Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHọc tập làm theo lời Bác

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 228518
 
Học tập làm theo lời Bác
 
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, với nhiều yếu tố mới tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại dịch Covid-19 và cuộc đấu tranh rất thành công để chống đại dịch này của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức thực hiện của Nhà nước đã thể hiện rõ tư tưởng xây dựng lực lượng cách mạng toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh "có dân là có tất cả", "khó trăm lần dân liệu cũng xong".  
 
Hàng năm, cứ vào mùa Thu, nhân dân cả nước nô nức chào mừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).  
 
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11/02/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng".  
 
Tăng cường công tác tư tưởng là một biện pháp quan trọng để giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác tư tưởng đối với sự thống nhất về tư tưởng - một trong những cội nguồn sức mạnh đem lại thắng lợi của cách mạng V.I.Lênin từng căn dặn: "Chúng ta không được quên rằng nếu không có cái cơ sở tư tưởng chung thì không thể có vấn đề thống nhất"; thống nhất về mặt tư tưởng là truyền bá những tư tưởng nhất định - những tư tưởng của giai cấp tiên phong; là phân định ranh giới về tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: "giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng".  
 
Tăng cường công tác tư tưởng là một biện pháp quan trọng để giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác tư tưởng đối với sự thống nhất về tư tưởng - một trong những cội nguồn sức mạnh đem lại thắng lợi của cách mạng V.I.Lênin từng căn dặn: "Chúng ta không được quên rằng nếu không có cái cơ sở tư tưởng chung thì không thể có vấn đề thống nhất"; thống nhất về mặt tư tưởng là truyền bá những tư tưởng nhất định - những tư tưởng của giai cấp tiên phong; là phân định ranh giới về tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: "giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng".  
 
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một di nguyện quan trọng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thế hệ trẻ (đoàn viên, thanh niên và cán bộ trẻ) chủ động, tự giác nghiên cứu, học tập, thực hiện làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là công việc hết sức quan trọng và cần thiết hiện nay để có nhận thức đầy đủ hơn về lý tưởng và trách nhiệm của mình đối với đất nước.  
 
Ngày 10/7/2020, Đảng ủy xã Mỹ Quý Tây tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Chỉ thị số 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" cho toàn thể cán bộ, đảng viên và những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn xã.  
 
Ngày 03/7/2020, Đảng ủy xã Mỹ Quý Đông tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Chỉ thị số 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" cho 104 đảng viên thuộc 11 chi bộ trực thuộc đảng bộ xã.  
 
Cách đây 72 năm (ngày 11/6/1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, trong bối cảnh nhân dân ta đang bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, kịp thời động viên mọi lực lượng tham gia thực hiện đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.  
 
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Vì thế, làm chủ trong Đảng thực chất cũng là quyền làm chủ của mỗi đảng viên trong mọi hoạt động của Đảng, là sự bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ và nghị quyết của Đảng. Nếu dân chủ là "của quý báu nhất của nhân dân" thì dân chủ trong Đảng cũng là "của quý báu nhất của Đảng"; thực hành dân chủ trong Đảng là "chìa khóa vạn năng" giúp Đảng giải quyết mọi khó khăn. Dân chủ có sức mạnh bao nhiêu thì mong muốn thực thi dân chủ trong Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lớn bấy nhiêu. Bàn về vấn đề này, Người có những quan điểm chỉ đạo sau đây:  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng hiện nayVận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng hiện nay
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, với nhiều yếu tố mới tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại dịch Covid-19 và cuộc đấu tranh rất thành công để chống đại dịch này của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức thực hiện của Nhà nước đã thể hiện rõ tư tưởng xây dựng lực lượng cách mạng toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh "có dân là có tất cả", "khó trăm lần dân liệu cũng xong".

BAC111.jpg 

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Học sinh miền Nam số 12, Thành phố Hải Phòng (18/1/1960). (Ảnh: TTXVN)

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng sẽ tổng kết lý luận và thực tiễn, đề ra các giải pháp phát huy ý chí và khát vọng phát triển của toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Quán triệt sâu sắc và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh, giải pháp xây dựng lực lượng cách mạng trong giai đoạn mới cần tập trung vào các điểm chính sau đây:

Một là, đề cao chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh cần đề cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, coi đó là sức mạnh tinh thần to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: "đã là người Việt Nam thì ai cũng ít nhiều có lòng yêu nước", và "dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta…". Phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính để khơi dậy tinh thần tự cường dân tộc, "niềm tin và khát vọng phát triển" vươn lên, đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển trên thế giới, để Việt Nam "bước lên đài vinh quang, sánh vai với cường quốc năm châu" như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng và Nhà nước phải thực hiện nhất quán, rõ ràng quan điểm đặt lợi ích quốc gia, dân tộc là mục đích tối thượng để tạo cơ sở xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chung "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Xây dựng con người và nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Khơi dậy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.

Hai là, chăm lo bồi dưỡng sức dân, xây dựng thế trận lòng dân.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát huy tài lực, sức mạnh toàn dân cần thực hiện đầy đủ quan điểm Nhà nước bảo đảm quyền "tự do làm ăn theo pháp luật", "khuyến khích làm giàu cho mình cho đất nước" để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng lên xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện quan điểm phát triển bền vững, bao trùm, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, từng chính sách xã hội; xây dựng một xã hội hài hòa, đoàn kết tương trợ lẫn nhau.

Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, an ninh con người, giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân hoá giàu - nghèo, kiểm soát và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Tập trung giải quyết nhóm nghèo nhất, vùng nghèo nhất, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông. Trên cơ sở đó để huy động mọi tiềm lực trong nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gắn bó với nhân dân, trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân. Xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm lực lượng nòng cốt bảo đảm quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, thế trận lòng dân trong bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội; trong đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào các công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.

Bồi dưỡng, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang có bản lĩnh chính trị, trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, có trình độ nắm bắt, khai thác, làm chủ khoa học, công nghệ, vũ khí, trang bị hiện đại. Chú trọng hiện đại hóa, "trí tuệ hóa" lực lượng vũ trang. Tập trung tổ chức xây dựng lực lượng, vũ khí, trang bị, xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, đi thẳng vào hiện đại và ứng dụng công nghệ cao, nghiên cứu sản xuất các trang bị, vũ khí hiện đại của Việt Nam. Phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới, phòng chống chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh kiểu mới. Xây dựng quân chủng hải quân, phòng không không quân, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có trang bị vũ khí, phương tiện tiên tiến, hiện đại. Nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, công tác của lực lượng vũ trang đủ sức bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Bốn là, nâng cao chất lượng hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết quốc tế, với tinh thần Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế và các tổ chức quốc tế đang tham gia. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng vì lợi ích của dân tộc và đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình, độc lập dân tộc, tiến bộ trên thế giới.

Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại. Bảo đảm lợi ích của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng, đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước. Nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh, khả năng thích ứng của đất nước, tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Xây dựng nền ngoại giao hiện đại vì lợi ích quốc gia - dân tộc, lấy phục vụ người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Năm là, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh vì đất nước, vì nhân dân.

Để thực hiện giải pháp này, việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, là những nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới.

Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực sự là liên minh chính trị tự nguyện của tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân trong xã hội, tham gia giám sát, phản biện xã hội, xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền nhân dân. Phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh, trình độ, kỹ năng nhằm thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp. Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần dân tộc, có đạo đức và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi. Phát huy vai trò của thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôn trọng và phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong nước và nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện tốt, có hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ cơ sở trên thực tế, theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Thực hành và phát huy rộng rãi vai trò tự quản của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Bài học lịch sử của cách mạng Việt Nam về học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bắt đầu từ cuốn Đường Kách mệnh, qua cuốn "Sửa đổi lối làm việc", đến bản Di chúc bất hủ cho thấy, khi nào Đảng ta thực hành và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Phương pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hiện nay là nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có các luận điểm, phương pháp và kinh nghiệm của Người trong xây dựng lực lượng cách mạng toàn dân tộc ở Việt Nam.

Ban biên tập

Nguồn Tuyengiao.vn


02/11/2020 1:00 SAĐã ban hành
Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 bất diệt!Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 bất diệt!
Hàng năm, cứ vào mùa Thu, nhân dân cả nước nô nức chào mừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

2-9.jpg

Mít tinh tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 2-9-1945

Ngày 19-8-1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại trong lịch sử nước nhà, đập tan xiềng xích của chế độ thực dân, phong kiến; giành lại nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Ngày 2-9-1945, trên lễ đài tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh của đông đảo đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt đầu từ nay nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời.

Tuyên ngôn Độc lập nhấn mạnh: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Và "Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Tất cả các quyền đó đều là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc trên thế giới.

Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!... Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".

Tuyên ngôn Độc lập bất hủ ngày 2-9-1945 mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Qua bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 của dân tộc ta, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

75 năm qua, nhân dân ta vượt qua biết bao khó khăn, thử thách để xây dựng, phát triển đất nước, từng bước cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Cũng trong suốt thời gian ấy, nhân dân ta đã phải hy sinh biết bao xương máu, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược để bảo vệ nền độc lập, tự do, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Từ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, người dân Việt Nam bắt đầu một cuộc sống mới. Phấn khởi và tự hào, tất cả mọi công dân Việt Nam bắt tay vào sự nghiệp đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh, không tiếc của cải và cả xương máu của mình vừa kháng chiến vừa kiến quốc. 70 năm qua là cả một quá trình phấn đấu, hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam từng bước phát triển không ngừng.

Ngày nay đất nước ta đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế. Kỷ niệm 75 năm Ngày Quốc khánh 2-9, mỗi người Việt Nam dù đang ở bất kỳ nơi đâu, ngay trên đất mẹ hoặc ở xa Tổ quốc cũng không khỏi xúc động, bồi hồi nhớ lại khí thế hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, đặc biệt là Ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lên giọng ấm áp đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày nay, kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường của dân tộc, những bài học giữ nước của cha ông, bằng sự nỗ lực phấn đấu không ngừng phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của đất nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh quốc tế, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm mục tiêu tối thượng, nhân dân ta nhất định sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc non sông gấm vóc do cha ông để lại, trao truyền cho muôn đời con cháu mai sau.

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, không được phép lơ là, nhưng cũng là cuộc đấu tranh lâu dài, kiên trì, bền bỉ với những khó khăn, thử thách to lớn. Đất nước ta sau 34 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện; thế và lực của đất nước được nâng lên; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa; vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới được nâng cao. Những thành tựu đó tạo ra tiền đề thuận lợi cho sự phát triển đất nước.

Tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cần được phát huy cao độ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, làm cho non sông Việt Nam "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một dân tộc yêu nước, chống giặc ngoại xâm đến cùng, từng làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử, nhất định sẽ có đầy đủ tinh thần, nghị lực và bản lĩnh để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên văn minh, hiện đại; giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn quốc gia.

Phát huy tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh ngày 2-9, tất cả mỗi chúng ta phải đồng tâm, hiệp lực, tận dụng vận hội, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn quốc gia.

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám vĩ đại và Quốc khánh ngày 2-9, tiếp tục học tập và thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả mỗi chúng ta đoàn kết một lòng thành một khối vững chắc, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng nước ta giàu đẹp, hùng mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, để dân tộc ta, đất nước ta mãi mãi phồn vinh và trường tồn.

Tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh ngày 2-9 mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn cổ vũ mọi người Việt Nam chúng ta vững bước tiến lên trên con đường ấm no, hạnh phúc, văn minh.

Gia Khánh

Nguồn Baoapbac.vn


24/08/2020 12:00 CHĐã ban hành
Trọng dân - Một tư tưởng lớn của Bác HồTrọng dân - Một tư tưởng lớn của Bác Hồ
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11/02/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng".

bac ho (2).jpg 

Người chỉ rõ sự cần thiết phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng: Không có quần chúng, thì không có lực lượng. Không có Đảng thì không có người lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đường. Người nhấn mạnh: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng". "Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn".

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch". "Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt". "Dễ mươi lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong". Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Cán bộ, đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân". Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt "quan cách mạng", ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn "những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ". Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: "Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì".

Theo Bác Hồ, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Còn các tầng lớp của nhân dân phải tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Nhân dân là nguồn bổ sung vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân. Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước - Người trả lời các nhà báo: "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng lắm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận" (1). Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó "là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta. Người dạy: Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ" (2). Trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên rằng: Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng coi việc "làm đầy tớ" của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.

 Bác Hồ từng nói: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân".

Những lời dạy của Bác Hồ: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng...". "Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân..." là một tư tưởng lớn của Bác Hồ về trọng dân xuyên suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi, với một lối sống chân thực, giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ là tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta học tập và noi theo.

Ngọc Thuận

Nguồn: Những câu chuyện kể về tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


15/08/2020 7:00 SAĐã ban hành
Tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sốngTăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống
Tăng cường công tác tư tưởng là một biện pháp quan trọng để giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác tư tưởng đối với sự thống nhất về tư tưởng - một trong những cội nguồn sức mạnh đem lại thắng lợi của cách mạng V.I.Lênin từng căn dặn: "Chúng ta không được quên rằng nếu không có cái cơ sở tư tưởng chung thì không thể có vấn đề thống nhất"; thống nhất về mặt tư tưởng là truyền bá những tư tưởng nhất định - những tư tưởng của giai cấp tiên phong; là phân định ranh giới về tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: "giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng".

BAC HO (1).jpg

Qua các kỳ đại hội, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng con người mới, xã hội mới, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa "hồng", vừa "chuyên". Việc đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong toàn hệ thống chính trị đã tạo nhiều chuyển biến quan trọng trong nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, quá trình liên tục thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị "Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" đã thể hiện quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và mang lại những kết quả bước đầu tích cực.

Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền chịu trách nhiệm về toàn bộ những vấn đề trọng đại của đất nước. Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống, phải tăng cường hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trước hết, phải bắt đầu từ vấn đề nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, vị trí, vai trò của công tác tư tưởng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân mà sinh thời được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa lên vị trí hàng đầu: "công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất". Theo Người, muốn chỉnh đốn về tổ chức, trước hết phải chỉnh đốn về tư tưởng, vì có người đã vào Đảng rồi nhưng tư tưởng thì chưa vào Đảng. Trong đầu óc của họ vẫn còn chứa những thứ xấu xa của giai cấp bóc lột; họ chưa thật hiểu tư tưởng vô sản là gì, Đảng là gì.

Kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống" là vấn đề có tính nguyên tắc trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống và những biểu hiện tiêu cực khác. Vì vậy, phải xây dựng được mẫu hình về đạo đức, lối sống làm hệ quy chiếu định hướng cho con người điều chỉnh mình, trong đó tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là hình mẫu tiêu biểu của hệ quy chiếu đó. Khi nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà khoa học trong nước và nước ngoài cho dù tiếp cận Người ở nhiều góc độ khác nhau: một chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, một lãnh tụ vĩ đại, một nhà văn hóa kiệt xuất, một anh hùng giải phóng dân tộc… nhưng cũng đều thừa nhận rằng, tư tưởng, đạo đức, phong cách là giá trị nổi bật, sáng chói nhất trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người.

Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống vừa là vấn đề cơ bản, phải tiến hành thường xuyên, lâu dài, vừa là vấn đề cấp bách, phải tiến hành bằng những giải pháp quyết liệt, hiệu quả, không chủ quan với những kết quả bước đầu. Khi có suy thoái về đạo đức, lối sống đã trở nên "nghiêm trọng và kéo dài", khi nó đã len vào cả cán bộ cấp chiến lược, làm xói mòn niềm tin của nhân dân thì việc ngăn chặn và đẩy lùi nó phải được tiến hành bằng giải pháp đặc biệt.

Nhân dân có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đấu tranh ngăn chặn, đầy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống và những biểu hiện tiêu cực khác. Chế độ ta là chế độ dân chủ - chế độ nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ - nên việc huy động, tập hợp nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng có vai trò cực kỳ quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Xây dựng về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức, đó là đường lối xây dựng Đảng. Đó không những là công việc của Đảng và của đảng viên mà cũng là của toàn dân ta. Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân". Người khẳng định: Một khi trong Đảng và ngoài Đảng nhận rõ tình hình, hiểu rõ nhiệm vụ thì tư tưởng mới thống nhất; tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn, phức tạp, chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Thứ hai, nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng, đặt ra chế độ nghiêm khắc đối với việc rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên

          Thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, trước hết là trong sinh hoạt của cấp ủy và cơ quan lãnh đạo các cấp. Trong khi tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng, nhất thiết phải có sự tham gia một cách tích cực và có hiệu quả của các đoàn thể nhân dân. Cần có kế hoạch và cơ chế, thiết chế bảo đảm cho nhân dân phát huy được vai trò và quyền giám sát, quyền đóng góp ý kiến cho tổ chức đảng, đảng viên. Cần thực hiện nghiêm túc các quy định về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2020 của Ban Bí thư "Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương". Qua đó, một mặt, nâng cao uy tín của cán bộ, đảng viên; mặt khác, đưa công tác tự phê bình và phê bình thực sự đi vào nền nếp, trở thành tập quán, đạo đức tốt đẹp trong Đảng và toàn xã hội.

Tăng cường công tác lý luận, giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng như văn kiện Đại hội XII của Đảng yêu cầu: "đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả". Thực hiện có kế hoạch và thường xuyên công tác bồi dưỡng, cập nhập kiến thức, tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là cấp chiến lược. Chú trọng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận theo hướng thiết thực, linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng. Thông qua học tập lý luận chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự soi, tự sửa, nhất là trước các hạn chế, khuyết điểm như lý luận kém, lý luận suông, xa rời thực tiễn, bản vị, cục bộ.

Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa dạng, sinh động, thiết thực, hiệu quả về việc thực hiện sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị và xã hội Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"

Mấu chốt thành công của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là thực hiện tốt quy định nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là các cán bộ cấp cao. Do vậy, bằng nhiều hình thức, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ các giá trị đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc qua những bài học sinh động của lịch sử và thực tế cuộc sống. Đồng thời, tích cực xây dựng nếp sống văn hóa, chuẩn mực đạo đức xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; dùng chuẩn mực đó và dư luận xã hội lành mạnh, cùng với luật pháp để ngăn chặn, đẩy lùi các hành vi phản đạo đức, phản văn hóa. Xây dựng chế tài đủ mạnh thúc đẩy, giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên để việc học tập và tu dưỡng đạo đức, lối sống dần trở thành thói quen thấm sâu trong công tác và đời sống thường nhật của mỗi người. Từ đó, hình thành ở mỗi con người, trước hết là ở mỗi cán bộ, đảng viên thói quen thực hành đạo đức, thống nhất giữa lời nói và việc làm, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xây dựng quan hệ tình nghĩa giữa con người với con người.

Thứ tư, đấu tranh kiên quyết với các tư tưởng phản văn hóa, phản đạo đức được du nhập, truyền bá cùng với mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch

Phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bên cạnh mặt tạo ra động lực mới cho phát triển, cũng có những mặt trái khiến cho đạo đức, lối sống xã hội đứng trước những thách thức, nhất là chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa xa hoa, thái độ tôn sùng đồng tiền, xem nhẹ đạo lý. Các thế lực thù địch ra sức lợi dụng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế để truyền bá, xuất khẩu các tư tưởng cổ xúy cho tự do cá nhân cực đoan, gây băng hoại đạo đức xã hội, lối sống con người, tác động, chuyển hóa vào nội bộ. Vì vậy, "xây" phải gắn liền với "chống", đấu tranh kiên quyết, ngăn chặn từ gốc, từ xa các yếu tố gây mầm, cổ xúy cho đạo đức suy đồi, phản động, đi ngược lại chuẩn mực đạo đức cách mạng. Phải tạo cho mỗi cán bộ, đảng viên và người dân những "bộ lọc" trước thông tin đa dạng của xã hội mở; xử lý nghiêm việc truyền bá các ấn phẩm độc hại, phản động, lạc hậu trên mọi phương tiện truyền thông; tích cực tuyên truyền tấm gương "người tốt, việc tốt" theo phương châm "lấy cái đẹp dẹp cái xấu".

Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, khắc phục triệt để cơ chế xin - cho, nạn "chạy chức", "chạy quyền", kiên quyết loại ra khỏi Đảng và bộ máy nhà nước những phần tử suy thoái đạo đức, cơ hội, bất tài, mị dân

Phải nhận thức nghiêm túc vấn đề có tính nguyên tắc: "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém", "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", cán bộ phải có "gan phụ trách, có gan làm việc". Phát huy dân chủ, tăng cường giám sát, phản biện và góp ý của nhân dân. Nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân các cấp trong công tác cán bộ, cũng như trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân các cấp trong công tác cán bộ, cũng như trách nhiệm của người đứng ra giới thiệu cán bộ vào những chức vụ nhất định. Đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ dựa trên cơ sở tiêu chuẩn, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân làm thước đo. Xây dựng chính sách đãi ngộ và chính sách tiền lương công bằng, hợp lý, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống và sống tốt bằng đồng lương chân chính.

Thứ sáu, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng"

Đây là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Cần có cơ chế, luật pháp bảo đảm cho cơ quan dân cử thực sự là cơ quan đại biểu, đại diện của nhân dân, do nhân dân tự nguyện lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phát huy quyền dân chủ cũng có nghĩa là thực thi quyền giám sát của nhân dân đối với các cơ quan, tổ chức, cán bộ của Đảng và Nhà nước. Dân chủ phải đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật. Loại bỏ những biểu hiện dân chủ hình thức hay mang màu sắc dân túy. Chỉ có dân chủ thực sự mới có khả năng phát huy sức mạnh của quần chúng, đẩy lùi và khắc phục nguy cơ tha hóa đe dọa đời sống đạo đức của xã hội.

Thứ bảy, tập trung đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống luật pháp và xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Phải xem pháp luật và đạo đức là hai mặt không thể thiếu trong quản lý xã hội. Khẩn trương xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục một số bất cập trong công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về pháp luật, nâng cao ý thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cán bộ có chức vụ càng cao càng cần phải gương mẫu trong tuân thủ, chấp hành pháp luật.

Thứ tám, quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo

Ngày 01/8/2018, làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: "Cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên giáo để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới hiện nay; tuyệt đối trung thành, kiên định, vững vàng, biết cách tổ chức công việc, có dũng khí đấu tranh, có đủ trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, phải nói được, làm được, thuyết phục được, không để bị mua chuộc bởi các thế lực xấu, thù địch. Phương pháp phải dân chủ, chân thành, không thể gò ép, áp đặt, mệnh lệnh; phải rất tinh tế, đi vào lòng người". Đồng chí Tổng Bí thư cũng yêu cầu không được "khoán trắng" công tác tuyên huấn cho ban tuyên giáo các cấp mà các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân các cấp phải có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng này.

