai thái/ Đoàn kết, thi đua, tăng gia, tiết kiệm - Ngũ phúc lâm môn".

Ngày 1 Tết, Người dành thời gian đi thăm công trường xây dựng đập Thác Huống, Thái Nguyên; công trường xây dựng tuyến đường sắt Mục Nam quan; một đơn vị quân đội thuộc trung đoàn 141(Đại đoàn 312) và một số gia đình nông dân xã Cam Giá, Đồng Hỷ- một xã đã haonf thành cải cách ruộng đất. Ở đập Thác Huống, Người chúc Tết anh chị em bộ đội, công nhân, cán bộ, dân công ở lại ăn Tết tại công trường. Ở đơn vị bộ đội, Người căn dặn phải đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa chiến sĩ với nhau, giữa quân và dân. Vì chỉ có đoàn kết và đoàn kết chặt chẽ thì cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất đất nước mới giành được thắng lợi trọn vẹn.

Tết Kỷ Dậu năm 1969 Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Người. Ngày 30 Tết, Người gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội; trong đó có khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn công an vũ trang bảo vệ Thủ đô. Năm đó, mặc dù sức khỏe giảm sút nhiều, song Người vẫn đặt ra chương trình đi thăm và chúc Tết khá dài. Tuy nhiên, để đảm bảo sức khỏe của Người, các đồng chí trong Bộ Chính trị đã bố trí để 6 giờ 30 sáng ngày mùng 1 Tết nguyên đán, Người cùng các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng đến thăm và chúc tết cán bộ chiến sĩ Quân chủng Phòng không không quân tại sân bay Bạch Mai - Hà Nội. Tại Hội trường lớn, Người đã gặp gỡ, nói chuyện với đại biểu các anh hùng, chiến sĩ thi đua, đại biểu các đơn vị có thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

11 giờ trưa ngày mùng 1 Tết, Người đến thăm và chúc Tết nhân dân xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Người cùng nhân dân xã Vật Lại khai xuân trồng cây trên đồi của xã. Buổi trưa, dưới bóng cây bạch đàn trên đồi Vật Lại, Người thân mật nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương và: "Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới, nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hòa. Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi"[4], để lại màu xanh muôn đời cho đất nước và con cháu các thế hệ mai sau. Chiều cùng ngày, Người và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng ăn cơm với chị Tạ Thị Kiều. Ngày hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng năm mới tới Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và các vị trong Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhân dịp đầu xuân mới năm Kỷ Dậu.

Người đã đi xa, nhưng mỗi người dân đất Việt nói chung, nhân dân Thủ đô Hà Nội nói riêng vẫn cảm nhận và ghi nhớ những câu chuyện kể về Người mỗi khi Tết đến, Xuân về. Đó là, để chuẩn bị đón Tết cổ truyền, kể từ Tết nguyên đán năm 1946, thường trước Tết ba tháng, Người đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho nhân dân; còn riêng mình, Người cũng tự chuẩn bị sớm ba việc nhằm phục vụ dân đón Tết: Viết  thư, làm thơ chúc mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp "Chúc Mừng Năm Mới" để kịp gửi đến bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài, định kế hoạch thăm dân trong những ngày Tết…

Gia Khánh

Nguồn Tuyengiao.vn

22/01/2020 10:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ
Chịu trách nhiệm chính:​  Ông Lê Văn Nên - PCT.UBND huyện. ​
Địa chỉ: ​Khu phố 2 thị trấn Đông Thành huyện Đức Huệ, Long An.
Điện thoại : (072) 3854230​ * Fax: (072) 3854771 ​ * Email: bbtduchue​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​