Việc xây dựng đạo đức cách mạng nói riêng và văn hóa nói chung là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, được tiến hành từ những vấn đề gốc rễ của tồn tại xã hội và tác động vào hình thái ý thức xã hội. Xã hội càng phát triển, những vấn đề văn hóa, đạo đức, lối sống càng trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của xã hội, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh tại Hội nghị cán bộ toàn quốc trực tuyến của Chính phủ ngày 30/12/2019: "Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để không thể, không dám, không muốn tham nhũng". Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta cần gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Có như vậy mới xây dựng thành công xã hội "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - số 946 (7/2020)


10/08/2020 11:00 CHĐã ban hành
Tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sốngTăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống
Tăng cường công tác tư tưởng là một biện pháp quan trọng để giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác tư tưởng đối với sự thống nhất về tư tưởng - một trong những cội nguồn sức mạnh đem lại thắng lợi của cách mạng V.I.Lênin từng căn dặn: "Chúng ta không được quên rằng nếu không có cái cơ sở tư tưởng chung thì không thể có vấn đề thống nhất"; thống nhất về mặt tư tưởng là truyền bá những tư tưởng nhất định - những tư tưởng của giai cấp tiên phong; là phân định ranh giới về tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: "giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng".

Qua các kỳ đại hội, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng con người mới, xã hội mới, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa "hồng", vừa "chuyên". Việc đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong toàn hệ thống chính trị đã tạo nhiều chuyển biến quan trọng trong nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, quá trình liên tục thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị "Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" đã thể hiện quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và mang lại những kết quả bước đầu tích cực.

Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền chịu trách nhiệm về toàn bộ những vấn đề trọng đại của đất nước. Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống, phải tăng cường hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trước hết, phải bắt đầu từ vấn đề nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, vị trí, vai trò của công tác tư tưởng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân mà sinh thời được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa lên vị trí hàng đầu: "công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất". Theo Người, muốn chỉnh đốn về tổ chức, trước hết phải chỉnh đốn về tư tưởng, vì có người đã vào Đảng rồi nhưng tư tưởng thì chưa vào Đảng. Trong đầu óc của họ vẫn còn chứa những thứ xấu xa của giai cấp bóc lột; họ chưa thật hiểu tư tưởng vô sản là gì, Đảng là gì.

Kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống" là vấn đề có tính nguyên tắc trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống và những biểu hiện tiêu cực khác. Vì vậy, phải xây dựng được mẫu hình về đạo đức, lối sống làm hệ quy chiếu định hướng cho con người điều chỉnh mình, trong đó tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là hình mẫu tiêu biểu của hệ quy chiếu đó. Khi nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà khoa học trong nước và nước ngoài cho dù tiếp cận Người ở nhiều góc độ khác nhau: một chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, một lãnh tụ vĩ đại, một nhà văn hóa kiệt xuất, một anh hùng giải phóng dân tộc… nhưng cũng đều thừa nhận rằng, tư tưởng, đạo đức, phong cách là giá trị nổi bật, sáng chói nhất trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người.

Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống vừa là vấn đề cơ bản, phải tiến hành thường xuyên, lâu dài, vừa là vấn đề cấp bách, phải tiến hành bằng những giải pháp quyết liệt, hiệu quả, không chủ quan với những kết quả bước đầu. Khi có suy thoái về đạo đức, lối sống đã trở nên "nghiêm trọng và kéo dài", khi nó đã len vào cả cán bộ cấp chiến lược, làm xói mòn niềm tin của nhân dân thì việc ngăn chặn và đẩy lùi nó phải được tiến hành bằng giải pháp đặc biệt.

Nhân dân có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đấu tranh ngăn chặn, đầy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống và những biểu hiện tiêu cực khác. Chế độ ta là chế độ dân chủ - chế độ nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ - nên việc huy động, tập hợp nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng có vai trò cực kỳ quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Xây dựng về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức, đó là đường lối xây dựng Đảng. Đó không những là công việc của Đảng và của đảng viên mà cũng là của toàn dân ta. Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân". Người khẳng định: Một khi trong Đảng và ngoài Đảng nhận rõ tình hình, hiểu rõ nhiệm vụ thì tư tưởng mới thống nhất; tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn, phức tạp, chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Thứ hai, nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng, đặt ra chế độ nghiêm khắc đối với việc rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên

          Thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, trước hết là trong sinh hoạt của cấp ủy và cơ quan lãnh đạo các cấp. Trong khi tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng, nhất thiết phải có sự tham gia một cách tích cực và có hiệu quả của các đoàn thể nhân dân. Cần có kế hoạch và cơ chế, thiết chế bảo đảm cho nhân dân phát huy được vai trò và quyền giám sát, quyền đóng góp ý kiến cho tổ chức đảng, đảng viên. Cần thực hiện nghiêm túc các quy định về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2020 của Ban Bí thư "Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương". Qua đó, một mặt, nâng cao uy tín của cán bộ, đảng viên; mặt khác, đưa công tác tự phê bình và phê bình thực sự đi vào nền nếp, trở thành tập quán, đạo đức tốt đẹp trong Đảng và toàn xã hội.

Tăng cường công tác lý luận, giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng như văn kiện Đại hội XII của Đảng yêu cầu: "đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả". Thực hiện có kế hoạch và thường xuyên công tác bồi dưỡng, cập nhập kiến thức, tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là cấp chiến lược. Chú trọng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận theo hướng thiết thực, linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng. Thông qua học tập lý luận chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự soi, tự sửa, nhất là trước các hạn chế, khuyết điểm như lý luận kém, lý luận suông, xa rời thực tiễn, bản vị, cục bộ.

Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa dạng, sinh động, thiết thực, hiệu quả về việc thực hiện sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị và xã hội Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"

Mấu chốt thành công của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là thực hiện tốt quy định nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là các cán bộ cấp cao. Do vậy, bằng nhiều hình thức, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ các giá trị đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc qua những bài học sinh động của lịch sử và thực tế cuộc sống. Đồng thời, tích cực xây dựng nếp sống văn hóa, chuẩn mực đạo đức xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; dùng chuẩn mực đó và dư luận xã hội lành mạnh, cùng với luật pháp để ngăn chặn, đẩy lùi các hành vi phản đạo đức, phản văn hóa. Xây dựng chế tài đủ mạnh thúc đẩy, giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên để việc học tập và tu dưỡng đạo đức, lối sống dần trở thành thói quen thấm sâu trong công tác và đời sống thường nhật của mỗi người. Từ đó, hình thành ở mỗi con người, trước hết là ở mỗi cán bộ, đảng viên thói quen thực hành đạo đức, thống nhất giữa lời nói và việc làm, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xây dựng quan hệ tình nghĩa giữa con người với con người.

Thứ tư, đấu tranh kiên quyết với các tư tưởng phản văn hóa, phản đạo đức được du nhập, truyền bá cùng với mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch

Phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bên cạnh mặt tạo ra động lực mới cho phát triển, cũng có những mặt trái khiến cho đạo đức, lối sống xã hội đứng trước những thách thức, nhất là chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa xa hoa, thái độ tôn sùng đồng tiền, xem nhẹ đạo lý. Các thế lực thù địch ra sức lợi dụng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế để truyền bá, xuất khẩu các tư tưởng cổ xúy cho tự do cá nhân cực đoan, gây băng hoại đạo đức xã hội, lối sống con người, tác động, chuyển hóa vào nội bộ. Vì vậy, "xây" phải gắn liền với "chống", đấu tranh kiên quyết, ngăn chặn từ gốc, từ xa các yếu tố gây mầm, cổ xúy cho đạo đức suy đồi, phản động, đi ngược lại chuẩn mực đạo đức cách mạng. Phải tạo cho mỗi cán bộ, đảng viên và người dân những "bộ lọc" trước thông tin đa dạng của xã hội mở; xử lý nghiêm việc truyền bá các ấn phẩm độc hại, phản động, lạc hậu trên mọi phương tiện truyền thông; tích cực tuyên truyền tấm gương "người tốt, việc tốt" theo phương châm "lấy cái đẹp dẹp cái xấu".

Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, khắc phục triệt để cơ chế xin - cho, nạn "chạy chức", "chạy quyền", kiên quyết loại ra khỏi Đảng và bộ máy nhà nước những phần tử suy thoái đạo đức, cơ hội, bất tài, mị dân

Phải nhận thức nghiêm túc vấn đề có tính nguyên tắc: "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém", "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", cán bộ phải có "gan phụ trách, có gan làm việc". Phát huy dân chủ, tăng cường giám sát, phản biện và góp ý của nhân dân. Nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân các cấp trong công tác cán bộ, cũng như trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân các cấp trong công tác cán bộ, cũng như trách nhiệm của người đứng ra giới thiệu cán bộ vào những chức vụ nhất định. Đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ dựa trên cơ sở tiêu chuẩn, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân làm thước đo. Xây dựng chính sách đãi ngộ và chính sách tiền lương công bằng, hợp lý, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống và sống tốt bằng đồng lương chân chính.

Thứ sáu, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng"

Đây là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Cần có cơ chế, luật pháp bảo đảm cho cơ quan dân cử thực sự là cơ quan đại biểu, đại diện của nhân dân, do nhân dân tự nguyện lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phát huy quyền dân chủ cũng có nghĩa là thực thi quyền giám sát của nhân dân đối với các cơ quan, tổ chức, cán bộ của Đảng và Nhà nước. Dân chủ phải đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật. Loại bỏ những biểu hiện dân chủ hình thức hay mang màu sắc dân túy. Chỉ có dân chủ thực sự mới có khả năng phát huy sức mạnh của quần chúng, đẩy lùi và khắc phục nguy cơ tha hóa đe dọa đời sống đạo đức của xã hội.

Thứ bảy, tập trung đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống luật pháp và xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Phải xem pháp luật và đạo đức là hai mặt không thể thiếu trong quản lý xã hội. Khẩn trương xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục một số bất cập trong công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về pháp luật, nâng cao ý thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cán bộ có chức vụ càng cao càng cần phải gương mẫu trong tuân thủ, chấp hành pháp luật.

Thứ tám, quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo

Ngày 01/8/2018, làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: "Cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên giáo để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới hiện nay; tuyệt đối trung thành, kiên định, vững vàng, biết cách tổ chức công việc, có dũng khí đấu tranh, có đủ trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, phải nói được, làm được, thuyết phục được, không để bị mua chuộc bởi các thế lực xấu, thù địch. Phương pháp phải dân chủ, chân thành, không thể gò ép, áp đặt, mệnh lệnh; phải rất tinh tế, đi vào lòng người". Đồng chí Tổng Bí thư cũng yêu cầu không được "khoán trắng" công tác tuyên huấn cho ban tuyên giáo các cấp mà các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân các cấp phải có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng này.

Việc xây dựng đạo đức cách mạng nói riêng và văn hóa nói chung là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, được tiến hành từ những vấn đề gốc rễ của tồn tại xã hội và tác động vào hình thái ý thức xã hội. Xã hội càng phát triển, những vấn đề văn hóa, đạo đức, lối sống càng trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của xã hội, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh tại Hội nghị cán bộ toàn quốc trực tuyến của Chính phủ ngày 30/12/2019: "Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để không thể, không dám, không muốn tham nhũng". Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta cần gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Có như vậy mới xây dựng thành công xã hội "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - số 946 (7/2020)


06/08/2020 11:00 CHĐã ban hành
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí MinhBồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một di nguyện quan trọng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thế hệ trẻ (đoàn viên, thanh niên và cán bộ trẻ) chủ động, tự giác nghiên cứu, học tập, thực hiện làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là công việc hết sức quan trọng và cần thiết hiện nay để có nhận thức đầy đủ hơn về lý tưởng và trách nhiệm của mình đối với đất nước.

images (1).jpg 

Di chúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo vào năm 1965 và qua một số lần sửa chữa, bản Di chúc được hoàn chỉnh vào tháng 5 năm 1969. Có thể nói, Di chúc là sự kết tinh tư tưởng tinh hoa, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người; là tâm nguyện, trách nhiệm, tình cảm, ý chí, niềm tin của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước, nhân dân, với sự nghiệp cách mạng, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong hệ thống di sản tư tưởng quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng, cách mạng và dân tộc ta, Di chúc là văn kiện lịch sử vô giá, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đề cập một cách toàn diện tới những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, chứa đựng sự tổng kết thực tiễn và định hướng tương lai. Bản Di chúc với hơn 1.000 từ là sự kết tinh nổi bật nhất tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 150nam_24_0002.jpg

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức xem trọng vai trò, vị trí của thế hệ trẻ. Trong đó, Người đặc biệt quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên. Người đã cùng Trung ương Đảng bồi dưỡng, đào tạo nhiều thế hệ cán bộ cách mạng ưu tú, trưởng thành từ thanh, thiếu niên. Cho nên, hơn lúc nào hết, việc thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là yêu cầu, nhiệm vụ bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho đời sau:

Tư tưởng về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong Di chúc, Người nhấn mạnh Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo lớp trẻ thành những người kế thừa xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Tư tưởng về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm. Ngay từ năm 1949, khi dự khai giảng lớp đào tạo cán bộ tại huyện Định Hóa (Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Học để làm việc, để làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại". Tư tưởng này vô cùng quan trọng, không ít người nghĩ học để làm cán bộ rồi mới làm việc, làm người. Do đó, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là điều rất quan trọng và rất cần thiết. Người nhấn mạnh các cán bộ trẻ phải hướng tới hai phẩm chất vừa "hồng" vừa "chuyên" là nói về tài và theo Người "hồng" phải trở thành "hồng thắm", còn "chuyên" phải trở thành "chuyên sâu". Đối với thế hệ trẻ chúng ta hiện nay phải lan tỏa được tinh thần đó, thấy được chân giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không viết cụ thể cho ai, nhưng ai đọc cũng thấy mình trong đó, bởi bản Di chúc thể hiện tình cảm, sự quan tâm căn dặn, dạy bảo, định hướng của Người dành cho thế hệ trẻ, là sự quan tâm, tầm nhìn chiến lược của Người cho tương lai của Đảng, của đất nước; là sự quan tâm, kỳ vọng đặc biệt của Người đối với đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Để thế hệ trẻ thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta rất nhiều điều nhưng việc đầu tiên là chỉnh đốn Đảng, kế theo đó, Người nói đến đoàn viên, thanh niên, nhất là cán bộ trẻ. Vậy thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thế hệ trẻ như thế nào? Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, xây dựng được đội ngũ cán bộ có khả năng, làm việc trong môi trường quốc tế, có trình độ khoa học - kỹ thuật, kỹ năng mềm, có tình yêu với quê hương đất nước. Trong tình hình hiện nay, để đáp ứng được yêu cầu vừa "hồng" vừa "chuyên", cán bộ trẻ phải được đào luyện qua thực tiễn.

Thời gian qua, sự phát triển của đất nước có sự đóng góp rất lớn của thế hệ trẻ. Họ vẫn một lòng tin vào Đảng, tiếp tục cùng với Đảng, Nhà nước xây dựng đất nước. Từ trước tới nay, thanh niên lúc nào cũng tự nguyện đi theo ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh. Rất nhiều phong trào thanh niên có sức lan tỏa, đóng góp rất lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Đoàn Thanh niên luôn lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng làm tôn chỉ hoạt động của tổ chức mình. Cho nên, chúng ta phải giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ để họ kế thừa lý tưởng của các thế hệ cha anh, biến lý tưởng cách mạng thành ý chí cách mạng, thành động lực tinh thần mạnh mẽ, đánh bại âm mưu tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch; tích cực học tập, lao động sáng tạo, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển trên thế giới.

Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước giai đoạn chuyển giao giữa thế hệ lãnh đạo sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, đất nước còn gian khổ với thế hệ sinh ra và lớn lên trong hòa bình.

Thêm vào đó, cán bộ trẻ hiện nay được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều quốc gia có chế độ chính trị khác nhau. Đây là mặt mạnh nhưng cũng có nhiều vấn đề đặt ra đối với thế hệ trẻ hiện nay. Do vậy, để có thể vừa "hồng" vừa "chuyên" thì cán bộ trẻ cần phải đắm mình trong thực tiễn, đào luyện qua thực tiễn để có được nhân sinh quan cách mạng. Thực hiện theo di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chú trọng đến công tác giáo dục, bồi dưỡng, chăm sóc thế hệ trẻ, xem thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác thanh niên luôn đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Đảng luôn đặt niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Thực hiện nghị quyết các đại hội, nghị quyết chuyên đề của Đảng, các cơ quan chức năng, các cấp ủy tổ chức quán triệt quan điểm của Đảng đối với thanh niên, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức công dân trong trường học, thông qua tổ chức đoàn và tổ chức thanh, thiếu niên, phát động các phong trào "Thanh niên tình nguyện", "Lập thân, lập nghiệp", "Tuổi trẻ giữ nước", "Mùa hè xanh", "Đền ơn đáp nghĩa", "Khởi nghiệp"… Qua hoạt động thực tiễn để tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ, cổ vũ gương người tốt, việc tốt, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Nhiều cuộc thi tìm hiểu về Đảng, đặc biệt là đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thu hút đông đảo thanh, thiếu niên hưởng ứng. Thông qua đó, nâng cao được tính tích cực, tinh thần tập thể, ý thực tự giác, tính sáng tạo của đoàn viên, thanh niên, tạo môi trường giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ. Nhìn lại hơn 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, chúng ta thấy rằng, chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ thành lớp người vừa "hồng" vừa "chuyên" là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trách nhiệm ấy cần thể chế hóa thành những chủ trương, chính sách, giải pháp cụ thể, phù hợp và phải được tổ chức thực hiện một cách đầy đủ, bài bản và kiên trì ở mọi cấp, mọi ngành.

Tuy nhiên, trước bối cảnh tình hình mới của đất nước, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, âm mưu chống phá bằng hình thức "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, làm cho một bộ phận thanh niên, cán bộ trẻ xa rời lý tưởng, lười lao động và học tập, sa vào lối sống hưởng thụ, thực dụng chủ nghĩa, suy thoái về đạo đức, lối sống, thậm chí còn rơi vào tình trạng khủng hoảng lý tưởng, đạo đức và lối sống; một bộ phận bị lực lượng xấu dụ dỗ, mua chuộc… Trong khi đó, công tác giáo dục đạo đức cách mạng, bồi dưỡng lý tưởng cho thế hệ trẻ hiện nay tại một số đơn vị, địa phương còn bị xem nhẹ. Nội dung giáo dục kiến thức văn hóa khoa học - kỹ thuật còn mang nặng tính hình thức, chưa phù hợp với đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Tình hình trên đang đặt ra cho công tác Đoàn, công tác thanh niên nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề.

Trong thời gian tới, để phát huy vai trò, sức mạnh của thế hệ trẻ và để thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với thanh niên, thực hiện đa dạng hóa các hình thức giáo dục, phong phú hóa các phương pháp giáo dục cho cán bộ trẻ, thanh niên. Đồng thời, cần làm tốt công tác nêu gương, người lớn tuổi làm gương cho người trẻ, người trong Đảng làm gương cho người ngoài Đảng, cấp trên làm gương cho cấp dưới, Trung ương làm gương cho địa phương… Bên cạnh đó, cần quan tâm công tác đào tạo, giáo dục tri thức cho thế hệ trẻ theo hướng học để làm người, làm cán bộ, để phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Cán bộ Đoàn phải là người đi đầu nắm bắt được cái mới, chủ động định hướng thanh niên, có tác phong khoa học, không rập khuôn máy móc trong việc chỉ đạo, định hướng thanh niên.

Hai là, phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên trong tham gia xây dựng Đảng và đoàn kết tập hợp thanh niên. Tổ chức Đoàn các cấp phải không ngừng đổi mới nội dung, phương thức triển khai và phải cụ thể hóa phong trào trong từng nhóm đối tượng, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thế hệ trẻ. Từ đó, định hình cách thức triển khai, gia tăng giá trị của phong trào nhằm thu hút sự tham gia của đông đảo thanh niên và các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tiếp tục xây dựng thế hệ trẻ giàu lòng yêu nước, có lối sống đẹp, có lý tưởng cách mạng. Đoàn Thanh niên cần tổ chức triển khai thật tốt các phong trào hành động cách mạng trong thanh niên để góp phần xây dựng, bồi đắp thế hệ trẻ trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa.

Ba là, đổi mới, đa dạng hóa phương thức tiếp cận công tác giáo dục lý tưởng cách mạng trong thế hệ trẻ; đa dạng hóa các kênh truyền thông qua việc tận dụng công cụ mạng xã hội; linh động nắm bắt và tận dụng các trào lưu mới của giới trẻ, xây dựng các sản phẩm tuyên truyền sáng tạo, sinh động, phù hợp với thế hệ trẻ. Phải xây dựng lớp thanh niên "biết bàn, biết làm" và Đoàn cần phải tạo điều kiện cho thanh niên "được bàn, được làm". Đoàn cần xây dựng nội dung giáo dục phù hợp trên cơ sở nghiên cứu nắm rõ tâm lý tiếp nhận, nhu cầu và xu hướng của giới trẻ hiện nay. Đặc biệt, xem trọng công tác truyền thông, tận dụng tối đa hiệu quả, tiện ích của mạng xã hội và các phương tiện truyền thông hiện đại.

Bốn là, tổ chức Đoàn các cấp cần tập trung thực hiện triển khai có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thế hệ trẻ bằng nhiều hình thức chính quy và không chính quy, thực hiện "giáo dục cho con người" và "cả nước trở thành một xã hội học tập", cũng như thực hiện phương châm "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xã hội" nhằm tạo ra con người phát triển toàn diện, có năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ đất nước. Ngoài ra, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội cần có sự quan tâm đầu tư thực sự đối với công tác bồi dưỡng thanh niên từ lý tưởng đạo đức, sức khỏe thể chất, đến kỹ năng và khả năng hành động.

Năm là, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm tạo điều kiện cho thanh niên phấn đấu, khẳng định bản thân và đóng góp cho xã hội. Cần có các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện các chính sách, pháp luật; bảo đảm các chính sách về thanh niên được ban hành một cách thống nhất, đồng bộ; có cơ chế khuyến khích và bảo đảm sự tham gia của thanh niên, đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách.

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - số 946 (7-2020)

 

 


29/07/2020 10:00 CHĐã ban hành
Mỹ Quý Tây tổ chức học tập, quán triệt Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020Mỹ Quý Tây tổ chức học tập, quán triệt Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020
Ngày 10/7/2020, Đảng ủy xã Mỹ Quý Tây tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Chỉ thị số 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" cho toàn thể cán bộ, đảng viên và những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn xã.

IMG_20200712_222607.jpg 

 IMG_20200712_222612.jpg

Tại đây, thông qua xem video, các đại biểu được nghe Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo quán triệt nội dung chuyên đề về: "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Hội nghị nhằm tổ chức học tập quán triệt sâu rộng chuyên đề năm 2020, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động trong đội ngũ cán bộ đảng viên và tầng lớp nhân dân.

Đồng thời trang bị cho cán bộ, đảng viên những kiến thức mới về lý luận chính trị, chấn chỉnh kịp thời các biểu hiện sai lệch về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống; Ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, xuyên tạc về chế độ CNXH. Từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của cán bộ đảng viên phục vụ tốt cho đất nước và nhân dân trong giai đoạn hiên nay./.

Viết Định


11/07/2020 8:00 SAĐã ban hành
Mỹ Quý Đông tổ chức học tập, quán triệt Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020Mỹ Quý Đông tổ chức học tập, quán triệt Chỉ thị 05-CT/TW chuyên đề năm 2020
Ngày 03/7/2020, Đảng ủy xã Mỹ Quý Đông tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Chỉ thị số 05-CT/TW chuyên đề năm 2020 "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" cho 104 đảng viên thuộc 11 chi bộ trực thuộc đảng bộ xã.

IMG_20200725_221035.jpg 

 IMG_20200725_220918.jpg

Tại đây, thông qua xem video, các đại biểu được nghe Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo quán triệt nội dung chuyên đề về: "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Việc tổ chức nghiên cứu, học tập chuyên đề Chỉ thị 05-CT/TW năm 2020 về "Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh" theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thiết thực, hiệu quả trong nhận thức, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên; tiếp tục đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nề nếp, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII.

Qua đó, để cán bộ, đảng viên vận dụng sáng tạo vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

Để tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn Đảng bộ xã phải tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Làm tốt điều này không chỉ góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn là giải pháp để góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Lê Hành


04/07/2020 11:00 CHĐã ban hành
Sức mạnh của thi đuaSức mạnh của thi đua
Cách đây 72 năm (ngày 11/6/1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, trong bối cảnh nhân dân ta đang bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, kịp thời động viên mọi lực lượng tham gia thực hiện đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Và cũng suốt ngần ấy năm trôi qua, phong trào thi đua yêu nước tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ra sức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, thi đua yêu nước chính là sức mạnh, trở thành động lực quan trọng phát triển kinh tế- xã hội, đưa đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.

 Thuở sinh thời, Bác Hồ kính yêu cho rằng bất kỳ công việc gì ích nước lợi nhà đều có thể và cần phải thi đua. Mọi hoạt động trên tất cả các lĩnh vực phải được tiến hành một cách tích cực và sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, sản xuất ra nhiều của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.

Và cũng bởi, lúc ấy lòng yêu nước, thương dân, đối với quê hương, đất nước, vì sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới được thể hiện rõ ở phong trào thi đua yêu nước, được thể hiện bằng hành động thực tế, cụ thể, thiết thực trong cuộc sống, chiến đấu, lao động và học tập.

Thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác Hồ kính yêu, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, phong trào thi đua yêu nước của tỉnh được đẩy mạnh cùng với ý chí không chịu khuất phục, vươn lên của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, tiềm năng và lợi thế của tỉnh nhà ngày càng được phát huy, tạo nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.

Điển hình là các phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; "Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng"; "Thi đua quyết thắng", "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc"; rồi "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"... Các phong trào thi đua yêu nước thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, phát huy tác dụng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đặc biệt, là thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng được đẩy mạnh, tạo chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Thông qua các phong trào thi đua, tỉnh huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiều mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Kinh tế - xã hội tỉnh nhà có những tiến bộ vượt bậc như thu ngân sách nhà nước trên địa bàn hàng năm đều vượt dự toán; giá trị sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá; xuất khẩu tăng cao; thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển. Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi; lĩnh vực giáo dục, y tế tiếp tục có bước phát triển; công tác an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả. Cải cách thủ tục hành chính được thực hiện mạnh mẽ; kỷ luật, kỷ cương hành chính được chú trọng. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo… Đây chính là điều kiện để giúp Đảng bộ, quân và dân tỉnh nhà tiếp tục vượt qua khó khăn, giành được những thành tựu lớn hơn trong chặng đường phía trước của sự nghiệp đổi mới.

Để phong trào thi đua yêu nước cùng các điển hình tiên tiến ngày càng nhân rộng, tạo ra sự lan tỏa, trở thành động lực, sức mạnh để mọi cá nhân, tập thể nỗ lực hơn nữa triển khai thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp, chúng ta cần phải tiếp tục quán triệt sâu sắc Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác và các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, nhằm nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa và vai trò quan trọng của các phong trào thi đua yêu nước trong tình hình mới.

Đồng thời để đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, chúng ta cần đổi mới nội dung, hình thức tổ chức các phong trào thi đua cho phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của từng địa phương, từng đối tượng. Các nội dung thi đua phải cụ thể, rõ ràng, có trọng tâm, trọng điểm, có chỉ tiêu thi đua, xác định rõ đối tượng tham gia; hình thức thi đua phải đa dạng, phong phú, thiết thực, tránh sự nhàm chán, tẻ nhạt.

Bên cạnh, công tác khen thưởng phải bảo đảm đúng thực chất, đảm bảo tính nêu gương, giáo dục, được dư luận xã hội đồng tình, tránh khen thưởng tràn lan, không đúng đối tượng, tiêu chuẩn. Có như vậy, công tác khen thưởng sẽ trở thành động lực thúc đẩy phong trào thi đua…

72 năm trôi qua kể từ ngày Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và 51 năm ngày Bác đi xa, nhưng lời kêu gọi lòng yêu nước và tinh thần thi đua ái quốc của Bác vẫn còn vang vọng, vẫn nguyên vẹn giá trị lịch sử. Lời kêu gọi của Bác trở thành giá trị tinh thần vô giá, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mới, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng to lớn, đàng hoàng hơn, sánh vai với các cường quốc năm châu mà Bác hằng mong ước…

Gia Nguyên

Nguồn Báo Long An online

 


29/06/2020 10:00 CHĐã ban hành
Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong ĐảngNhững chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Vì thế, làm chủ trong Đảng thực chất cũng là quyền làm chủ của mỗi đảng viên trong mọi hoạt động của Đảng, là sự bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ và nghị quyết của Đảng. Nếu dân chủ là "của quý báu nhất của nhân dân" thì dân chủ trong Đảng cũng là "của quý báu nhất của Đảng"; thực hành dân chủ trong Đảng là "chìa khóa vạn năng" giúp Đảng giải quyết mọi khó khăn. Dân chủ có sức mạnh bao nhiêu thì mong muốn thực thi dân chủ trong Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lớn bấy nhiêu. Bàn về vấn đề này, Người có những quan điểm chỉ đạo sau đây:

 hinh 1.jpg

Thứ nhất, cần thiết phải mở rộng thực hành dân chủ trong Đảng, bởi lẻ nước ta là nước dân chủ, chế độ ta là chế độ dân chủ, nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân; cho nên, lực lượng lãnh đạo tất yếu phải hoạt động theo nguyên tắc tập hợp dân chủ, đảng viên của Đảng phải làm việc, lãnh đạo theo phong cách dân chủ. Hơn nữa, với sứ mệnh là lực lượng lãnh đạo, có trách nhiệm nêu gương cho nhân dân, sự dân chủ trong Đảng sẽ là điều kiện để thực thi dân chủ trong xã hội. Theo Người "dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau"; mất dân chủ trong Đảng sẽ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết và làm nảy sinh các thói xấu như "không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng", "trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm"… Sự cần thiết phải mở rộng dân chủ trong Đảng còn bắt nguồn từ một thực tế là "cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng", ở trong Đảng còn không ít cán bộ "miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ". Đoàn kết, sáng kiến và sự nhiệt huyết của cán bộ luôn là hệ quả của dân chủ. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải sửa đổi lối làm việc, "phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng".

Thứ hai, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ trong Đảng không đơn thuần là việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà mọi hoạt động của Đảng đều phải dựa trên nền tảng dân chủ và hướng tới mục tiêu dân chủ.

Trước hết, tính dân chủ phải được thể hiện trong mục tiêu, lý tưởng của Đảng là vì nước, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng". Đặc biệt, khi đã giành được chính quyền thì Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ, Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Phụng sự nhân dân phải trở thành lẽ sống và động cơ phấn đấu của những người muốn đứng vào hàng ngũ của Đảng. Nhân dân là chủ nhân của xã hội nên vì dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân chính là thứ dân chủ đích thực nhất và điều đó làm nên sự vĩ đại của Đảng, tăng cường sự gắn kết giữa Đảng và nhân dân.

Tính dân chủ còn phải "thấm sâu" vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Để cán bộ, đảng viên hiểu rõ quyền của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra các biểu hiện của dân chủ trong Đảng: Nghị quyết của Đảng phải được thảo luận, tranh luận thẳng thắn, góp ý và biểu quyết; các cơ quan lãnh đạo phải do đảng viên bầu ra; quyền lực của cơ quan lãnh đạo là do các đảng viên giao phó… Đặc biệt, quyền tự do bày tỏ ý kiến của mọi đảng viên nhất thiết phải được thực thi vì đó không chỉ là cách thức tốt nhất để có đường lối đúng mà còn là tiền đề tốt để đường lối được triển khai có hiệu quả trong thực tiễn. Dân chủ trong Đảng còn là sự bình đẳng giữa cấp trên và cấp dưới; người lãnh đạo cần phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, kể cả các ý kiến trái chiều. Nếu có ý tưởng tốt thì người lãnh đạo cũng phải kiên trì, khéo léo biến nó trở thành ý chí của tập thể, không được phép áp đặt quan điểm cá nhân một cách thô bạo. Những ý kiến thuộc về thiểu số phải được bảo lưu, đệ trình lên cấp trên xem xét.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là nguyên tắc lãnh đạo, vừa là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải: "Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung". Thực thi nguyên tắc này giúp Đảng vừa tránh được sự chuyên quyền, độc đoán - kẻ thù của dân chủ, vừa phát huy được trí tuệ, kinh nghiệm của nhiều người, đồng thời cũng tránh được căn bệnh vô trách nhiệm hay thói "tranh công, đổ tội".

Tính dân chủ trong Đảng còn phải được thể hiện trong việc thực thi nguyên tắc tự phê bình và phê bình - "vũ khí sắc bén nhất" giúp Đảng ngày càng mạnh. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ, thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn". Người còn yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải có thái độ khiêm tốn, cầu thị, không được thù hằn cá nhân khi tiếp nhận ý kiến phê bình của cấp dưới. Sự bình đẳng và thái độ tôn trọng cấp dưới của người lãnh đạo chính là thước đo "hàm lượng" dân chủ của tổ chức đảng.

Nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh tự giác cũng toát lên tinh thần dân chủ khi quy định tất cả mọi tổ chức đảng, không phân biệt cấp cao hay cấp thấp, tất cả mọi đảng viên, không phân biệt cán bộ lãnh đạo hay đảng viên bình thường, đều bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước mọi quyết định của Đảng và đều phải giữ vững kỷ luật của Đảng, phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng cũng thấm nhuần tinh thần dân chủ. Mọi đảng viên đều có trách nhiệm giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng và người lãnh đạo phải là trung tâm của sự đoàn kết. Rõ ràng là, nếu mọi nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng đều được tuân thủ và thực hành triệt để thì dân chủ trong Đảng sẽ được nâng cao.

Không chỉ vậy, bản chất dân chủ của Đảng được thể hiện rõ nhất trong cách lãnh đạo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đúng trước hết là "quyết định mọi điều cho đúng" và Người chỉ dẫn "quy trình" làm chính sách hết sức dân chủ như sau: Đầu tiên, cán bộ phải thành tâm, chịu khó, khéo léo khơi gợi để quần chúng nói lên ý kiến của mình; sau đó phải "khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng"; nếu nghị quyết nào mà dân chúng cho là không hợp thì đề nghị họ nêu phương án sữa chữa. Đề cao tinh thần dân chủ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán căn bệnh duy ý chí mà Người gọi là "đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo".

Lãnh đạo đúng còn là "tổ chức thi hành cho đúng"; cho nên, bằng mọi cách, người cán bộ phải biến chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng. Do thực tiễn luôn phong phú hơn lý luận nên nếu chính sách nào không phù hợp thì cán bộ "phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi và sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc". Việc cho phép cán bộ giải quyết công việc một cách linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở lấy lợi ích của nhân dân làm thước đo chân lý cũng biểu hiện tính dân chủ trong Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đúng còn là "kiểm soát đúng". Kiểm soát có hai cách, không chỉ là từ trên xuống mà còn là từ dưới lên; quần chúng nhân dân và cán bộ cấp dưới kiểm soát cán bộ cấp trên bằng sự góp ý, phê bình công tác lãnh đạo và bằng sự lựa chọn người lãnh đạo.

Khi nêu gương (chứ không phải quyền uy, mệnh lệnh thô bạo) được xem là một trong những phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng thì điều đó cũng thể hiện tinh thần dân chủ. Nói về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: "Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Người còn nhấn mạnh: "Nhất là người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo". Dân chủ không phải là sự ban ơn của Đảng hay cấp trên ban cho cấp dưới và nhân dân mà chính là yêu cầu nội tại của công tác lãnh đạo, thể hiện đạo lý và phong cách cần thiết của người lãnh đạo.

Sức mạnh của Đảng được tạo dựng bởi đội ngũ cán bộ nên muốn mở rộng dân chủ trong Đảng thì công tác cán bộ phải thực sự dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn "Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu", phải thực sự tôn trọng cán bộ. Tôn trọng cán bộ trước hết là tôn trọng ý nguyện của họ nên trước khi giao công tác, cần phải bàn kỹ với họ. Nếu họ cảm thấy quá sức, "gánh không nổi thì không miễn cưỡng, nhưng nếu đã giao việc thì phải giao quyền, phải động viên để cán bộ có gan phụ trách", mạnh dạn phát huy năng lực sáng tạo. Tôn trọng cán bộ thì phải giữ cho họ uy tín và sự tự tin nên nếu việc gì thực sự quá sức thì "tốt nhất là đổi việc khác cho thích hợp với họ, mà không cần cho họ biết vì họ không làm nổi việc kia. Đó là để giữ lòng hăng hái của họ, để cho họ khỏi nản lòng". Cách mạng là sáng tạo với vô vàn công việc mang tính khảo nghiệm nên khó tránh khỏi mắc sai lầm. Vì vậy, khi cán bộ cấp dưới mắc sai lầm thì cấp trên phải giải thích để cấp dưới tự nhận thức và tự nguyện sửa đổi, chứ không phải vì bị cưỡng bức mà sửa đổi. Và để bảo đảm dân chủ trong công tác cán bộ, Đảng cần phải ra sức chống căn bệnh hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa, kéo bè, kéo cánh…

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải "dựa vào ý kiến của dân chúng mà sữa chữa cán bộ và tổ chức ta". Người cho rằng, "nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích". Còn trong nội bộ Đảng, phải hết sức chú trọng công tác phê bình từ dưới lên. Tin cậy, tôn trọng ý kiến và sự lựa chọn của cấp dưới, của quần chúng nhân dân chính là dân chủ.

Thứ ba, mặc dù rất đề cao dân chủ nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý: Dân chủ nhất thiết phải đi đến tập trung và tập trung phải trên nền tảng dân chủ. Giữa dân chủ tập trung là sự hòa quyện hữu cơ, là sự "tương sinh" mật thiết nên nếu thiếu một trong hai yếu tố thì chẳng những Đảng sẽ rơi vào căn bệnh vô tổ chức hoặc độc đoán, chuyên quyền, mà bản thân yếu tố còn lại cũng không thể trở thành "chính nó", đúng như bản chất của nó. Thấu hiểu quan hệ biện chứng đó, nên theo Người, mở rộng dân chủ trong Đảng nhất thiết phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, phải tránh căn bệnh "dân chủ quá trớn". Mặt khác, do dân chủ là "của quý báu nhất" nên nó phải được bảo vệ nghiêm cẩn bằng cách triệt tiêu những yếu tố phản dân chủ. Vì thế, Bác nhấn mạnh, "chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ". Thấu hiểu sức mạnh của dân chủ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc rằng "trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi". Đây là sự đúc kết bao suy tư của Người về một vấn đề căn cốt của Đảng.

Là người "nói ít, làm nhiều", Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề ra hệ thống quan điểm về dân chủ, mà bản thân Người còn là tấm gương ngời sáng về phong cách lãnh đạo dân chủ. Dù là lãnh tụ với uy tín tối cao, Người luôn tôn trọng tập thể, lắng nghe cấp dưới, cho phép cấp dưới tự do thể hiện quan điểm, khuyến khích cán bộ phê bình mình… Những quan điểm đúng đắn, sáng tạo và sự mẫu mực trong thực hành dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn cho toàn thể cán bộ, đảng viên noi theo.

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - Số 939 (4/2020)


20/06/2020 12:00 SAĐã ban hành
Mẩu chuyện: Bác với Điều lệ Hợp tác xãMẩu chuyện: Bác với Điều lệ Hợp tác xã
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến nông dân - lực lượng to lớn của cách mạng. Người luôn khẳng định nông dân Việt Nam là động lực, là gốc của cách mạng Việt Nam, có vai trò to lớn trong khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện nhiệm vụ dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.

BAC HO VOI NONG DAN.jpg 

Những năm tháng cuối đời, tuy sức khỏe yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị hay trong các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc đến Điều lệ hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm, nên lấy ngày ban hành Điều lệ hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được.

Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào chữ nghĩa cầu kỳ, khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La Mã, Bác sửa lại "Chương Một… Hai...", câu "Nhà nước hết lòng giúp đỡ", Bác bỏ chữ "hết lòng" vì thừa. Câu "Xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu", Bác sửa cho chặt chẽ hơn: "Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu", chữ "để lại" vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và hợp tác xã.

Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: "Quỹ tích lũy để khoảng 7 - 10% thu nhập hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân". Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích lũy 5 - 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc, dễ nhớ để làm theo.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bác Hồ với nông dân.


16/06/2020 11:00 CHĐã ban hành
Những nội dung cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nayNhững nội dung cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Bac Ho 8620.jpg 

1. Tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; lấy đó làm nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở Việt Nam gần 35 năm qua. Đảng ta ngày càng trưởng thành hơn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, nâng vao vai trò, vị thế cầm quyền, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng Đảng đã khẳng định, phải tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết, mạnh mẽ nhằm tạo ra một bước chuyển biến rõ rệt hơn nữa trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố tổ chức chặt chẽ; tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xem đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta.

Phương hướng chung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là phải tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, khoa học và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

3. Tiếp tục phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn luôn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp cần phải quan tâm, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; bồi dưỡng sức dân; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút trọng dụng nhân tài; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học - công nghệ; xây dựng và phát triển giá trị, sức mạnh con người Việt Nam; quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

4. Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII); đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước góp phần tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, xem đó là công việc quan trọng cần triển khai thường xuyên; học tập, vận dụng sáng tạo và thực hiện có hiệu quả Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước; kịp thời lựa chọn, phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các mô hình điểm, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, thiết thực trong các phong trào thi đua ở địa bàn cơ sở; các gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới trong các phong trào thi đua yêu nước để tuyên truyền động viên, cổ vũ, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng… Qua đó, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bản tin Thông tin nội bộ - số 05/2020


07/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Đức Huệ sơ kết 04 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trịĐức Huệ sơ kết 04 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị
Chiều ngày 19/5/2020, Ban Thường vụ Huyện ủy Đức Huệ tổ chức sơ kết 04 năm thực hiện Chỉ thị 05 – CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và họp mặt biểu dương, khen thưởng điển hình tiên tiến nhân dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020). Đến dự hội nghị có ông Trần Thanh Phong – Bí thư Huyện ủy Đức Huệ, ông Võ Văn Hy – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, ông Lê Văn Nam – Chủ tịch HĐND huyện.

20-5-2020 ong Tran Thanh Phong  tang hoa cho cac tap the va ca nhan trinh bay tham luan tai hoi nghi.jpg 

Bí thư Huyện ủy – Trần Thanh Phong tặng hoa cho các tập thể và cá nhân trình bày tham luận tại hội nghị.

 20-5-2020 Cac tap the duoc UBND huyen trao giay khen (2).jpg

Các tập thể được UBND huyện trao giấy khen.

Qua 04 năm, huyện Đức Huệ triển khai thực hiện Chỉ thị số 05–CT/TW của Bộ Chính trị về việc "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị cũng như đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn huyện luôn xây dựng chương trình hành động, kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo chuyên đề hàng năm gắn với thực tế ở đơn vị, địa phương đồng thời thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chú trọng lựa chọn nội dung đột phá để tạo chuyển biến rõ nét.

Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện tích cực "học tập" và "làm theo" gương Bác bằng những mô hình, việc làm cụ thể, thiết thực và hiệu quả, chủ yếu bám sát nhiệm vụ chính trị. Qua đó, nhiều phong trào thi đua được triển khai thực hiện ở các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương một cách sinh động, linh hoạt, sáng tạo.

Điển hình như Mặt trận Tổ quốc huyện thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh giai đoạn 2016 – 2020 đã vận động nhân dân đóng góp số tiền trên 2,5 tỷ đồng và 259 ngày công lao động vào các công trình xây dựng nông thôn mới; Hội Nông dân với các mô hình "Tổ kinh tế hợp tác trồng chanh", nuôi gà công nghệ sinh học… Liên đoàn lao động phát động nhiều phong trào thi đua mang lại hiệu quả thiết thục đã thu hút đông đảo công đoàn viên tham gia như: vận động quỹ "Tấm lòng vàng" với số tiền gần 160 triệu đồng, vận động xây dựng 11 mái ấm công đoàn với kinh phí 440 triệu đồng; Hội LHPN thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua như  "Phụ nữ tích cực học tập, lao động, sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc", mô hình "Hủ gạo tình thương", "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương, "Nuôi heo đất" v.v….

Nhiều tham luận của các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực đã minh họa tại hội nghị sơ kết không chỉ đã làm nổi bật mà còn tô thấm thêm và tỏa ngát hương trong khu vườn hoa của huyện nhà trong việc "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" ở thời gian qua.

Dịp này, có 12 tập thể và 27 cá nhân vinh dự nhận giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Đức Huệ vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chỉ thị số 05 – CT/TW của Bộ Chính trị giai đoạn 2018  - 2020.

Tiến Anh


20/05/2020 8:00 SAĐã ban hành
Đức Huệ nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả từ việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TWĐức Huệ nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả từ việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW
Kế thừa, phát huy những thành tích, ưu điểm đã đạt được trong những năm qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Đức Huệ tích cực "học tập" và "ỉàm theo" gương Bác bằng những mô hình, việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, bám sát nhiệm vụ chính trị, gắn việc "học tập" và "làm theo" Bác với nhiều phong trào thi đua yêu nước được triển khai thực hiện ở các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương một cách sinh động, linh hoạt, sáng tạo.

th.jpg

 

Theo đó, việc "học tập" và "làm theo" gương Bác đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động "làm theo" gương Bác. Qua đó, các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương đã thực hiện và duy trì nhiều mô hình có hiệu quả như: mô hình "Thực hành tiết kiệm, chăm lo gia đình chính sách khó khăn" với thời gian thực hiện từ 19/5/2019 - 19/5/2020, kinh phí tiết kiệm sẽ sử dụng hỗ trợ sửa chữa, tu bổ nhà tình nghĩa, giúp đỡ gia đình chính sách nghèo, gặp khó khăn. Mô hình đã được đông đảo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đồng tình hưởng ứng. Kết quả tính đến ngày 31/3/2020, đã vận động đóng góp được số tiền 282.980.000 đồng. Qua đó, góp phần thiết thực chăm lo cho gia đình chính sách, người có công trên địa bàn huyện.

Bên cạnh đó, phong trào thi đua xây dựng mô hình "Dân vận khéo" cũng được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình, hưởng ứng tích cực và từng bước đi vào cuộc sống, nhiều mô hình thi đua "Dân vận khéo" đã góp phần giải quyết nhũng vấn đề bức xúc, phát sinh ở cộng đồng dân cư, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, phát huy dân chủ trong xây dựng nông thôn mới, xã văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở ấp, khu phố, với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Thời gian qua toàn huyện có hàng trăm mô hình, công trình phục vụ nhu cầu đi lại, sản xuất, đời sống ở cộng đồng dân cư do công sức của nhân dân và mạnh thường quân tài trợ, đóng góp. Qua đó, đã góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ và đồng thuận xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng trên địa bàn huyện và xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở trong sạch, vững mạnh, nhất là đã tạo được sự tin tưởng, đồng thuận cao của nhân dân trong thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Mặc khác, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể huyện cũng tích cực xây dựng, phát động trong đoàn viên, hội viên nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả, sáng tạo như: Mặt trận Tố quốc thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, trong giai đoạn 2016 - 2020 đã vận động nhân dân tham gia các công trình xây dựng nông thôn mới... với số tiền trên 2,5 tỷ đồng và đóng góp 259 ngày công lao động. Hội Nông dân với các mô hình "Tổ kinh tế hợp tác trồng chanh", nuôi gà công nghệ sinh học... Liên đoàn lao động phát động nhiều phong trào thi đua mang lại hiệu quả thiết thực, thu hút đông đảo công đoàn viên tham gia như: vận động quỹ "Tấm lòng vàng" với số tiền 159.175.000 đồng, vận động xây dựng 11 mái ấm công đoàn với kinh phí 440 triệu đồng... Hội Liên hiệp Phụ nữ thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua như: "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc"; "Gia đình 5 không, 3 sạch"; "Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc" cùng các mô hình "Hủ gạo tình thương"; "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương", "Nuôi heo đất"; "Bữa cơm nghĩa tình"... Hội Cựu chiến binh phát động phong trào thi đua "Cựu chiến binh gương mẫu" gắn với phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"; "gia đình hội viên không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội"; "Ánh sáng an ninh"; câu lạc bộ chăn nuôi trâu, bò... Huyện Đoàn tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Năm xung kích phát triên kinh tê - xã hội"; "4 đông hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp" bằng những việc làm thiết thực với hàng chục đợt ra quân tình nguyện thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia, tạo phong trào thi đua sôi nổi trong lực lượng đoàn viên thanh niên.

Đối với cấp cơ sở: Qua 4 thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị đã xuất hiện nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả như: xã Mỹ Thạnh Đông với mô hình "Thay trụ điện cây bằng trụ bê tông" kết hợp rải đá đường giao thông nông thôn với kinh phí 550.200.000 đồng và hơn 65 ngày công lao động; xã Mỹ Bình với mô hình "Nuôi heo đất" với số tiền 66.000.000 đồng; xã Mỹ Quý Tây, xã Bình Thành với mô hình câu lạc bộ chăn nuôi trâu, bò nhằm giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho hội viên; xã Mỹ Thạnh Tây với mô hình "Giúp hộ nghèo thoát nghèo bền vững", vận động mạnh thường quân xây dựng 07 căn nhà tình nghĩa, 06 căn nhà tình thương, 07 căn nhà đại đoàn kết và sửa chữa 03 căn nhà tình nghĩa với kinh phí 967 triệu đồng...

Những kết quả đạt được trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là cơ sở, nền tảng quan trọng góp phần vào kết quả thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh của các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương. Ngoài ra, còn rất nhiều gương điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực đời sống xã hội, ở các ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương đã và đang ra sức tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, đáng được trân trọng và biểu dương.

Tấn Hữu


 


19/05/2020 11:00 CHĐã ban hành
Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người vĩ đại từ những điều giản dịChủ tịch Hồ Chí Minh: Người vĩ đại từ những điều giản dị
 "Giản dị-lão thực-hiền minh" là những đặc tính nổi bật trong đạo đức, lối sống và phong cách Hồ Chí Minh, sự giản dị một cách tự nhiên vốn có của một bậc vĩ nhân, hiền triết.

1305bacho1.jpg 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nông dân tỉnh Bắc Kạn đang thu hoạch lúa mùa năm 1950. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: "Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu đã cảm thấy thân thiết từ lâu."

"Giản dị-lão thực-hiền minh" là những đặc tính nổi bật trong đạo đức, lối sống và phong cách Hồ Chí Minh, sự giản dị một cách tự nhiên vốn có của một bậc vĩ nhân, hiền triết.

Cuộc sống riêng giản dị và thanh bạch

Tấm gương giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày - đó là đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị và thanh bạch.

Dù là anh Văn Ba phụ bếp trên tàu Đô đốc Latouche Tréville, là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng đầy khó khăn ở thủ đô Paris, nước Pháp, sau này là một vị Chủ tịch nước sống kham khổ nơi chiến khu trong những năm kháng chiến, hay là một vị nguyên thủ quốc gia sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch ở Thủ đô Hà Nội, thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh hết sức giản dị, yêu lao động.

Đức tính giản dị, thanh bạch của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trước hết trong lối ăn, mặc, ở của Người.

Đã là người Việt Nam, hẳn không ai là không biết hay nghe kể về cuộc sống giản dị của Bác. Mấy chục năm xa cách quê hương, trở về, Người vẫn yêu thích những món ăn mang đậm quê nhà như cá kho, cà muối…

Kể cả khi hòa bình, về Hà Nội, Người ăn uống vẫn rất thanh đạm. Sau khi xong bữa, Người luôn tự tay thu dọn bát đũa gọn gàng để người phục vụ chỉ việc mang đi.

Quần áo Người mặc thường ngày cũng chỉ là bộ bà ba màu nâu với đôi dép cao su, khi tiếp khách hay đến những sự kiện quan trọng cũng chỉ bộ kaki với đôi giày vải.

Lúc ở chiến khu, Người sống chung với cán bộ, nhân viên, cùng ăn ở, sinh hoạt như mọi người. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Người cùng Trung ương Đảng trở về Hà Nội.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Đảng và nhà nước trân trọng mời Bác về ở tại tòa nhà của Toàn quyền Đông Dương trước kia, nhưng Bác đã từ chối và chọn cho mình ngôi nhà nhỏ của một người thợ điện phục vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương để ở và làm việc.

Đến năm 1958, theo ý tưởng của Người, Đảng và Nhà nước đã dựng cho Người ngôi nhà sàn bằng gỗ theo kiểu nhà của đồng bào dân tộc thiểu số ở chiến khu Việt Bắc, giống như ngôi nhà Người đã từng sống và đồng cam cộng khổ với đồng bào trong những năm kháng chiến chống Pháp.

"Ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị, ngát hương thơm cây cỏ hoa vườn nhưng tâm hồn thì lộng gió bốn phương thời đại" (Thủ tướng Phạm Văn Đồng) và cũng như lời nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Nhà gác đơn sơ một góc vườn/ Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn/ Giường mây, chiếu cói, đơn chăn gối/ Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn" (bài thơ "Theo chân Bác.")

Chính vì vậy, nơi ở và làm việc của Người tại Phủ Chủ tịch đã trở thành một địa danh phản chiếu về cuộc đời thanh bạch và giản dị của Người. Và ngôi nhà sàn thân thương là nơi đã ghi dấu nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình hoạt động cách mạng của Bác.

Vào những năm đế quốc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc, Bác đã viết lời kêu gọi đồng bào quyết tâm đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Cũng tại đây, Bác viết Bản Di chúc lịch sử với những căn dặn tâm huyết để lại cho đời sau… 

Cả cuộc đời, Người luôn hết lòng yêu thương con người, yêu thiên nhiên, yêu tất cả sự sống. Người đặc biệt kính già, yêu trẻ, thương bộ đội, chiến sỹ dân công. Người "nâng niu tất cả, chỉ quên mình."

Người cảm thông, chia sẻ, đau nỗi đau của mọi người, mọi nhà. Người vui niềm vui từ một ánh trăng soi, một bông hoa nở, một nụ cười, tiếng hát trẻ thơ. Những rung cảm tinh tế đó trở thành niềm hạnh phúc của Người, rồi trở thành vẻ đẹp cao quý của đạo đức và tâm hồn Hồ Chí Minh.

Trí tuệ uyên bác, nhân cách cao đẹp

Không chỉ thể hiện trong lối sống, đức tính khiêm tốn, giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện thông qua cách nói, cách viết, cách làm việc của Người.

 1305bacho2.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và tham gia tát nước chống hạn cùng nông dân xã Đại Thanh, Hà Đông (nay là Hà Nội), ngày 12/1/1958. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Người mang tri thức uyên bác Đông Tây kim cổ, thông thạo nhiều ngoại ngữ, là nhà chính trị tài ba, nhà ngoại giao sắc sảo, nhà báo, nhà thơ lớn của dân tộc, nhưng Người tuyệt nhiên không cao đạo, không hàn lâm bác học.

Ngược lại, Người suy nghĩ, cảm xúc, nói và viết như lời ăn tiếng nói của người dân bình thường. Người truyền tải những tư tưởng lớn một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, đơn giản, không triết lý dài dòng, không vòng vo khuôn sáo, từ đó đi thẳng vào lòng dân chúng như những lẽ phải thông thường.

Dù là lãnh tụ tối cao nhưng khi tiếp xúc với nhân dân, cử chỉ, lời nói của Người vẫn hết sức mộc mạc, dân dã. Ngay cả khi đứng trên lễ đài đọc Bản tuyên ngôn độc lập lịch sử, trước hàng nghìn dân chúng, Người cũng dừng lại để hỏi: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?"

Một câu nói chân thật, giản dị đã xóa nhòa khoảng cách giữa người đứng trên lễ đài với hàng triệu người đang lắng nghe. Hiếm có vị lãnh tụ nào trên thế giới có nếp nghĩ, cách nói giản dị, chân thành như thế!

Không chỉ trong lời ăn tiếng nói, Bác luôn quan tâm, gần gũi nhân dân bằng những hành động cụ thể thiết thực. Bác đến với các chiến sỹ trên mặt trận, cùng chiến sỹ hành quân; Bác đi thăm chỗ ở, nhà bếp, nhà vệ sinh của các gia đình, tập thể; Bác trực tiếp xuống ruộng làm việc, hướng dẫn bà con về sâu bệnh, về thủy lợi; Bác đến thăm các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học; Bác viết thư thăm hỏi người già, trẻ em…

Bác luôn chủ động tiếp xúc, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó đi vào lòng dân bằng trái tim nhân hậu, đồng cảm. Sự giản dị đó hết sức tự nhiên, ở ngay trong lòng dân, trong cuộc sống của nhân dân, do đó ai cũng có thể học tập và làm theo đức tính giản dị của Người.

Lối sống giản dị, thanh tao của Bác là cả một nét đẹp văn hóa, cũng đồng thời là bản lĩnh văn hóa của Người.

Người thanh cao, giản dị chứ không hề giản đơn, bởi suốt đời, Người không màng danh lợi, mà chỉ theo đuổi một mục tiêu cao cả: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.161)...

Thanh tao ấy là cốt cách của bậc hiền triết Á Đông, đậm bản sắc Việt Nam và cũng lấp lánh tinh thần minh triết Hồ Chí Minh. Là người bạn lớn của nhân dân các dân tộc, Hồ Chí Minh đem tấm lòng chân thành và khiêm tốn, cả sự tinh tế đầy chất nhân văn và tình người để thắt chặt tình hữu nghị, đưa thế giới đến với Việt Nam và đem hình ảnh Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

Nhà nghiên cứu Ba Lan Hélène Tourmaire, trong tác phẩm "Trở thành người Bác như thế nào?" đã viết: "Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình… Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Marx, thiên tài cách mạng của Lenin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên."

Cũng từ sự vĩ đại mà giản dị đó, tên gọi của Người đã trở thành huyền thoại, một cái tên khiến cho đồng bào yêu kính, bạn bè quốc tế cảm phục, ngưỡng mộ, Người là Hồ Chí Minh./.

Gia Khánh

Theo TTXVN

 


18/05/2020 9:00 SAĐã ban hành
Nguyên tắc "dụng nhân như dụng mộc" trong công tác xây dựng ĐảngNguyên tắc "dụng nhân như dụng mộc" trong công tác xây dựng Đảng
Hiện nay, toàn Đảng đang tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Trong đó, công tác chuẩn bị nhân sự để bố trí, sắp xếp vào các vị trí lãnh đạo nhiệm kỳ tới có vị trí cực kỳ quan trọng, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đánh giá: "Đây là công việc có ý nghĩa chiến lược gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước".

Thực hiện tốt nguyên tắc "dụng nhân như dụng mộc" sẽ là "cẩm nang" để lựa chọn đội ngũ cán bộ thực sự tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín,có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong tình hình mới. "Dụng nhân như dụng mộc" – đó là nguyên tắc dùng người được người xưa đúc kết. Mỗi loại gỗ đều có công năng khác nhau, nếu biết chọn đúng loại gỗ, người thợ sẽ làm ra sản phẩm ưng ý.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: "Dùng người cũng như dùng gỗ". Người thường nói: "Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng cong đều tùy chỗ mà dùng được". Phương cách "dụng nhân" của Hồ Chí Minh là sử dụng cán bộ "đúng chỗ, đúng việc", "tùy tài mà dùng người": "Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy". Nhờ thực hiện nguyên tắc "Dụng nhân như dụng mộc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được đông đảo những người có đủ đức độ, tài năng tham gia Chính phủ khi nước nhà vừa mới giành độc lập; phát hiện, huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ trở thành các nhà lãnh đạo ưu tú của Đảng và Nhà nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác cán bộ là khâu then chốt trong xây dựng Đảng, là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Trong đó, sử dụng cán bộ là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu cán bộ được sử dụng đúng chỗ, đúng việc, đúng chuyên môn, sở trường sẽ phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của họ, đồng thời thúc đẩy công việc chung phát triển. Sử dụng cán bộ không đúng với khả năng chuyên môn, không đúng chỗ, đúng việc, sẽ ảnh hưởng đến kết quả công việc, cán bộ khó có điều kiện để phát huy hết năng lực, sở trường của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tổng kết: Biết dùng người, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ. Dùng người không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại.

Trong nhiệm kỳ này, việc bố trí, sử dụng cán bộ của Đảng thực sự đem lại hiệu quả, nhiều cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đã khẳng định được vai trò, năng lực quản lý, điều hành trong các lĩnh vực được phân công. Về cơ bản, đội ngũ cán bộ được sử dụng đúng năng lực, sở trường, chuyên ngành đào tạo và phát huy tác dụng tốt. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã khẳng định: "Sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ 20 năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, đội ngũ cán bộ của ta hiện nay đông nhưng chưa thật mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc; bố trí cán bộ không đúng chỗ, không đúng chuyên môn, sở trường...

Để lựa chọn, sử dụng cán bộ "đúng chỗ, đúng việc", trước hết cần sớm hoàn thiện cơ chế trọng dụng nhân tài; xây dựng cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc. Quan điểm chung là, sử dụng cán bộ trước hết phải vì công việc, vì việc mà bố trí người, không vì người mà giao việc. Lựa chọn được cán bộ phù hợp với công việc mới chỉ là bước đầu của việc dùng người. Trong quá trình sử dụng cán bộ, cần thường xuyên đánh giá cán bộ, đặc biệt là phát hiện những cán bộ có năng lực nổi trội và triển vọng phát triển để tính toán giao cho họ nhiệm vụ lớn hơn, trách nhiệm cao hơn, luân chuyển đến những địa bàn và lĩnh vực công tác khó khăn, phức tạp hơn để họ tiếp tục khẳng định năng lực của mình. Tập thể, cá nhân có thẩm quyền trong bố trí, sử dụng cán bộ phải thật sự công tâm, khách quan, đặt lợi ích của quốc gia – dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên, lên trước; kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài; đồng thời không để lọt người không đủ phẩm chất và năng lực vào các vị trí lãnh đạo.

Nguyên tắc "Dụng nhân như dụng mộc" còn được hiểu và áp dụng trong việc lựa chọn người đứng đầu.  Thực tế đã chứng minh, người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng. Những bộ, cơ quan, địa phương nào người đứng đầu thể hiện được vai trò "thủ lĩnh", nêu gương sáng về đạo đức, lối sống..., thì ở đó nội bộ đoàn kết, tổ chức đảng và chính quyền vững mạnh; sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng cao và ở đó kinh tế - xã hội phát triển.

Dấu ấn của người đứng đầu ở những bộ, cơ quan, địa phương này thể hiện rất nổi bật, được nhân dân ghi nhận và đánh giá cao. Ngược lại, ở bộ, cơ quan, địa phương nào, người đứng đầu thiếu gương mẫu, uy tín thấp, suy thoái về đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm... thì ở đó nội bộ mất đoàn kết, kinh tế kém phát triển, nhiệm vụ chính trị không hoàn thành. Bản thân người đứng đầu ở những nơi đó vướng vào vòng lao lý, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp dưới phải chịu những hình thức xử lý nghiêm khắc. Những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí... ở một số bộ, địa phương gây bức xúc trong dư luận thời gian qua đều liên quan đến trách nhiệm của người đứng đầu. Cho nên, khi lựa chọn nhân sự cho vị trí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cần phải tiến hành thận trọng, khách quan, đúng quy trình, bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định của Trung ương.

Ban biên tập

Nguồn cand.com.vn


13/05/2020 3:00 CHĐã ban hành
Gia đình Bác – Tinh hoa gia đình ViệtGia đình Bác – Tinh hoa gia đình Việt
Khi đọc quyển Di chúc thiêng liêng của Bác, có một nhận định đã đọng lại trong tôi rất nhiều cảm xúc và tôi không quên được đó là câu của Tổng Bí thư Lê Duẩn nói về Bác tại lễ tang của Người: "Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, vị anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta...".

Qua học tập, tôi đã biết Bác là một con người vĩ đại, một người con ưu tú của dân tộc Việt Nam là như thế nào? Và trên thế giới này cũng chưa có một lãnh tụ nào được tổ chức UNESCO phong tặng hai danh hiệu như Bác của chúng ta: Anh hùng giải phóng dân tộc- Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Bằng tấm lòng yêu nước nồng nàn, thương dân tha thiết và ý chí căm thù giặc sâu sắc. Bác đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thách thức, từ thân phận nô lệ để đi đến bến bờ vinh quang-đứng lên làm chủ đất nước và giúp các nước thuộc địa trên thế giới đứng lên tự giải phóng mình.

Nhiều năm trước, tôi đã có tìm hiểu về tiểu sử, thời niên thiếu, quá trình đi tìm đường cứu nước của Bác, cũng như những nội dung (chín nội dung) trong tư tưởng của Người. Nhưng bản thân tôi chưa tìm được sách, báo nào nói cụ thể về cuộc đời, sự nghiệp, gia cảnh... của những người trong gia đình Bác? Đến thời gian gần đây, tôi đã đến trường Dục Thanh, tôi đã tìm được quyển "Những người thân trong gia đình Bác Hồ" của tác giả Trần Minh Siêu do nhà sách Nghệ An xuất bản. Những thông tin trong quyển sách ấy, đã giúp tôi hiểu ra những gì mình muốn tìm kiếm. Lần đầu tiên đọc quyển sách ấy, dù nhà xuất bản không đưa ra nhận định về những thành viên trong gia đình Bác nhưng tôi đã tự đúc kết rằng: Không chỉ riêng Bác mà những người thân trong gia đình Bác, đều là người con ưu tú của quê hương Nam Đàn, Nghệ An và của  dân tộc Việt Nam, mỗi người đều có nhân cách cao quý, suốt đời phấn đấu cho quê hương, đất nước, là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo. Cốt cách của từng người, tiêu biểu cho từng thế hệ, từng vai thứ, bổn phận, vai trò, trách nhiệm của con người Việt Nam đối với gia đình, xã hội trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể. Tựu chung những phẩm chất cao quý của những người thân trong gia đình Bác, đều là đại diện cho những đức tính tốt đẹp, truyền thống quý báu của dân tộc ta. Cũng có thể nói rằng, gia đình Bác là gia đình kiểu mẫu, là tế bào gốc, chứa đựng tất cả tinh hoa tạo nên một bức tranh đẹp đầy tự hào cho dân tộc Việt. Tổng hợp những đức tính tốt đẹp từ những con người cụ thể trong ngôi nhà ấy, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy nó hiện hữu trong từng người, từng nhà, từng thế hệ trong khắp xã hội Việt Nam ta.

* Đầu tiên, chúng ta nói về cụ Nguyễn Sinh Sắc (1863-1926)

Ông là người có nhiều tố chất cao quý như:

- Cần cù, nổ lực, hiếu học

Dù từ nhỏ ông đã mồ côi cả cha lẫn mẹ: ba tuổi mẹ mất, bốn tuổi cha mất. Ông phải về sống với người anh cùng cha khác mẹ với mình, nhưng kinh tế gia đình người anh (ông Nguyễn Sinh Trợ) đang trong giai đoạn khó khăn, ông không được đi học hành như những đứa trẻ cùng trang lứa mà phải giúp anh làm việc nhà và chăn trâu trên đồng. Nhưng ông đã vượt lên khó khăn, tụ học, tự rèn và còn học giỏi hơn những người cùng trang lức được đi học tử tế.

Sau khi được cụ Hoàng Đường đem vể nuôi dạy, tạo điều kiện cho ăn học và giai đoạn sau thì có sự chăm lo, giúp sức, ủng hộ của người vợ, ông đã thi đỗ nhiều kỳ thi: Kỳ thi tuyển sinh ở huyện Nam Đàn (1980); đậu kỳ thi Hương (1891) và đậu cử nhân (1894); đậu phó bảng (1901)

Điều đó cho thấy, ông luôn nổ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn để đạt thành tích trong học tập.

- Khiêm tốn, giản dị

Khi ông đậu cử nhân, địa phương tổ chức lễ tiệc đẽ đón tân khoa, ông lấy lý do đang chịu tang bố vợ nên không tham dự, mà chỉ làm lễ bái ở nhà thờ rồi sau đó đi bộ về nhà.

Hai mươi năm sau, ông đậu phó bảng kỳ thi hội ở Huế. Lần này, ông cũng được chuẩn bị võng, lọng, cờ, trống lên tỉnh để rước ông bái tổ vinh quy. Lúc này ông lại viện lý do là đang chịu tang vợ nên cũng từ chối lễ rước. Theo quy định ông được nhân dân xã Chung Cự trích cho 200 quan tiền quỹ để ông làm cổ đãi mọi người, nhưng ông chỉ nhận 10 quan tiền để mua trầu, nước để mời dân làng, phần còn lại ông đem đi chia cho dân nghèo. Ông còn tận tình đi xuống từng nhà chỉ cho bà con tìm chọn mua nguyên vật liệu làm nghề, chăn nuôi...Nguồn vốn đó, có nơi còn duy trì đến tận năm 1945.

Trong thời kỳ làm quan, trong nhà, ông viết "vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng" (đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) để răn dạy con. Riêng đối với bản thân ông, chúng ta luôn thấy hình ảnh của ông gắng với bộ áo bà ba đen sờn vai với đôi guốc mộc. Hai thứ ấy, nó theo ông đến lúc ông tạ thế.

- Yêu nước, thương dân, chăm lo cho dân

Khi ông đỗ đạt, triều đình Huế nhiều lần mời ông ra làm quan nhưng ông từ chối với lý do bị bệnh phải ở nhà để chạy chữa thuốc than, nhưng thực chất không ra làm quan là để ở nhà dạy học cho trẻ em nghèo trong làng.

Tháng 5/1905, khi ông hết tang vợ, triều đình lại giục ông ra làm quan, lúc ông ra đi chỉ để lại cho cô con gái lớn là bà Nguyễn Thị Thanh ít sào ruộng để canh tác mưu sinh, còn số ruộng còn lại của gia đình ông đem bán hết lấy tiền đi giúp những gia đình trong làng có người bị giặc bắt đi phu phen.

Thời gian làm tri huyện ở huyện Bình Khê (Bình Định), ông ít có mặt ở huyện đường mà thường đi đến từng nhà dân để thăm hỏi, khám bệnh cho dân; các tù chính trị trong phong trào chống thuế bị triều đình bắt giam, ông tìm cách thả ra hết; còn các vụ kiện của những tên quan lại, ác ôn thì ông không xét xử vụ nào.

- Người có tư tưởng tiến bộ

Ông thường đi đến các địa danh gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp sôi nổi và anh dũng và tìm đàm đạo với các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu để nắm vận mệnh của đất nước và tìm con đường cứu nước.

Nếu như các nho sĩ khác không cho con mình theo học ở trường Pháp - Việt, vì vào đấy là phải học chữ Pháp, bỏ mất chữ Nho là mất chữ thánh hiền. Các sĩ phu cho rằng, chữ Pháp là chữ của kẻ thù không cho con mình học, thì ông Sắc lại cho hai con trai của mình học ở trường đó. Đây là điểu kiện để con ông chứng kiến thực trạng xã hội của chế độ phong kiến, để tiếp xúc với nền văn minh Pháp. Đặc biệt, là để thấy rõ bộ mặt thật đê hèn của Pháp đằng sau các từ mỹ miều "tự do, bình đẳng, bát ái"

Lúc ông làm quan ở Bình Khê, khi con trai đến thăm ông, ông đã bảo quay về và nói "nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có ích gì". Từ cuộc gặp gỡ đó, đã thôi thức thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Hay lúc ông làm thầy thuốc ở Sài Gòn, làm lương y ở Đồng Tháp, thì được rất nhiều người dân nể phục, thương yêu, trong đó có không ít thanh niên cảm phục ông thường đến thăm ông, ông đã dạy: "mày đến thăm tao tao cũng thế. Chẳng đến thăm tao cũng thế này. Chúng mày đang tuổi thanh niên phải học hành và làm việc. Đến thăm tao phỏng có ích gì".

Để cho con an tâm làm cách mạng, khi ông Lê Mạnh Trình đến từ biệt ông để đi sang Quảng Châu dự lớp Thanh niên cách mạng Đồng chí hội. Ông Sắc nhắn gửi cho con trai" "cháu ra đi cố gắng. Bác nghe nói Quốc đang ở Quảng Châu. Cháu gặp thì nói bác vẫn khỏe, đừng lo, cứ cố gắng làm việc...trung với nước tức là hiếu với bác". Đây là tư tưởng tiến bộ mang tính vượt thời đại.

- Cống hiến đến suốt đời.

Ông thường dạy chữ nghĩa cho học trò nghèo, cho thanh niên, xem mạch, kê đơn, bóc thuốc cho dân nghèo từ Nam Đàn đến tận Đồng Tháp, từ lúc còn trẻ đến lúc tạ thế.

Khi tuổi về chiều, tuy sức khỏe đã yếu ông vẫn ngày ngày đi xuồng đến từng nhà khám bệnh, kê đơn cho bà con ở Đồng Tháp, chiều về bào chế thuốc, tối đi đàm đạo với bạn bè tìm đường giúp dân, cứu nước.

Đến lúc còn những hơi thở cuối cùng, ông biết mình không qua khỏi, ông cũng gượng dậy trao tặng cho ông Lê Chánh Đáng phương thuốc y học dân tộc bí truyền để giúp dân và qua đó nhờ gửi cho con gái Nguyễn Thị Thanh tập thơ rồi trút hơi thở cuối cùng tại Cao Lãnh Đồng Tháp, hưởng thọ 66 tuổi.

* Thứ hai, nói vể Bà Hoàng Thị Loan (1968-1901)

Là người phụ nữ sinh ra trong gia đình truyền thống gia giáo, nho học lâu đời. Trong bà, hội tụ đầy đủ bốn đức tính Công, Dung, Ngôn, Hạnh của người phụ nữ phương Đông. Nó được cụ thể hóa trong cuộc sống hằng ngày từ lúc còn ở cùng với cha mẹ đến lúc lìa xa cỗi đời nơi xứ lạ quê người. Bà là người phụ nữ:

- Xinh đẹp, tài giỏi, đảm đang

Từ nhỏ bà đã sớm thể hiện là người thuộc và thông hiểu nhất về những điệu hát ở Hí vải phường (hát giao duyên lúc dệt vải). Những người khác chỉ đơn thuần là học thuộc và hát giao lưu trong lúc dệt vải, nhưng riêng bà bà hiểu tận tường ý nghĩa của từng câu chữ mà mình hát.

Khi 16 tuổi bà đã là trụ cột cho gia đình, toàn tâm, toàn ý lo cho gia đình để chồng an tâm lo việc sách đèn. Bà lao động cật lực không để chồng, con thiếu thốn. Buổi sáng bà tảo tần ngoài đồng ruộng, tối về dệt vải, ru con:

 " À ơi!

Ru con, con ngủ đi nào

Mong con khôn lớn nên người khôn ngoan

Là trai gánh vác giang san

Mẹ cha trông xuống, thế gian trong vào

Ru con, con ngủ đi nào

Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng

Làm trai quyết chí anh hùng

Ra tay xây dựng vẫy vùng nước non".

- Chịu thương, chịu khó

Năm 1895, do muốn giúp chồng theo đuổi con đường học vấn, bà phải gửi con gái lớn ở lại quê với mẹ mà khăn gối cùng chùng và hai con trai di lý vào kinh đô Huế lao động nuôi chồng, nuôi con ăn học, làm hậu phương vững chắc cho chồng an tâm mài kinh nấu sử ở trường Quốc Tử Giám.

Trong suốt hành trình cùng chồng đi tìm con đường học vấn, bà lúc nào cũng  chân đi dép mo cau, vai quẩy đoàn gánh, một bên là con nhỏ, một bên là cả gia đình mang theo, vượt bao suối, bao đèo, suốt giữa những ngày mưa rào, những ngày nắng gắt. Cũng chính hình ấy, mà cả đời ông Sắc không bao giờ quên về người vợ tào khan của mình.

Những ngày ở Huế, với quyết tâm không muốn chồng dừng con đường học tập vì thiếu cơm, áo, không để con mình quá thiếu thốn, trong 5 năm 1895-1901 khung cửi của bà không một ngày ngừng tiếng thoi đưa.

Sống giữa chốn bộn bề ở Kinh thành Huế, bà nuôi gia đình bằng nghề vệt dải truyền thống, nhưng bà phải chật vật lắm mới lo đủ cái ăn, cái mặt cho gia đình, vì sản phẩm của bà làm ra không đủ sức cạnh tranh nơi chốn đô thành xa hoa, tráng lệ. Do đó, bà phải sử dụng sự khéo léo của mình để làm ra những sản phẩm tốt nhất đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng lúc bấy giờ. Chính những ngày tháng lao động cơ cực, cộng với cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nơi xứ người đã bào mòn sức khỏe của bà đến cạn kiệt. Và bà đã từ biệt cỡi đời khi tuổi còn rất trẻ -33 tuổi

- Luôn lạc quan về tương lai của chồng con

Suốt đời tảo tần vì gia đình nhưng bà chưa bao giờ than thân trách phận mà luôn tin tưởng ông Sắc sẽ công thành danh toại cùng bà bái tổ vinh qui về làng. Bà có lòng tin vững chắc về tài đức của chồng. Đó còn là động lực để bà lao động không mệt mỏi bao năm và cũng là giúp chồng thực hiện di nguyện của cha mình- cụ Hoàng Đường trước khi qua đời.

Từ nhỏ bà luôn dạy các con những điều hay lẻ phải, làm việc tốt, biết kính trọng người trên, biết sống chan hòa với bạn bè, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết nhường nhịn mọi người và phải yêu quê hương đất nước.

 "Con ơn mẹ dạy câu này

Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm người đói sạch rách thơm

Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền"  

* Thứ ba, Bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954)

- Thông minh, xinh đẹp

Chị gái của Bác tuy không được học cao nhưng là người có nhiều kiến thức, am hiển về nhiều lĩnh vực như: Hán học, y học dân tộc, kiến thức nhà nông, mưu trí trong cách đánh giặc...

Thời xuân thì, bà là người xinh đẹp, có rất nhiều người ngỏ lời muốn xin cưới bà nhưng bà đã không màng chuyện gia đình chồng con, mà chỉ lo việc giúp dân, cứu nước.

- Là người phụ nữ tự lập

Năm 11 tuổi, cha mẹ cùng các em vào Huế, dì An đi lấy chồng, mới 11 tuổi đầu bà phải lo liệu hết mọi việc sinh hoạt thường ngày trong nhà và thay dì, hay mẹ lo cho bà ngoại tuổi đã ngoài 60.

Khi lên 17 tuổi (lúc mẹ đã qua đời) bà phải thay mẹ chăm sóc người em út mới mấy tháng tuổi như một người mẹ.

Trong lúc ông Sắc đi làm quan, ông chỉ để lại cho bà Thanh 01 mảnh đất nhỏ đủ để canh tác nuôi thân, bà phải tự lập, tự quản cho gia đình.

Đến lúc bà 20 tuổi, ông Sắc lại vào Huế làm quan theo lệnh của triều đình, bà chỉ một mình ở lại làng Kim Liên tham gia các hoạt động cứu nước.

- Yêu nước, kiên trung

Tham gia các hoạt động yêu nước từ lúc còn rất trẻ, nhưng bà Thanh rất dũng cảm, mưu trí, nhiều lần mai phục, cướp vũ khí của Pháp giúp cho cách mạng. Bà cũng nhiều lần bị giặc bắt, chúng đã dùng mọi thủ đoạn và mọi hình thức tra tấn dã man nhất để tra tấn bà khai thác về tài liệu và tổ chức của nghĩa quân nhưng bà không hề nao núng. Vì chịu nhiều cực hình tra tấn của giặc, nên trên thân thể của người phụ nữ ấy còn để lại rất nhiều vết thương chằn chịt và đến cuối đời bà bị chứng bệnh lẫn thẫn do di chứng của việc bị tra tấn.

Do bà nhiều lần tổ chức cướp súng của Pháp, nên khi bị bắt chúng đã mắn bà "Người ta chửa thì đẻ ra con, còn mày chửa thì đẻ ra súng". Và bà đã bị chúng phạt 100 trượng và kết án tù khổ sai 9 năm.

- Hiếu thảo

Những năm tháng bị giam cầm ở Huế, bà luôn canh cánh bên lòng về người mẹ thân thương đang nằm lạnh lẽo một mình nơi xứ người, xa quê hương gần  400 km, lòng dạ day dứt không nguôi nên đã bà quyết định lấy tro cốt của mẹ đem về quê an táng.

Để làm điều đó, trước tiên bà tìm một loại gổ quý, lấy nước thơm từ loại gỗ quý dùng để rữa sạch hài cốt của bà Loan, sau đó đem bỏ vào một tấm vải điều màu đỏ thật đẹp gói lại như một gối hành lý. Sau đó bà đi theo đường thiên lý Bắc - Nam, ngày ngủ đêm đi, hơn 02 tuần mới về tới làng Kim Liên, tận tay trao hài côt của mẹ cho ông Khiêm tìm chổ an táng.

Cũng trong thời gian ở Huế, bà đã đi tìm thăm cha mình. Khi thấy Ông Sắc ốm o gầy mòn, bà đã khóc thật nhiều và lạy xin cha hãy cho bà rước về phụng dưỡng. Nhưng ông Sắc có chí lớn của riêng mình đã không đồng ý việc đó mà tiếp tục đi vào miền nam. Sau đó bà quay về sống với dì An. Sau cách mạng tháng tám thắng lợi, bà đã ra Hà Nội tìm thăm em trai là Hồ Chủ Tịch rồi vế quê sống đến cuối đời.

* Thứ tư, ông Nguyễn Sinh Khiêm (1888-1950)

- Yêu nước, thương dân, chăm lo cho dân

Sinh ra trong gia đình có truyền thống hiếu học, yêu nước nồng nàn nên ông cũng hội đủ các yếu tố tốt đẹp của truyền thống gia đình. Trong giai đoạn, khi ông Sắc vào Huế làm quan, ở nhà ông đã cùng chị Thanh tham gia cách mạng trong phong trào yêu nước của cụ Phan Bội Châu. Cũng như chi gái của mình, ông cũng từng nhiều lần vào tù ra khám, ở tù nhiều hơn ở nhà.

Ông ở làng Kim Liên mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho con cháu và nhân dân trong vùng. Đây là lớp dạy chữ quốc ngữ đầu tiên ở làng Kim Liên và Hoàng Trù.

Ngoài ra, ông còn mở lớp dạy võ cho dân trong làng để giúp bà con tự vệ và cũng để sẵn sàng tham gia vào hoạt động của nghĩa quân.

Năm 1912 ông thay mặt nhân dân làng Sen đưa bản điều trần tới nhà nước bảo hộ đòi "Nới rộng quyền tự do dân chủ, giảm bớt sưu thuế, mở mang việc học hành cho dân".

- Là người trượng nghĩa

Trong thời gian gánh vác việc làng, ông tìm cách giảm sưu thuế, rút ruộng của bọn cường hào, ác bá chia cho dân nghèo (ông đã rút được 36 hecta). Ông còn cải cách chế độ cúng bái, tế lễ, đình đám, bỏ đốt vàng mã...để giảm gánh năng cho dân.

Ông bí mật tham gia chống Pháp. Vận động tài chính tiếp tế cho nghĩa quân. Quãng thời gian ông bị giam lỏng ở Huế, ngoài những ngày phải đi trình diện chính quyền, ông mở lớp dạy học cho dân nghèo. Trong cuộc sống hằng ngày, nếu ông thấy người đói rách thì ngay cả quần áo ông đang mặc trên người ông cũng sẵn sàn nhường cho người khác bất hạnh hơn mình.

- Giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc

Khi một công sứ người Pháp rất thích văn thơ, ca dao tục ngữ, hò vè nên đã sai ông sưu tầm và nộp về tỉnh những câu ca dao tục ngữ Việt Nam. Khi làm việc đó, ông chỉ tập trung những câu có nội dung tiến bộ, ca ngợi dân tộc, quê hương, con người Việt Nam còn những câu ca tụng công lao của bọn thống trị thì ông bỏ ra hết.

- Hiếu thảo

Cả cuộc đời ông là việc dạy chữ, dạy võ và tham gia cách mạng. Nhưng chúng ta không nghĩ ông còn là người rất chu đáo, hiếu lễ. Khi được ra khỏi nhà từ, ông đã nhận thêm một trách nhiệm trọng đại của gia đình, đó là việc nhận hài cốt của người mẹ hiền đáng kính từ bà Thanh mới mang từ Huế về tới quê nhà, ông đã đi khắp nơi trong vùng để tìm vị trí có phong cảnh đẹp, phù hợp để an táng mẹ mình. Ông cùng người cháu ruột đã đào chín cái hố trên núi, chính ông là người đặt hài cốt của bà Loan vào trong một trong những cái hố đó và cũng chỉ có mình ông mới biết được bà Loan nằm ở vị trí nào. Chính việc đó, đã giúp bảo vệ được bà Loan đến ngày đất nước tươi đẹp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng "Gia đình là tế bào của xã hội".
Và chúng ta cũng thấy rằng, gia đình được xem chính là nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi người; tình cảm gia đình như những tia sáng diệu kì sưởi ấm cho tâm hồn mỗi người; là cái nôi giáo dục nên nhân phẩm, tính cách và là yếu tố tác động đến tâm lý, lối sống của các thành viên trong gia đình. Tình cảm gia đình là tình cảm đẹp đẽ thiêng liêng nhất mà ai cũng trân trọng bằng cả trái tim. Nếu chúng ta mở rộng ra, thì nó chính là sự gắn kết giữa người với người trong xã hội. Nó không còn bó hẹp trong phạm vị huyết thống, mà có thể hiểu là toàn xã hội, là tình cảm giữa con người với nhau trong cộng đồng dân tộc. Nếu tất cả mọi gia đình đều tốt đẹp thì sẽ xây dựng nên một xã hội phát triển, văn minh.

Chúng ta nhìn lại gia đình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rõ ràng gia đình ấy không chỉ là một gia đình kiểu mẫu, là tế bào "gốc", là gia đình tinh hoa, tổng hợp tất cả những phẩm chất, đặc điểm tốt đẹp của mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam trong đó. Mà hơn hết, mỗi thành viên trong gia đình Bác đều là những hạt giống quý, là kết quả của quá trình vun trồng, chăm bón bằng thực tiễn của xã hội và truyền thống tốt đẹp của quê hương, dân tộc. Nếu mọi gia đình hiện nay, chúng ta học tập theo tấm gương của những người thân trong gia đình Bác hay nói cách khác, nếu chúng ta nhân rộng mô hình từ gia đình "gốc" đó, thì từng thành viên trong gia đình hiện đại đều có những phẩm chất đạo đức cao đẹp; từng gia đình trong xã hội ngày nay sẽ hết lòng vì dân, vì nước, phấn đấu vì mục đích, lý tưởng chung. Từ đó, mỗi gia đình thật sự là tế bào lành mạnh để xây dựng nên một xã hội phát triển, văn minh, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" trong thời kỳ mới./.

Phạm Thúy Kiều (TTBDCT)




 


12/05/2020 11:00 SAĐã ban hành
Thấm nhuần và thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí MinhThấm nhuần và thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa, đẹp đẽ nhất của văn hóa dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế trong sáng, rạng ngời cốt cách của một bậc vĩ nhân. Người là biểu tượng sáng ngời của phong trào giải phóng dân tộc, của hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng cao cả của Người là cội nguồn và gắn liền với mỗi bước đường phát triển và thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Với tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, nồng nàn, chứng kiến sự thất bại liên tiếp của các phong trào yêu nước và các cuộc đấu tranh theo các khuynh hướng khác nhau của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nung nấu quyết tâm ra đi tìm con đường mới để cứu nước. Sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, hòa mình vào cuộc sống của nhân dân cần lao ở nhiều nước, vừa lao động, vừa tự mình tìm tòi, nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới, năm 1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm thấy ở đó con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là bước phát triển đột phá về tư duy, nhận thức và cũng là sự lựa chọn sáng suốt, đúng đắn con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử dân tộc ta và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Trong hoàn cảnh muôn vàn gian khó, với bản lĩnh phi thường, trí tuệ thiên tài, tầm nhìn vượt thời đại và tài tổ chức lỗi lạc, Người đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, tích cực và dày công chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời của Đảng ta - Một chính đảng cách mạng chân chính, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập vào năm 1930, cùng với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ bản được hình thành, con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam đã cơ bản được xác định. Sự đúng đắn ngay từ đầu của tư tưởng, đường lối cách mạng Việt Nam do Người vạch ra đã được thực tiễn chứng minh và khẳng định. Và chính trong quá trình vận động của cách mạng, Tư tưởng đó, Đường lối đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện dần, trở thành ngọn đuốc mãi mãi rực sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước do nhân dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", giải phóng hoàn toàn miền bắc, xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế mà hiện nay nhân dân ta đang tiến hành.

Kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, bằng chính sự nghiệp vĩ đại và cuộc đời oanh liệt, đầy hy sinh gian khổ, song vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của mình, Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau cả một gia tài đồ sộ, một di sản vô cùng quý giá. Đó là Thời đại Hồ Chí Minh - Thời đại rực rỡ nhất, vinh quang nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh - hệ thống các quan điểm, lý luận toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng; về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,... Đó là các quan điểm và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên hết, trước hết; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; hết lòng yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương con người; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; thật sự là công bộc của nhân dân, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,... Đó là phong cách Hồ Chí Minh, phản ánh những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người và được thể hiện vô cùng sinh động, tự nhiên, độc đáo, có sức thu hút, cảm hóa kỳ diệu trong hoạt động, ứng xử hằng ngày. Một phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; một phong cách làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng, cụ thể, tới nơi, tới chốn; một phong cách ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; một phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người; nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; một phong cách sống thanh cao, trong sạch, giản dị; một phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương,...

Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng. Người không chỉ là một nhà tư tưởng lỗi lạc về văn hóa, sáng tạo ra một nền văn hóa mới, văn hóa cách mạng Việt Nam, kiến tạo ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nền văn hóa dân tộc, mà chính bản thân Người, cuộc sống của Người, những việc làm bình thường hằng ngày của Người là hiện thân của nền văn hóa Việt Nam, là mẫu mực của con người Việt Nam. Tư tưởng, tâm hồn, cốt cách của Người là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, kết tinh những giá trị văn hóa Phương Đông và Phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. Từ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã tỏa ra ánh sáng văn hóa thấu tận tương lai. Theo tiến trình lịch sử, khi thời gian ngày càng lùi xa, những điều tưởng như bình thường, giản dị trong cuộc sống và công việc hằng ngày của Người càng trở nên lớn lao, có giá trị nhân văn vô cùng sâu sắc, vượt thời đại./.

Gia Khánh

Nguồn Tuyengiao.vn


11/05/2020 3:00 CHĐã ban hành
Giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí MinhGiải pháp phát huy dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ thực hiện dân chủ là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp phát triển của Đảng. Trong những năm qua, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến việc phát huy dân chủ trong Đảng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong xã hội, trong đó có quyền dân chủ của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng đã "khắc phục một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ và trong việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách".

bac ho.jpg 

Tuy nhiên hiện nay, việc phát huy dân chủ trong Đảng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhìn nhận: dân chủ trong Đảng còn hạn chế, kỷ luật không nghiêm, một số nơi mất đoàn kết nghiêm trọng… Không ít cấp ủy và tổ chức đảng thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới. Không ít cán bộ lãnh đạo chưa quen với ý kiến phản biện, những thông tin ngược chiều, không thích nghe ý kiến khác với ý kiến của mình. Còn thiếu những cơ chế cụ thể có hiệu lực bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Hiện tượng cán bộ lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, mệnh lệnh, trù dập, ức hiếp quần chúng còn xảy ra ở một số nơi. Tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, tự do vô kỷ luật đã phần nào gây bức xúc trong dư luận. 

Từ thực trạng đó, Đảng ta đã chủ trương phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, đặc biệt là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp. Trong nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, lần đầu tiên Đảng đã thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và việc thực hiện chất vấn trong Đảng. Điều đó cho thấy bước tiến mới của Đảng ta trong quá trình phát huy, thực hành dân chủ trong Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: "Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy dân chủ trong xã hội". Quan điểm trên phản ánh rõ nhận thức của Đảng ta về tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ trong Đảng. 

Để tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng, làm cơ sở phát huy dân chủ trong toàn xã hội, cần thực hiện một số giải pháp sau: 

Một là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ thông qua việc giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng cần xây dựng hệ thống quy chế, quy định đồng bộ, nhất quán bằng văn bản để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cơ sở để quản lý, điều chỉnh các hành vi, hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và đấu tranh phòng, chống những biểu hiện xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng phải thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của người đứng đầu tổ chức đảng trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ: "Cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân".

Hai là, dân chủ phải đi đôi với kiểm tra, giám sát thực hiện kỷ luật Đảng. Trong những năm gần đây, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số quy định, quy chế bảo đảm thực hiện dân chủ và kỷ luật trong Đảng, như: quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; quy chế chất vấn trong Đảng; quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm trong Đảng; xây dựng quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII xác định nhiệm vụ: "Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng". 

Ba là, thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mỗi đảng viên cần nhận thức rõ mục đích của công tác tự phê bình và phê bình là nhằm làm cho bản thân mình tốt hơn, cán bộ, đảng viên mình tiến bộ hơn, tổ chức vững mạnh hơn. Trong việc phê bình cần có thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, không né tránh. Đồng thời, phải phê bình với tinh thần tôn trọng, giúp đỡ đảng viên được phê bình; tuyệt đối không lợi dụng phê bình để nói xấu, trù dập hay bôi nhọ người khác. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công khai, tránh tình trạng "việc gì cũng không phê bình trước mặt mà để nói sau lưng". Công tác tự phê bình và phê bình cần được tiến hành thường xuyên nhằm phát huy hiệu quả lâu dài, làm cho nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực sự trở thành một thứ vũ khí sắc bén để mỗi đảng viên tốt hơn, Đảng ta ngày càng thêm vững mạnh.

Bốn là, triển khai hiệu quả công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân: "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho". Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa XII đã nêu nhiệm vụ: "Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra…". Tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ trong Đảng có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng và hoạt động của Đảng ta hiện nay. Vì vậy, phát huy dân chủ trong Đảng vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài để tăng cường sức mạnh nội bộ của tổ chức, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thực hiện tốt dân chủ trong Đảng là nền tảng để mở rộng dân chủ trong toàn xã hội, thực hiện thành công mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Gia Khánh

Nguồn Dangcongsan.vn


04/05/2020 2:00 CHĐã ban hành
Rèn luyện bản lĩnh chính trị là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyềnRèn luyện bản lĩnh chính trị là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền
Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên là toàn bộ hoạt động của các cấp uỷ, tổ chức đảng và của chính cán bộ, đảng viên trên tinh thần quán triệt sâu sắc và theo đúng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xây dựng và xác định rõ các tiêu chí đánh giá bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên; được tiến hành đồng bộ: từ việc nâng cao nhận thức tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị đến nâng cao năng lực công tác, phương pháp làm việc, tác phong công tác; với sự tham gia, phối hợp nhiều lực lượng và đi liền đó là tạo điều kiện, môi trường thử thách để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn liền với việc đề cao vai trò tự giác tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị của mỗi người.

Nhờ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trong 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt và nhất quán trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Đảng luôn coi trọng việc rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên - nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, trong mọi hoàn cảnh, thời điểm.

Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, khi mà một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; trong đó, có những cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, với những biểu hiện về sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, chạy theo danh lợi, tiền tài, địa vị, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm… yêu cầu phải tăng cường rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Trong những năm qua, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chú trọng công tác rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thông qua quá trình nỗ lực học tập, tu dưỡng về mọi mặt, năng lực nhận thức, trình độ hiểu biết của mỗi cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Đồng thời, tư duy khoa học độc lập, năng lực tự định hướng và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nâng cao năng lực tự rèn luyện, tu dưỡng trong thực tiễn về phẩm chất đạo đức, nhân cách, phương pháp công tác, kỹ năng làm việc và lãnh đạo gắn liền với việc tôi luyện ý chí, tinh thần kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, nhất là khả năng "tự đề kháng", "tự miễn dịch" với những cám dỗ vật chất, những tiêu cực từ cơ chế kinh tế thị trường, với những thủ đoạn, âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch cũng được tôi luyện.

Việc triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", với những quy định về những điều đảng viên không được làm, các quy định về nêu gương và đi liền cùng đó là đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng đã góp phần rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt là việc thường xuyên, liên tục gắn với tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc tại mỗi cấp ủy, trong mỗi người sẽ khiến "phú quý không dụ dỗ được ta, nghèo khổ không lay động được ta, oai lực không dọa nạt được ta. Mà khó khăn gì chúng ta cũng vượt qua được, việc gì chúng ta cũng làm được"6.

Bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên và của Đảng, song đó là kết quả của một quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn. Thực tế cho thấy, về cơ bản, đội ngũ cán bộ, đảng viên với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn "kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện"7 đã năng động, sáng tạo, đi đầu trong mọi lĩnh vực, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm với những công việc khó, mới trong xu thế hội nhập.

Tuy nhiên, trước những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, những khó khăn, phức tạp nảy sinh trong quá trình hội nhập, đặc biệt là các thủ đoạn tinh vi và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, vẫn còn một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài về lý tưởng cách mạng của người cộng sản; giảm sút ý chí, niềm tin về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam... Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: "Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao"...

Trong thời gian tới, nhất là trong khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang nỗ lực chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, hướng tới Đại hội XIII của Đảng, yêu cầu về nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên càng trở nên cần thiết và quan trọng. Do đó, mỗi cấp ủy cần thấm nhuần và thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của việc phải thường xuyên, liên tục rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên; coi đó là yêu cầu bức thiết, gắn với phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng. Đồng thời, chú trọng "xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị"8, góp phần đẩy lùi, ngăn chặn các nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đối với đảng cầm quyền, nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng, năng lực và sức chiến đấu của Đảng.

Thứ hai, xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, sát thực tiễn để quán triệt, thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, quy định của Đảng về học tập lý luận chính trị; trong đó, tập trung thực hiện Quy định số 54-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; Quy định số 164-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý,... Theo đó, hệ thống các trường chính trị từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; trong đó, chú trọng xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thiết thực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ ba, đổi mới công tác đánh giá bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt nói riêng gắn với việc đặc thù từng lĩnh vực, từng địa phương, cơ quan, đơn vị mà họ công tác. Do đó, cùng với việc đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII và các quy định về nêu gương, là việc phải xây dựng các tiêu chí để đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên phù hợp bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Khi xem xét, đánh giá phải dựa vào tiêu chí, nội dung đăng ký thực hiện và kết quả công tác của mỗi người; thống nhất giữa đánh giá bản lĩnh chính trị với kết quả thực thi nhiệm vụ, gắn đánh giá đạo đức công vụ với đánh giá kết quả thực thi công vụ, đảm bảo hiệu quả thực sự trong đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên hằng năm, khắc phục triệt để cách đánh giá cán bộ, đảng viên một cách chung chung, hình thức, dĩ hòa vi quý... Thông qua đó, tạo động lực để cán bộ, đảng viên phấn đấu vươn lên, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kiên định, kiên trì và năng động, sáng tạo hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đội ngũ cán bộ của Đảng là việc thực hiện tốt quy trình, quy hoạch đội ngũ cán bộ và tạo môi trường cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ lãnh đạo, quản lý chủ chốt được thử thách, rèn luyện bản lĩnh chính trị. Thực tế cho thấy, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên có điều kiện bộc lộ khi được trải nghiệm trong môi trường thực tiễn nhiều thử thách, có độ phức tạp và nhạy cảm về chính trị, do đó, cần thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, đảng viên trong diện quy hoạch, nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, để đào tạo, bổ sung kiến thức lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Trong đó, "có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ" và "xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ" theo đúng tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW khóa XII về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" gắn liền với công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ, để trui rèn những cán bộ trẻ có triển vọng phát triển, được quy hoạch và dự kiến bổ nhiệm giữ trọng trách cao, kịp thời sàng lọc, loại bỏ những cán bộ "đẹp hồ sơ" nhưng lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị không tương xứng.

Thứ năm, phát huy tính tích cực, tự giác trong rèn luyện bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là ở những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu, nhiều khó khăn, thử thách, nhạy cảm và phức tạp; đồng thời, xây dựng cơ chế để mỗi người đều nỗ lực rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Học lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Học để tin tưởng: Tin tưởng vào đoàn thể. Tin tưởng vào nhân dân. Tin tưởng vào tương lai của dân tộc. Tin tưởng vào tương lai của cách mạng"9. Đồng thời, tạo điều kiện, môi trường, các phong trào thi đua, các cuộc vận động để cán bộ, đảng viên trải nghiệm, tự giác rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, qua đó, không chỉ giúp họ tự mình nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng mà còn góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ.

Gia Khánh

Nguồn Tapchimattran.vn


30/04/2020 10:00 CHĐã ban hành
Đức Huệ thực hiện công tác chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của BácĐức Huệ thực hiện công tác chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của Bác
Hồ Chí Minh - "Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất"- Người đã từng là thầy giáo: thầy Nguyễn Tất Thành ở trường Dục Thanh (1910), thầy Vương ở lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu (1925-1927) do Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức và cũng chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục cho nước ta từ những ngày đầu mới thành lập nước.

Khi nói về đóng góp của Hồ Chí Minh đối với nhân loại về giáo dục, Tổ chức Liên hiệp quốc đã nhận định, Hồ Chí Minh đã đề ra phong trào xóa nạn mù chữ (năm 1945), trong khi Liên hiệp quốc đến đầu thập niên 1990 mới đề ra phong trào này trên thế giới. Điều đó chứng tỏ, Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn dự báo chiến lược mà không phải người lãnh đạo nào trên thế giới cũng có được.

Về giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh khai trường (24/10/1955), Người nhắn nhủ việc giáo dục phải gồm:

 "- Thể dục: Để làm thân thể mạnh khoẻ, đồng thời cần giữ vệ sinh riêng và vệ sinh chung.

- Trí dục: Ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới.

- Mỹ dục: Để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp.

- Đức dục: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công".

Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm, chăm lo đến thế hệ trẻ, đặc biệt là công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng họ thành lớp người thừa kế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của nhân dân. Người cũng đã từng nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Người xem đó việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi quốc gia. Người cho rằng thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích của cách mạng. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác đã để lại tâm tư của mình với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về những chủ nhân tương lai của đất nước với đầy niềm tin và hy vọng: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng", vừa "chuyên". "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau" theo Bác là việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Điều này cho thấy nhãn quan chính trị sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng của Người đối với vận mệnh của cả dân tộc.

Trong bản "Di chúc", Người viết: mục tiêu lý tưởng phấn đấu của thanh niên đó là học tập và học để làm gì ? Người trả lời: "Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, học để làm cho dân giàu, nước mạnh".Đó là trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; làm cho họ có tri thức văn hoá, khoa học và kỹ thuật giỏi; làm cho họ là những người kế tục xứng đáng gánh vác sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ là nhằm làm cho thế hệ trẻ trở thành những người công dân có ích, những người chiến sĩ tốt, những người cách mạng chân chính vì nước nhà.

Có thể nói, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau" vừa thể hiện tình cảm, sự yêu mến và tin tưởng của Bác đối với thế hệ trẻ; vừa cho thấy tư duy biện chứng đúng đắn của Người trong việc xem xét, đánh giá vai trò của thanh niên đối với sự phát triển của đất nước. Với tư tưởng này, cho thấy Người đã chăm lo vun trồng sự nghiệp cách mạng vững bền từ gốc.

Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thế hệ trẻ Việt Nam luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân ta đã lựa chọn. Tuổi trẻ Việt Nam đã chứng tỏ được bản lĩnh, trí tuệ và cốt cách cao đẹp của người Việt Nam. Họ luôn đi đầu trong lao động sản xuất, trong ứng dụng khoa học-công nghệ hiện đại, trong chiến đấu, trong các phong trào thi đua yêu nước... để cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc biệt, khi đất nước lâm nguy, thanh niên lập tức kết thành một khối bền, chặt, tiên phong trước mọi mặt trận. Có thể nói, thế hệ trẻ Việt Nam không phụ niềm tin yêu và kỳ vọng của Bác và dân tộc.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch, nhằm vào thế hệ trẻ Việt Nam, đã có một bộ phận thanh niên bị cuốn vào vòng xoáy của danh lợi, lối sống lai căng, thực dụng, sa vào các tệ nạn xã hội và mất phương hướng phấn đấu, xa rời  mục tiêu, lý tưởng và thuần phong mỹ tục, truyền thống đạo đức của dân tộc.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau và học theo phong cách của Bác về đổi mới, sáng tạo, không chấp nhận lối cũ trong công tác giáo dục. Để góp phần thực hiện tốt công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ ở Đức Huệ, với chức năng, nhiệm vụ của mình, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Đức Huệ thực hiện lời dạy của Bác trong công tác chăm lo "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau" bằng những việc làm cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương.

Thực hiện Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An, về việc Hướng dẫn thực hiện công tác giáo dục lý luận chính trị đối với Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; dựa trên tình hình thực tế của địa phương, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Đức Huệ phối hợp với các ngành liên quan khảo sát nhu cầu thực tế của người học để xác định lượng thông tin, nội dung cần bồi dưỡng, tuyên truyền. Qua đó phối hợp Ban Tuyên giáo Huyện ủy tham mưu Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng kế hoạch mở các lớp học tập giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, trong những năm qua đạt được kết quả như sau:

Thứ nhất: Tham mưu cho lãnh đạo huyện mở các lớp bồi dưỡng Kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng là quần chúng nhân dân, đặc biệt là nhân dân các xã biên giới của huyện. Trong đó, chú trọng đến đối tượng người học là những đoàn viên, thanh niên công tác ở các ấp biên giới. Thông qua đó, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước trực tiếp đến với người dân, nhất là tuyên truyền về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ an ninh biên giới, biên giới quốc gia và tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Campuchia trong tình hình mới. Sau lớp học, mỗi học viên sẽ là những tuyên truyền viên trực tiếp đến các địa bàn xóm, ấp nơi cư trú. Đồng thời, cũng thông qua các lớp học này, là kênh thông tin hữu hiệu để chúng tôi nắm bắt, phúc đáp và trao đổi những vấn đề của đời sống xã hội có liên quan trực tiếp đến nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong nhân dân, góp phần đưa chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân nhanh chóng, hiệu quả; tạo hiệu ứng tốt trong nhân dân.

Thứ hai: Phối hợp với Ban giám hiệu các trường học trên địa bàn, tổ chức  các lớp chuyên đề Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học sinh các khối 10-11-12 trong tất cả các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện (THPT Đức Huệ, THCS-THPT Mỹ Bình, THCS-THPT Mỹ Quý). Với loại hình lớp học này, đã góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ cội nguồn, truyền thống yêu nước của dân tộc, khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước, ý thức độc lập dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong tình hình mới; đặc biệt, các lớp chuyên đề này đã giới thiệu nhiều tấm gương tiêu biểu trong cuộc sống, lan tỏa những nghĩa cử cao đẹp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thu hút đông đảo học sinh tham gia; đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của Ban giám hiệu các trường và có sức hưởng rất lớn trong giáo dục nhân cách, lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ - những mầm non tương lai của đất nước nhiều năm qua.

Thứ ba: Tổ chức các lớp Đối tượng kết nạp Đảng cho thanh niên tình nguyện lên đường nhập ngũ. Hàng năm, Trung tâm bồi dưỡng chính trị xây dựng kế hoạch phối hợp với Đảng ủy Quân sự huyện, Đảng ủy Công an huyện và các Ban xây dựng Đảng Huyện ủy tổ chức rà soát, thống kế số liệu thanh niên ưu tú tình nguyện đi làm nghĩa vụ quân sự, để tổ chức lớp Đối tượng kết nạp Đảng cho nguồn tuyển quân. Nhiều năm qua, huyện Đức Huệ đã phát triển đảng viên trong lực lượng tân quân phục vụ lâu dài trong quân đội với số lượng và chất lượng ngày càng cao.

Thứ tư, Trong Di chúc thiêng liêng, Bác căn dặn: "Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thành những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết" Kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị phối hợp với Ban Thường vụ Huyện Đoàn, định kỳ hằng năm tổ chức lớp chuyên đề Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đoàn cơ sở nhằm xây dựng, hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa trong thanh niên, vì đạo đức là "gốc của người cách mạng, giáo dục thanh niên nhận thức đúng các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Từ đó, Thanh niên xứng đáng là người kế tục cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Thứ năm, Thông qua nguồn xã hội hóa trong các lớp, Trung tâm bồi dưỡng chính trị thường xuyên tổ chức các buổi tham quan học tập thực tế tại các di tích lịch sử như: Khu căn cứ lịch sử cách mạng của tỉnh Long An, Khu tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, Vàm Nhật tảo, Trung ương cục miền nam, Khu di tích Địa đạo Củ Chi, Căn cứ Ấp Bắc, Xẻo Quyết, Khu lăng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, Nhà tưởng niệm chị Võ Thị Sáu, Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Dinh độc lập...cho các lớp Đoàn Thanh niên, Đối tượng kết nạp Đảng, lớp Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới, lớp Sơ cấp lý luận chính trị... .nhằm giáo dục lịch sử truyền thống của dân tộc ta cho thế hệ tương lai, nâng cao ý thức cách mạng, cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Như vậy, cùng với hệ thống chính trị huyện trong công tác chăm lo  giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng đạo đức lối sống cho thế hệ trẻ, Trung tâm bồi dưỡng chính trị Đức Huệ đã góp phần trong công tác "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau"  theo tinh thần "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên bằng nhiệm vụ chính trị của mình, đã chăm lo bồi dưỡng, giáo dục rèn luyện thanh niên có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức, có năng lực để xứng đáng với vai trò là người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng", vừa "chuyên" , xứng đáng là chủ nhân tương lai nước nhà và xứng đáng với mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Thúy Kiều (TTBDCT)


27/04/2020 11:00 SAĐã ban hành
Mẩu chuyện: Giờ này Miền Nam đang nổ súngMẩu chuyện: Giờ này Miền Nam đang nổ súng
          Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Đó là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng đối với muôn đời con cháu. Người nói: "Nước ta là một, dân tộc ta là một". "Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam". Lúc sinh thời, Người luôn luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam, ngày đêm Người tưởng nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam với tấm lòng thương yêu không bờ bến.

          Tết Mậu Thân năm 1968 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

          Tết năm ấy, do điều kiện sức khỏe, Bác Hồ đi nghỉ và chữa bệnh ở nước ngoài. Tuy ở xa Tổ quốc, nhưng Bác luôn luôn theo sát những thành tích và thắng lợi của đồng bào, chiến sĩ cả nước, nhất là những tin chiến thắng chiến trường miền Nam.

          Tối hôm 30 Tết, Bác cùng đồng chí giúp việc ngồi trong một căn phòng vắng, tĩnh mịch, thức để theo dõi tin tức trên đài và đón giao thừa. Khi ở Đài Tiếng nói Việt Nam tiếng pháo nổ vang tiễn năm Đinh Mùi và đón mừng năm Mậu Thân vừa dứt thì lời Thơ chúc Tết của Bác được truyền đi khắp mọi miền của Tổ quốc.

                                              Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,

                                              Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

                                              Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

                                              Tiến lên!

                                              Toàn thắng ắt về ta!

          Bác Hồ ngồi yên lặng đón giao thừa. Tiếng Bác đầu năm phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam hòa vào tiếng nhạc hùng tráng như một nguồn động viên cổ vũ lớn lao đối với đồng bào chiến sĩ cả nước:

                                                Tiến lên!

                                                Toàn thắng ắt về ta!

          Ánh mắt Bác lộ rõ niềm vui. Bỗng từ căn phòng nhỏ tĩnh mịch giữa lúc giao thừa thiêng liêng ấy, lời Bác nói khe khẽ nhưng nghe rất rõ: "Giờ này miền Nam đang nổ súng"..

 Ngọc Thuận

Nguồn: Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch: Mỗi câu chuyện nhỏ một bài học lớn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

                                                                                                                 


27/04/2020 11:00 SAĐã ban hành
Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận!Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận!
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thể kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam".

gia-tri-tu-tuong-ho-chi-minh-la-khong-the-phu-nhan.png 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam. Cùng với đó là sự tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông và phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin; trong đó, nét đặc sắc chính là sự kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy, chắt lọc, hấp thụ được tích lũy qua thực tiễn. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành bởi tư duy, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của Người. Đó cũng là quá trình tiếp thu, làm giàu, rèn luyện từ học tập, nghiên cứu, trải nghiệm thực tiễn, khám phá các quy luật vận động, đời sống văn hóa, xã hội và cuộc đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn nên mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động. Trong khi tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với xu thế khách quan của thời đại, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, đạo đức và phong cách; là quan điểm và tấm gương mẫu mực của người chiến sĩ cộng sản trung thành và kiên định lý tưởng cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, dân tộc và nhân dân lên trên hết, luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân; luôn cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; là phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, phong cách làm việc dân chủ, khoa học; phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị, hòa đồng với thiên nhiên,v.v.. tự mình nêu gương về đạo đức cách mạng, thể hiện sinh động, tự nhiên, đầy cảm hóa trong công tác và ứng xử hằng ngày.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu quan trọng về mọi mặt trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn, quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Không thể phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, song các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình"; những kẻ tự xưng là "người yêu nước", người "bất đồng chính kiến" ở trong và ngoài nước đã lợi dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bóp méo và bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói và viết: "Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam"; "Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin"; "Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều"; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ nó để "kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi" - con đường tư bản chủ nghĩa. Có những người tìm mọi cách đả kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức cách mạng của Người để "hạ bệ thần tượng" và lung lạc những người nhẹ dạ, cả tin để phủ nhận những giá trị cơ bản, đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Thậm chí, có người lại "cực đoan" đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ và coi tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam nên Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh để xuyên tạc và hạ thấp sự cống hiến của Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và thế giới, hạ thấp tư tưởng của Người mà không hiểu và cố tình không hiểu rằng: Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, tiếp tục dẫn dắt, soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Những giọng điệu "lạc dòng", phủ nhận của một bộ phận những người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu đúng bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh đó không hề làm giảm đi giá trị tư tưởng của Người, vì "trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận vế cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc..." như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định.

ĐẢNG LẤY CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa và Người nhận thấy: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!". Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba". Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần những chỉ dẫn của V.I.Lênin: "Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong" để nỗ lực hoạt động, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó và khẳng định: Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt; "Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam", "bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin". Sau đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động và điều này được khẳng định trong Luận cương chính trị năm 1930 Đảng: "Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc".

Trung thành với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng Hồ Chí Minh không giáo điều mà nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin để vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong quá trình: 1) Thành lập Đảng và xây dựng Đảng cầm quyền; 2) Tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong tiến trình cách mạng; 3) Xây dựng nhà nước kiểu mới; 4) Xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa… Lý luận Mác - Lênin là thế giới quan, nhân sinh quan, là lý luận tiên phong của thời đại được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Cùng với thời gian, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta mà còn nhấn mạnh tại Đại hội VI (12/1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới của Đảng: "Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Tại Đại hội VII (6/1991), Đảng nhấn mạnh việc phải "Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh"; thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) và khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân". Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng này đã cho thấy cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị to lớn, toàn diện cống hiến vô giá về lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh được thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX chứng thực, Đại hội IX (4/2001) của Đảng và khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta". Tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định gồm 9 nội dung cơ bản: 1) Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2) Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 3) Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. 4) Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. 5) Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. 6) Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 7) Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. 8) Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 9) Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi". Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

TIẾP TỤC LÀM CHO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LAN TỎA, THẤM SÂU TRONG ĐẢNG VÀ TRONG XÃ HỘI

Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ, song tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân song rất đỗi vĩ đại của Người đã là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành một phần giá trị của văn hóa nhân loại. Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, nhất là khi tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang diễn biến khó lường cùng những khó khăn, phức tạp trong đời sống xã hội. Thực tế, hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển; đồng thời, những thành tựu đã đạt được về mọi mặt ở Việt Nam là không thể phủ nhận; không chỉ phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng trong thời đại cách mạng vô sản mà còn phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi trường tồn cùng dân tộc và thời đại vì đã thấm sâu vào quần chúng nhân dân, được minh chứng qua thực tiễn cách mạng Việt Nam và ngày càng tỏa sáng, in sâu trong trái tim, khối óc của hàng triệu triệu con người. Vì thế, việc tiếp tục giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh; việc kiên định mục tiêu, con đường phát triển độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là yêu cầu tất yếu khách quan của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi mà còn góp phần giữ vững bản chất của một Đảng chân chính, cách mạng.

Để kiên định và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp và trước thềm Đại hội XIII của Đảng, toàn Đảng cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về "Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới gắn với "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, một cách thiết thực, hiệu quả. Trong đó, cấp ủy các cấp, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải chú trọng nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để kịp thời nhận diện và kiên quyết phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị, phòng và chống những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong  Đảng, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai, chú trọng xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh học từ đại học đến sau đại học, để đội ngũ cán bộ đó có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn tốt, góp phần bổ sung và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng các lực lượng chuyên trách, thường trực, tác chiến nhanh, chính xác, làm xoay chuyển tương quan so sánh lực lượng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới" gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội.

Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trên báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, gắn với công tác kiểm tra, đánh giá, tự phê bình và phê bình để không chỉ bảo vệ mà còn góp phần củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh - cội nguồn sức mạnh, tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong hành trình hướng đến tương lai.

Thứ tư, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cụ thể từng nội dung của chuyên đề hằng năm trong sinh hoạt của chi bộ, đoàn thể, trong các cuộc họp của cơ quan, đơn vị, trong các phong trào thi đua gắn với việc chủ động phòng, chống, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; coi đó là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân, là một giải pháp căn cốt để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục nỗ lực học tập và nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có hệ thống di sản tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng trong thực tiễn và chủ động tuyên truyền, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng của Người lan tỏa, thấm sâu trong Đảng và trong xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Ban biên tập

Nguồn Ban Tuyên giáo Trung ương


15/04/2020 10:00 CHĐã ban hành
Phát huy sức mạnh tinh thần yêu nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí MinhPhát huy sức mạnh tinh thần yêu nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thấm nhuần sâu sắc rằng, lòng yêu nước là một giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, được sinh dưỡng bởi những cư dân một nước nông nghiệp luôn gắn bó, cố kết, đùm bọc, che chở và giúp đỡ lẫn nhau để chống lại thiên tai, địch họa và cả dịch bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta".

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đang đắm chìm trong đêm dài nô lệ. Yêu nước, thương dân, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Sức mạnh truyền thống yêu nước đã hun đúc quyết tâm cứu nước, cứu dân và  thôi thúc Người bôn ba tìm đường giải phóng đất nước; cũng chính là cơ sở dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản"... Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi từ biệt chúng ta trở về với thế giới người hiền, Người luôn khát khao và phấn đấu cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân chủ và giàu mạnh, nhân dân Việt Nam được ấm no, tự do và hạnh phúc. Cuộc đời cách mạng đầy gian truân song rất đỗi vinh quang của Người xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân và cũng vì nước vì dân mà tận tâm, tận lực phấn đấu.

Thấm nhuần sâu sắc rằng, lòng yêu nước là một giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, được sinh dưỡng bởi những cư dân một nước nông nghiệp luôn gắn bó, cố kết, đùm bọc, che chở và giúp đỡ lẫn nhau để chống lại thiên tai, địch họa và cả dịch bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" và "chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước". Trong tất cả những con dân đất Việt đó, chỉ "trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước"…

Vì thế, trên những chặng đường cách mạng, Người luôn khơi dậy và  phát huy nguồn sức mạnh của lòng yêu nước đó để lãnh đạo nhân dân ta từng bước giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh chính là yêu Tổ quốc và nhân dân, coi việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc, thực dân và ngoại bang, giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là lòng yêu nước chân chính, sâu sắc và triệt để. Vì thế, khi thấu hiểu rằng "tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm", Người đã khơi dậy lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam, coi đó là "chìa khóa vàng" để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tổ chức họ, lãnh đạo họ thực hiện mục tiêu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Đất nước đang tiến hành đổi mới và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hơn bao giờ hết, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Càng khó khăn, thử thách, truyền thống yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam được hun đúc từ bao đời, trở thành sức mạnh Việt Nam, biểu tượng Việt Nam càng được tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ, tỏa sáng trên tinh thần: "Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết", để luôn chủ động, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa…

Để đất nước vững bước trên hành trình đã chọn và nhất là để phát huy tinh thần yêu nước của mỗi cá nhân, mỗi tập thể, cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành chức năng cùng cả hệ thống chính trị cần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về lòng yêu nước, về lý tưởng cách mạng và sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cụ thể hóa thành các chính sách và các phong trào thi đua yêu nước cụ thể, thiết thực. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống phải góp phần làm cho mỗi người Việt Nam, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên… nhận thức rõ yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh và thực hành yêu nước là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lòng yêu nước ấy, tinh thần yêu nước ấy rất cụ thể và sinh động, hiển hiện trong mỗi việc làm hằng ngày của mỗi người tại mỗi cơ quan, đơn vị, gia đình và trong cộng đồng. Đó chính là ý thức chấp hành pháp luật, là tinh thần là cần, kiệm, liêm, chính, nỗ lực góp sức dựng xây quê hương, đất nước, kiên quyết chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu; là lối sống giản dị, chan chứa tình yêu thương con người, không vô cảm trước khó khăn của đồng chí, đồng bào, sẻ chia và cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau khi gặp nguy nan, thử thách.

Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước phải trở thành động cơ để trước hết gắn kết mọi người dân Việt Nam trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Yêu nước đồng nghĩa với yêu đồng bào và cao hơn chính là trân trọng truyền thống lịch sử cách mạng, gắn bó và bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng; trung thành với sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì thế, cần thầm nhuần sâu sắc và chú trọng xây dựng lòng yêu nước, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước; đồng thời, chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách... theo tinh thần các văn kiện Đại hội của Đảng, nhất là văn kiện Đại hội của Đảng trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế và tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết 33-NQ/TW về "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước".

Thực tế cho thấy, từ trong các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, rộng khắp ở mọi cấp, mọi ngành, khắp các địa phương trong cả nước đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các đoàn viên, thanh niên, các sinh viên thủ khoa, các doanh nhân giỏi, các chiến sĩ thi đua... trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Gần đây nhất, những tấm gương của đội ngũ y, bác sĩ, chiến sĩ quân đội trong cuộc chiến chống dịch bệnh, sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân cả nước trong cuộc chiến chống "giặc dịch Covid-19" để "không để một ai bị bỏ lại phía sau" chính là biểu hiện sinh động nhất của tình thần nghĩa yêu nước Việt Nam. Đó cũng chính là trái ngọt của việc phát huy sức mạnh tinh thần yêu nước Việt Nam, là kết quả việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trở thành nhu cầu tự thân, nền nếp tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Và hơn bao giờ hết, càng đối diện với khó khăn, thử thách từ thiên tai, địch họa và dịch bệnh, mỗi người dân Việt Nam càng phát huy và tỏa sáng tinh thần yêu nước, chung sức, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phát triển bền vững.                  

Đặc biệt, đối với thế hệ trẻ - lực lượng kế cận, rường cột của nước nhà, việc giáo dục lòng yêu nước phải thầm nhuần yêu cầu "cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ", để mỗi người trở thành người công dân có tài và có đức, kiên định và tiếp tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Những nét đặc sắc trong tư tưởng yêu nước và tấm gương mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lòng yêu nước, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân không chỉ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn; là tấm gương sáng, bài học quý để mỗi người Việt Nam, mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện và noi theo./.

Gia Khánh

Nguồn tuyengiao.vn

 


03/04/2020 9:00 CHĐã ban hành
Xứng danh con cháu Lạc HồngXứng danh con cháu Lạc Hồng
 "Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba" - ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là sự kiện thiêng liêng của dân tộc, nhắc chúng ta nhớ về cội nguồn và lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đó là mệnh lệnh thiêng liêng của đất nước và dân tộc mà tất cả các thế hệ người Việt phải ra sức giữ gìn, xây dựng và phát triển để Tổ quốc thân yêu ngày càng giàu đẹp, trường tồn.

Ngày 18/02/1946, sau hơn 5 tháng thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22 CNV/CC cho công chức cả nước được nghỉ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm. Ngày 19/9/1954, trước Đền Hạ thuộc Đền Hùng, Phú Thọ, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô, Bác căn dặn: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"! Lời Bác dạy không chỉ đối với quân đội mà còn đối với toàn Đảng, toàn dân.

Thực hiện lời dạy của Bác, trong thời chiến, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, quyết tâm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất và chủ quyền của đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Phát huy truyền thống anh hùng, đoàn kết của dân tộc, trong thời bình, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đồng lòng, chung sức bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, mang lại cuộc sống ấm no, tươi đẹp cho nhân dân. Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị và mỗi người dân, tùy vào điều kiện thực tế đã, đang và sẽ làm nhiều điều ích nước, lợi nhà. Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính nêu gương, học tập và làm theo gương Bác để ra sức chăm lo cho dân, vì sự phát triển chung của toàn xã hội. Lực lượng đoàn viên, thanh niên lan tỏa lối sống tích cực, xung kích trên mọi lĩnh vực để góp sức trẻ vào công cuộc bảo vệ, dựng xây quê hương, đất nước. Người cao tuổi, phụ nữ, nông dân, thiếu niên, nhi đồng,... mỗi thành phần tham gia một việc làm thiết thực, tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua để tạo nên sức bật cho sự phát triển. Tất cả cùng đoàn kết một lòng, chung vai góp sức để xây dựng và "giữ lấy nước", xứng danh truyền thống con cháu Lạc Hồng.

Ngoài phát huy sức mạnh đoàn kết trên mọi lĩnh vực, ngày nay, thực hiện lời dạy của Bác, bên cạnh việc cảnh giác, đề phòng giặc ngoại xâm, kiên quyết đánh trả và chiến thắng mọi kẻ địch, chúng ta phải ra sức đấu tranh với "giặc nội xâm", đó là nạn tham nhũng, lãng phí, thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, hiện nay, nước ta đang tập trung quyết liệt phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Do đó, đây cũng là lúc mỗi người dân thể hiện tinh thần dân tộc, sự đoàn kết "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" để đẩy lùi dịch bệnh như Phó Thủ tướng Chính phủ - Vũ Đức Đam đã tin tưởng: "Nếu toàn dân đồng lòng chống dịch, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng dịch bệnh Covid-19 như dân tộc Việt Nam đã nhiều lần chiến thắng".

Nhớ ngày Giỗ Tổ, nhớ lời Bác dặn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc, cùng nhau đoàn kết, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh và nhất là sớm đẩy lùi dịch bệnh Covid-19 để trả lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Ban biên tập

Nguồn Báo Long An online


02/04/2020 10:00 CHĐã ban hành
Miền Nam hướng về Bác kính yêuMiền Nam hướng về Bác kính yêu
          Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Chúng tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, chúng phải thả. Nhưng trước khi thả, chúng giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, chúng trải hình Bác dưới đất và bảo: "Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!". Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.

Hay như những năm 1955 - 1956, sau khi Mỹ - ngụy dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất khốc liệt. Thế mà hai ngày 1-5 của năm 1955 và năm 1956, hàng triệu quần chúng tập hợp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn, đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!.

Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng dịch tạm chiếm. Ở Viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (tỉnh Trà Vinh), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Cà Mau). Nhiều trí thức Công giáo như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở Sài Gòn…

Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho trước khi Đồng khởi, có chi bộ bị chúng bắn chết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gửi bức thư đó cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó.

Sau đó, Xứ ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch - ta và góp ý kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ xây dựng đề cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15 rất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị quyết 15 là phong trào bật lên.

Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta cho đến ngày nay.

Ngọc Thuận

Nguồn: Bác Hồ với miền Nam - miền Nam với Bác Hồ,

Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1986.


28/03/2020 8:00 CHĐã ban hành
Để làm tròn trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viênĐể làm tròn trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh nêu gương là một phương thức lãnh đạo của Đảng và thành phần cốt yếu của văn hóa Đảng. Thấm nhuần tư tưởng ấy của Người, Đảng ta luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

​Chủ trương của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Thực hiện trách nhiệm nêu gương là một trong những nội dung chủ đạo, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Người từng dạy: "Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành, Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công". Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người nói chung, đặc biệt là con người phương Đông nói riêng coi trọng thực tiễn hơn lý thuyết. Chính vì thế, Người nhắc nhở đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua Đảng ta rất coi trọng công tác rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu trong mọi hoạt động công tác. Đảng đã kịp thời ban hành nhiều quy định, nghị quyết về thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, điển hình như: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về "Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương".

Nhờ sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhất là thông qua 3 quy định trên, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên bước đầu đã đạt được kết quả tích cực, thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, về tư tưởng chính trị: Đa số cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo, đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu trong việc thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhận diện và tham gia đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Thứ hai, về đạo đức, lối sống: Nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đã tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện các bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; qua đó, tạo được sự chuyển biến bước đầu trong nhận thức và nêu cao tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có thái độ chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương, cán bộ chủ chốt và người đứng đầu là tấm gương sáng về sự khiêm tốn, giản dị; có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Việc thực hiện các quy định về nếp sống văn minh, văn hóa công sở… đã có nhiều tiến bộ.

Thứ ba, về tự phê bình và phê bình: Nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần xây dựng, cầu thị, tự giác. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục được tình trạng độc đoán, chuyên quyền hoặc dân chủ hình thức.

Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đã xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân trong khuyết điểm của tập thể.

Thứ tư, về quan hệ với nhân dân: Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân để có hướng xử lý phù hợp.  Một số cấp ủy và chính quyền đã có những cách làm hiệu quả như tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo cấp ủy, chính quyền với nhân dân; ban hành quy định về việc các đồng chí tỉnh ủy viên, các đồng chí cấp phó sở, ban, ngành đi công tác cơ sở và dự sinh hoạt chi bộ; định kỳ bí thư cấp ủy cấp huyện giao ban với các bí thư, trưởng thôn, bản, trưởng ban công tác mặt trận thôn, bản… để kịp thời lắng nghe những vấn đề phát sinh từ cơ sở; phát huy vai trò đại biểu dân cử trong việc tiếp xúc cử tri; xây dựng chương trình đối thoại trên các phương tiện thông tin đại chúng; công bố số điện thoại đường dây nóng, số điện thoại cơ quan, đơn vị để nhân dân phản ánh kịp thời về tinh thần, trách nhiệm, thái độ thực thi nhiệm vụ và phục vụ nhân dân… Qua đó, vừa nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp thu được ý kiến của nhân dân, giải quyết các vụ, việc bức xúc, phức tạp, vừa kịp thời chấn chỉnh thái độ, phong cách giao tiếp, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, về trách nhiệm trong công tác: Thông qua thực hiện các quy định, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp chung, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ do tổ chức phân công; thực thi công vụ bảo đảm nguyên tắc, kỷ cương, hoàn thiện các quy trình, đổi mới cách làm, tận tụy với công việc; xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, đạo đức công vụ, nhất là về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.

Thứ sáu, về ý thức tổ chức kỷ luật: Đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong chi bộ, cơ quan, đơn vị; tuân thủ sự phân công, điều động của tổ chức; gương mẫu thực hiện chế độ sinh hoạt Đảng và các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị và địa phương.

Thứ bảy, về đoàn kết nội bộ: Ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên đã tích cực tham gia xây dựng đoàn kết nội bộ trong tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội. Nhiều cán bộ chủ chốt là tấm gương trong đoàn kết, tạo môi trường làm việc dân chủ, hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; tích cực đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, cục bộ, bè phái. Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương khi phát hiện có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, người đứng đầu đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu, nắm bắt thông tin từ nhiều nguồn để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Một số hạn chế, khuyết điểm

Một là, một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu, thậm chí cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Vẫn còn tư tưởng cho rằng việc nêu gương là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên có chức vụ. Tình trạng ngại đọc, lười học, lười nghiên cứu lý luận chính trị vẫn còn phổ biến. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung chủ yếu vào đảng viên có chức vụ. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt thiếu gương mẫu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, với các biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, trục lợi; lạm dụng tài sản công (công quỹ, xe công, nhà công vụ…); lãng phí trong công tác và sinh hoạt, tiêu dùng xa xỉ, cờ bạc, tiệc tùng xa hoa; thiếu minh bạch trong kê khai thu nhập, tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, không thực sự sâu sát cơ sở, chưa kịp thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị chưa được giải quyết kịp thời, vẫn còn cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt, ngại khó khăn, gian khổ, đùn đẩy, né tránh, không sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được tổ chức phân công.

Hai là, vẫn còn tình trạng vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm nêu gương. Tinh thần, trách nhiệm của nhiều cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa mạnh dạn, chưa thẳng thắn, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, không dám nhận khuyết điểm, sai phạm của mình. Trong đấu tranh còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va phạm, ngại góp ý với đồng chí, đồng nghiệp, nhất là khi phê bình người đứng đầu. Vẫn còn tình trạng lợi dụng phê bình để xu nịnh, lấy lòng, thổi phòng thành tích hoặc nói xấu, cường điệu khuyết điểm, hạ thấp uy tín của nhau.

Ba là, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định nêu gương của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thường xuyên, nghiêm túc, chủ yếu là lồng ghép với kiểm tra, giám sát các nghị quyết, quy định, chỉ thị khác. Nhiều vi phạm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, chủ yếu do cấp trên kiểm tra, giám sát phát hiện hoặc do đơn, thư tố cáo, phản ánh, kiến nghị, góp ý của đảng viên, nhân dân và báo chí. Việc xử lý vi phạm ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa nghiêm, tính răn đe chưa cao.

Bốn là, công tác sơ kết, đánh giá việc thực hiện quy định nêu gương còn nhiều hạn chế. Hàng năm không có báo cáo riêng về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Việc phát hiện, xây dựng gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến và tổng kết mô hình mới, cách làm hay để nhân rộng và biểu dương, khen thưởng chưa kịp thời.

Một số bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, nêu gương là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng. Tất cả đảng viên phải có trách nhiệm nêu gương, cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu, đặc biệt khi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiên phong, gương mẫu sẽ tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, làm xoay chuyển tình hình theo hướng tích cực trong toàn hệ thống chính trị.

Thứ hai, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền, quán triệt, tổ chức thực hiện quy định nêu gương có vai trò quan trọng và tác động sâu sắc tới nhận thức, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Thứ ba, ý thức trách nhiệm, tinh thần gương mẫu của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị có ý nghĩa quyết định. Nơi nào người đứng đầu nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiên phong gương mẫu, nói đi đôi với làm thì nơi đó việc thực hiện nêu gương đi vào thực chất, hiệu quả.

Thứ tư, thực hiện quy định nêu gương phải kết hợp giữa "xây" và "chống"; động viên, biểu dương, nhân rộng những điển hình tiên tiến, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Thường xuyên kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện.

Thứ năm, việc nêu gương phải thể hiện bằng những hành động cụ thể, thiết thực gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao của từng cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời, coi trọng công tác sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm.

Thứ sáu, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân là hết sức quan trọng trong kiểm tra, giám sát thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Giải pháp để phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên          

Để phát huy trách nhiệm tự giác, tích cực nêu gương của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện tốt các công việc sau:

Một là, nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên; phải nhận thức rằng nếu cán bộ, đảng viên mà không nêu gương thì không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên nữa.

Hai là, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm nêu gương trước quần chúng nhân dân; từ đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, trước hết là phải quán triệt mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải có nhận thức đúng và quyết tâm hành động; phải có mối quan hệ tốt với nhân dân theo những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; không biến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ thành quan hệ kinh tế vì lợi ích cá nhân hay lợi ích cục bộ của cơ quan, đơn vị… Tổ chức đảng, cơ quan quản lý Nhà nước có quy định cụ thể, lấy tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân làm thước đo chuẩn mực đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng Đảng. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là phải tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và phong cách công tác. Nhưng để trách nhiệm nêu gương đó được thực hiện tốt cần có sự chuyển động từ hai phía: cán bộ, đảng viên và cấp ủy Đảng.

Với cấp ủy, người lãnh đạo: phải thực hành dân chủ rộng rãi trong tổ chức Đảng, tổ chức tốt việc tự phê bình và phê bình như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc thiêng liêng. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải thực sự gương mẫu, tôn trọng nguyên tắc sinh hoạt đảng, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên… có như vậy mới phát huy được tính tích cực, tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên.

Với cán bộ, đảng viên: phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn; tham gia vào các quá trình xây dựng đường lối chính trị; góp phần triển khai đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân; đấu tranh bảo vệ đường lối chính trị đúng đắn, kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với cộng đồng, gia đình và xã hội. Duy trì và tự giác thực hiện các truyền thống tốt đẹp, các chuẩn mực đạo đức trong gia đình, có lối sống mực thước, nêu gương trong học tập, lao động, sản xuất, công tác, người trên làm gương cho người dưới, thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau, cán bộ, đảng viên nêu gương trước quần chúng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi người đều có trách nhiệm xây dựng cộng đồng làng, xã, cơ quan mình trong sạch, vững mạnh. Phải luôn luôn đoàn kết, tôn trọng và bảo vệ cộng đồng; bảo vệ những tập quán truyền thống tốt đẹp; có ý thức cộng đồng, ý thức về cội nguồn, đạo lý uống nước nhớ nguồn; tôn trọng những quy tắc ứng xử của cộng đồng; lên án những hành vi xâm hại lợi ích chung, xâm hại đến lợi ích của thành viên trong cộng đồng.

Năm là, xác định rõ trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng vị trí công tác. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống qua xác định trách nhiệm chung với Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình chỉ có tác dụng tích cực khi xác định rõ trách nhiệm nêu gương cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên. Để mỗi người đều thấy rõ trách nhiệm với chính mình, tự mình phải rèn luyện đạo đức cách  mạng, coi đó là nhiệm vụ không thể thoái thác, tự thân… cần xác định rõ nghĩa vụ và quyền lợi trên mỗi cương vị công tác. Đó là trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể.

Phẩm chất chính trị, đạo đức của mỗi người cán bộ, đảng viên được thể hiện trong sự tôn trọng bản thân, thể hiện trong các mối quan hệ với chính mình, với người và với việc, trong đó với chính mình là rất quan trọng. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi người thể hiện qua trách nhiệm với công việc được giao. Mọi công việc phải làm cho đến nơi, đến chốn, làm cho kỳ được với tinh thần "việc thiện thì nhỏ

Ngọc Thuận

Nguồn: Tạp chí Cộng sản - số 936 (2-2020)

 

07/03/2020 1:00 CHĐã ban hành
Định hướng chiến lược trong thư Bác gửi cho cán bộ ngành Y tếĐịnh hướng chiến lược trong thư Bác gửi cho cán bộ ngành Y tế
Từ ý nghĩa to lớn của bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đội ngũ cán bộ ngành Y tế, ngày 6-2-1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27-2 hằng năm làm "Ngày Thầy thuốc Việt Nam". Kể từ đó, ngày 27-2 đã trở thành Ngày truyền thống của ngành Y tế.

490.jpg 

Bác Hồ thăm Bệnh xá Vân Đình, Hà Tây (tháng 4-1963). Người căn dặn: "Lương y như từ mẫu". (Ảnh tư liệu)

Ba chỉ đạo chiến lược

Cách đây 65 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị cán bộ y tế tổ chức tại Thủ đô Hà Nội (27- 2-1955). Bức thư được đăng trên báo Nhân Dân ngày 27- 2-1955. Thư của Người dù chỉ có 386 chữ, nhưng đã thể hiện sự chỉ đạo sâu sắc, khoa học, mang tính định hướng chiến lược cho ngành Y tế Việt Nam.

Một là, "đoàn kết là sức mạnh", vì "đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích"(1). Cùng chung một mục đích là "phục vụ nhân dân" cho nên, dù công việc và địa vị khác nhau, song đội ngũ cán bộ ngành Y cần phải "đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc"(2).

Hai là, "lương y phải như từ mẫu". Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của những người làm trong ngành Y tế; biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm phục vụ, tình thương yêu, chăm sóc người bệnh. Là một nghề liên quan trực tiếp đến sinh mệnh con người, người thầy thuốc không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải giàu về đạo đức nghề; "chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu". Người nhấn mạnh rằng, "người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khoẻ cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang"(3), cho nên những người làm nghề y "cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn(4).

Ba là, "xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân", Chính phủ cần phải "xây dựng một nền y học của ta" - nền y học "phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng"; "chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc "Đông" và thuốc "Tây"(5).

Theo chỉ dẫn của Người, đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành Y tế cả nước, từ Trung ương đến cơ sở, từ thành phố đến tận cơ sở vùng sâu, vùng xa đều nỗ lực phấn đấu, luôn đoàn kết, sẻ chia kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau về tay nghề, phương tiện điều trị để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Thực hiện lời thề Hippocrate và đạo đức người thầy thuốc như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, tấm gương mẫu mực về chuyên môn và đạo đức nghề y của bác sĩ Vũ Đình Tụng, Trần Hữu Tước, GS. Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Hồ Đắc Di, Đặng Thuỳ Trâm, Tôn Thất Bách… cùng thầy thuốc, y tá, y sĩ, hộ lý, lương y trong đội ngũ những người "anh hùng áo trắng" trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn được đội ngũ những người công tác trong ngành học tập và noi theo.

Trong mọi thời điểm, lời dạy của Người về đoàn kết, về sự sẻ chia, chăm lo cho người bệnh luôn hiển hiện trong công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, trong từng phiên trực cấp cứu hằng ngày của những người thầy thuốc, dù ở bất cứ thời điểm nào, địa bàn nào. Mỗi người, tùy vị trí công tác và chuyên môn đã luôn giữ và rèn luyện y đức, nỗ lực học tập để nâng cao trình độ y thuật, ngày đêm tận tuỵ vì sức khoẻ của nhân dân. Ở những thời khắc quyết định, đã có những thầy thuốc tình nguyện hiến máu để kịp thời cứu chữa người bệnh. Ở các tuyến bệnh viện, cũng đã có không ít thầy thuốc giúp đỡ tiền để bệnh nhân nghèo chữa bệnh, khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho dân nghèo, nhất là cho đồng bào miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, ở những thời điểm các đợt dịch bùng phát cúm A (H5N1), (H1N1), SARS, chân tay miệng ở trẻ em, sốt xuất huyết… hay nCoV như hiện nay, những khi phải cứu chữa cho các bệnh nhân mắc bệnh nan y, nguy hiểm, đội ngũ những người công tác trong ngành Y đã tiếp cận, xử lý và tranh thủ từng phút để giành giật sự sống cho bệnh nhân, khắc chế sự lan rộng của đại dịch, thể hiện rõ trình độ chuyên môn và đạo đức nghề, tinh thần và trách nhiệm như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn.

Thực hiện chỉ đạo của Người, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất đặc biệt và cao quý trong xã hội, ngành Y tế đã mở rộng cơ sở chăm sóc sức khỏe từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Hệ thống bệnh viện các tuyến đều được quan tâm đầu tư, xây dựng, tạo thành chỉnh thể liên hoàn, hỗ trợ nhau để ngày càng nâng cao hơn chất lượng thăm, khám và chữa bệnh cho nhân dân. Nhiều chứng bệnh nguy hiểm đã được điều trị có hiệu quả, nhiều kỹ thuật tiên tiến đã được áp dụng ở tuyến bệnh viện Trung ương và các bệnh viện tuyến cơ sở đã góp phần nâng cao chất lượng thăm khám và điều trị bệnh, khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước.

Mạng lưới y học dân tộc, kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa Đông y và Tây y đã chữa trị thành công rất nhiều loại bệnh, góp phần rất lớn và ngày càng tạo được sự tin tưởng trong nhân dân đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được. Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, do đó, "thầy thuốc tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y... Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như người có hai cái tay, hai bàn tay cùng làm việc thì làm việc được tốt, cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào"(6).

Đó chính là sự kết hợp giữa y học dân tộc và y học hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa và phát huy những vốn quý cổ truyền của Đông y với Tây y, tạo nên sự phát triển vượt bậc của y học Việt Nam, góp phần bảo tồn và phát triển những vốn quý của y học cổ truyền. Sự có mặt của Khoa (Bộ môn) Y học cổ truyền trong hệ  thống trường đào tạo Y khoa và Khoa Đông Y trong các Bệnh viện hoặc Viện nghiên cứu chuyên ngành Y học cổ truyền đã cho thấy sự phát triển đúng hướng trong đào tạo và phát huy vai trò của Đông y trong thăm khám và điều trị cho người bệnh.

Ngành Y tế tiếp tục thực hiện lời dạy của Người

65 năm qua, lời dạy của Người vẫn là kim chỉ nam cho ngành Y tế trong xây dựng và phát triển. Những thành tựu quan trọng trong phát triển mạng lưới y tế, dự phòng bệnh tật, khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, từng bước củng cố, tăng cường mạng lưới y tế cơ sở và đổi mới phương thức hoạt động, năng lực dự báo, giám sát và phòng chống dịch bệnh của các cơ sở y tế dự phòng, phòng và khống chế được các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đã được thế giới ghi nhận. Đồng thời, đạo đức nghề, phong cách, thái độ phục vụ và trình độ chuyên môn của đội ngũ những người công tác trong ngành Y tế được chú trọng, nâng cao, xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương y, bác sĩ tận tuỵ chăm sóc, cứu chữa người bệnh được xã hội trân trọng, ghi nhận.

Tuy nhiên, hệ thống y tế từ Trung ương đến cơ sở còn nhiều đầu mối, chưa đồng bộ, thiếu ổn định, hoạt động chưa hiệu quả, chưa phù hợp với biến đổi mô hình bệnh tật, mất an toàn thực phẩm, biến đổi khí hậu, già hóa dân số để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân... Trong khi đó, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường, y đức trở thành vấn đề bức xúc. Những biểu hiện tiêu cực, vi phạm quy định và đạo đức của ngành mặc dù chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh", song cũng gây ảnh hưởng xấu đến sự thanh cao của nghề y, làm tổn hại đến danh dự của những làm nghề chân chính, tận tâm cống hiến cho nghề nghiệp cao quý này.

Để phát triển và nâng cao chất lượng công tác của ngành Y tế, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân" ra đời (Nghị quyết 20). Tinh thần và nội dung của Nghị quyết không chỉ thể hiện sâu sắc 3 chỉ đạo có tính định hướng chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành Y tế, mà còn bổ sung và hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Theo đó, toàn ngành cùng đoàn kết, chung tay xây dựng một nền y tế Việt Nam tiên tiến, dân tộc, khoa học, đại chúng gắn với nhu cầu thực tế của nhân dân. Trong đó, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế Việt Nam theo hướng công bằng - hiệu quả - phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, để mọi người dân, nhất là người nghèo, các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, có chất lượng.

Đồng thời, tiếp tục thực hiện Quyết định số 2088/BYT-QĐ, 12 điều về y đức của Bộ Y tế,  Thông tư số 07/2014/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về "Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động tác cơ sở y tế" và Quyết định số 2151/QĐ-BYT phê duyệt kế hoạch thực hiện "Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh" gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó có lời dạy "lương y phải như từ mẫu" của Người, đồng thời đưa Nghị quyết 20 vào cuộc sống, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành trên mọi miền đất nước đã và đang không ngừng nỗ lực phấn đấu vượt lên mọi khó khăn gian khổ hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân mà Đảng, Nhà nước giao phó.

Trên tinh thần lấy người bệnh làm trung tâm, toàn ngành tiếp tục nỗ lực đổi mới toàn diện, tăng cường y tế cơ sở, hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân thông qua nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ; trong đó, có nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới y tế cơ sở và nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng khám, chữa bệnh tới sự hài lòng của người bệnh. Tập trung đổi mới toàn diện phong cách, thái hộ phục vụ của nhân viên y tế đối với người bệnh, xây dựng môi trường bệnh viện xanh - sạch - đẹp, đảm bảo mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.

Cùng với đó, đội ngũ những người công tác trong ngành trên khắp mọi miền của Tổ quốc nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện và trau dồi y đức, bồi đắp lòng nhân ái, lương tâm và tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất cao đẹp của những người thầy thuốc "Lương y phải như từ mẫu" để không ngừng nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân./.

Gia Khánh

Nguồn Học viện chính trị quốc gia

28/02/2020 5:00 CHĐã ban hành
Củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí MinhCủng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng.

297.jpg 

Bác Hồ với đồng bào dân tộc thiểu số. (Ảnh tư liệu)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Với tinh thần nhân văn cao cả và nhãn quan chính trị sắc bén, suốt cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng, các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân. Người nhận thức sâu sắc, đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp, lực lượng, đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, các cá nhân yêu nước, người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người đã lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải trở về với nhân dân. Nói cách khác, khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ"(1). 

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất lợi ích quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng; nòng cốt khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người chỉ rõ, cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, dân cư ở các vùng miền khác nhau. Phát huy mặt tương đồng, hóa giải điểm khác biệt. Mẫu số chung để đại đoàn kết toàn dân tộc là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: "Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh"(2).

Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Người cho rằng, trước hết, cần tuyên truyền, vận động nhân dân. Thứ hai, phải chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Về Nhà nước, Đảng phải làm cho Nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội là cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với nhân dân. Coi đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi đoàn kết là một đức tính cơ bản của người cách mạng. Ai không có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các đồng chí của mình thì không thể làm cách mạng, không thể làm cán bộ. Người căn dặn: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"(3).

Song song với việc xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh gây chia rẽ, mất đoàn kết.

Phải chống bệnh hẹp hòi. "Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hoá, v.v. đều do bệnh hẹp hòi mà ra!"(4). Thứ hai, phải chống chủ nghĩa cá nhân. Do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ, đảng viên sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền.

Để thực hiện được chiến lược đại đoàn kết dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mới thành công, Hồ Chí Minh khẳng định, "ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó" và giải thích: "Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó"(5).

Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: "Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân"(6).

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau"(7). 

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót. Giáo dục, lãnh đạo nhân dân, đồng thời không ngừng học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Biết biến quyết tâm của Đảng, Nhà nước thành quyết tâm của nhân dân. "Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ"(8).

Đối với toàn thể nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc.

Củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, về tôn giáo, về người Việt Nam ở nước ngoài, từng bước được thể chế hóa thành luật, pháp lệnh, chính sách và ngày càng thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Nhiều cấp ủy đảng đã quan tâm hơn đến sự nghiệp đại đoàn kết, đến công tác dân vận và công tác mặt trận, củng cố tổ chức và tăng cường cán bộ, phương tiện và điều kiện cho công tác mặt trận. Chính quyền ở nhiều cấp, nhiều địa phương đã thật sự có chuyển biến trong nhận thức và hành động về quan hệ với nhân dân. Nhiều dự án về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của Nhà nước được ban hành nhằm chăm lo đời sống cho nhân dân đã thực hiện có kết quả. Quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội được thể chế hóa, đã từng bước được phát huy. Sự đổi mới hệ thống chính trị, việc tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội, nhất là việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần quan trọng vào việc động viên nhân dân và cán bộ hăng hái tham gia các sinh hoạt chính trị của đất nước, đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Đó là những nhân tố rất quan trọng, là động lực chủ yếu bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Cùng với những tiến bộ và chuyển biến nêu trên, nhiều vấn đề mới đã và đang nảy sinh trong quá trình đổi mới, đó là xã hội, giai cấp, tầng lớp, nhóm dân cư đang trong quá trình phân hóa. Xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân lao động ở các khu công nghiệp với những người lao động có chuyên môn, tay nghề trong các lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, giữa người đương chức và người về hưu… Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc. Những đặc điểm nêu trên đã tác động mạnh mẽ đến khối đại đoàn kết. Vì vậy, tuy đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường, song chưa thật vững chắc và đang đứng trước những thách thức không thể xem thường. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang khai thác những thiếu sót, yếu kém của ta hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên, trước hết là các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc đề xướng. Phải nắm vững những quan điểm cơ bản và cũng là những định hướng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Đó là lợi ích cơ bản của nhân dân, của dân tộc ta ngày nay là độc lập, tự do và cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó thể hiện cụ thể hằng ngày trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Củng cố tăng cường đoàn kết hiện nay không thể chung chung mà phải gắn chặt với việc bảo đảm các lợi ích đó. Một trong những động lực thúc đẩy nhân dân tăng cường đoàn kết trong tình hình hiện nay là quyền làm chủ đất nước của nhân dân cần được tôn trọng. Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp đã quy định.

Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và của toàn dân. Do đó, qua hoạt động của mình, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội cần không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để góp phần làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn luôn bền chặt, ý Đảng và lòng dân là một. Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có tác dụng trực tiếp và quyết định đến kết quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội, để các chủ trương, chính sách sát cuộc sống, đáp ứng lợi ích của nhân dân.

Kiên trì thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định, phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, bài học đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng trở nên sống động và mang tính thời sự, ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu, rộng. Để tăng cường củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay, cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu và cả hệ thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Các cấp ủy đảng và người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Cần thực hiện triệt để Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XI về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương". Cán bộ, đảng viên phải xung phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để nhân dân học và làm theo.

Thứ hai, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và các giai tầng, các giới trong toàn dân tộc.

Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở.

Thứ tư, tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm công tác dân vận. 

Thứ năm, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đảm bảo thế và lực cho đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Gia Khánh

Nguồn Ban Tuyên giáo Trung ương

 

24/02/2020 7:00 CHĐã ban hành
Mọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dânMọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dân
Trong cuộc sống cũng như trong công việc, Bác có phong độ ung dung, thư thái, khẩn trương nhưng không vội vàng. Hôm xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ (năm 1964), tôi đang chuẩn bị theo Bác sang đọc tin bên nhà sàn thì đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi điện cho Bác. Cuộc báo cáo ngắn xong, Bác bình thản ung dung trên đường sang nhà sàn. Buổi làm việc vẫn diễn ra bình thường.

images.jpg 

Ảnh tư liệu

Đừng thần thánh Bác Hồ. Bác Hồ không phải là ông thánh nhưng là người tất cả vì dân vì nước, mọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dân. Các bác sĩ trong hội đồng sức khỏe không ai nỡ khuyên Bác bỏ thuốc lá vì là một thú vui riêng từ nhiều năm, từ tuổi trẻ. Thấy Bác ho nhiều bác sĩ chỉ khuyên Bác bớt hút thuốc lá nhưng tự Bác đã bỏ thuốc. Bỏ một thói quen từ nhiều năm, một người không có những thú vui riêng, một người thường ngồi làm việc một mình, suy nghĩ một mình đâu phải là dễ. Cuối buổi làm việc, trước khi ăn bữa sáng, Bác thường uống một tách cà phê. Hôm đó tôi làm việc với Bác, khi anh em đưa cà phê vào, Bác đẩy tách cà phê sang tôi và nói: "Chú uống đi", "Dạ để mời Bác uống", "Uống cà phê Bác lại nhớ tới thuốc lá, chú cứ uống đi". Tôi uống chén cà phê thấy đắng hơn.

Bác Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác bên dưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất. Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu, tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai, Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đưa cho tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: "Làm gì mà chú phải khổ sở thế!".

Bác giản dị nhưng đàng hoàng. Trời nóng ngồi làm việc một mình với chúng tôi có thể Bác mặc áo mây ô, quần cộc nhưng đi ra ngoài dù kaki, quần áo nâu cũng phải phẳng phiu. Không chỉ một lần Bác phê bình đồng chí cán bộ cao cấp ra chỗ tiếp khách không ăn mặc chỉnh tề, tuy đồng chí này không phải nhân vật chủ chốt.

Qua những năm hoạt động cách mạng gian khổ, Bác mắc một số bệnh mãn tính, sức chiến đấu chống bệnh của Bác thật mãnh liệt. Ngày ba bữa, dù mưa nắng, nóng rét Bác vẫn đi ăn bên nhà xây (nhà số 54). Có một lần trời mưa gió, anh em đã bày bàn ăn dưới nhà sàn nhưng Bác vẫn đội ô, chống gậy sang nhà ăn.

Bác kiên trì rèn luyện sức khỏe, tập Thái cực quyền hàng ngày. Từ lúc vào cơ quan làm việc cho đến năm 1967 tôi không thấy Bác nghỉ ốm ngày nào; mặc dù nhiều lúc biết Bác phải gắng vượt lên sức khỏe của tuổi già. Từ giữa năm 1967 có hội đồng chăm sóc sức khỏe theo dõi hàng ngày nhưng Bác vẫn làm việc đều. Không đi họp thì nghe báo cáo. Giữa năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút. Buổi trưa sau bữa ăn, nằm nghỉ dưới nhà xây, Bác vẫn nghe tin tức gần một tiếng rồi mới ngủ. Sau có hôm tôi đọc độ mười phút Bác ngủ, tôi liền ngừng đọc thì Bác giật mình bừng dậy bảo tôi nghỉ nhưng rồi Bác khó ngủ lại. Từ buổi sau, khi đọc tin thấy Bác ngủ tôi vẫn đọc tiếng nhẹ đi để giấc ngủ của Bác được dài thêm. Tôi trao đổi hiện tượng và kinh nghiệm đó với đồng chí Chước.

Làm việc bên Bác trong một thời gian dài, tôi thấy những điều Bác Hồ kêu gọi, dạy dỗ, giáo dục cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân không phải chỉ là những lời hô hào của người lãnh đạo mà là những điều Bác Hồ đã sống và làm trong cả cuộc đời của mình. Mỗi việc làm của Người đều vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Ngọc Thuận

Nguồn: Những chuyện kể về tấm gương trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

                                                                                                     

          

17/02/2020 5:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ
Chịu trách nhiệm chính:​  Ông Lê Văn Nên - PCT.UBND huyện. ​
Địa chỉ: ​Khu phố 2 thị trấn Đông Thành huyện Đức Huệ, Long An.
Điện thoại : (072) 3854230​ * Fax: (072) 3854771 ​ * Email: bbtduchue​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​