Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Học tập làm theo lời Bác

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 210023
Học tập làm theo lời Bác
Gia đình Bác – Tinh hoa gia đình Việt
Thứ 3, Ngày 12/05/2020, 11:00 | Thúy Kiều (TTBDCT)
Khi đọc quyển Di chúc thiêng liêng của Bác, có một nhận định đã đọng lại trong tôi rất nhiều cảm xúc và tôi không quên được đó là câu của Tổng Bí thư Lê Duẩn nói về Bác tại lễ tang của Người: "Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, vị anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta...".

Qua học tập, tôi đã biết Bác là một con người vĩ đại, một người con ưu tú của dân tộc Việt Nam là như thế nào? Và trên thế giới này cũng chưa có một lãnh tụ nào được tổ chức UNESCO phong tặng hai danh hiệu như Bác của chúng ta: Anh hùng giải phóng dân tộc- Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Bằng tấm lòng yêu nước nồng nàn, thương dân tha thiết và ý chí căm thù giặc sâu sắc. Bác đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thách thức, từ thân phận nô lệ để đi đến bến bờ vinh quang-đứng lên làm chủ đất nước và giúp các nước thuộc địa trên thế giới đứng lên tự giải phóng mình.

Nhiều năm trước, tôi đã có tìm hiểu về tiểu sử, thời niên thiếu, quá trình đi tìm đường cứu nước của Bác, cũng như những nội dung (chín nội dung) trong tư tưởng của Người. Nhưng bản thân tôi chưa tìm được sách, báo nào nói cụ thể về cuộc đời, sự nghiệp, gia cảnh... của những người trong gia đình Bác? Đến thời gian gần đây, tôi đã đến trường Dục Thanh, tôi đã tìm được quyển "Những người thân trong gia đình Bác Hồ" của tác giả Trần Minh Siêu do nhà sách Nghệ An xuất bản. Những thông tin trong quyển sách ấy, đã giúp tôi hiểu ra những gì mình muốn tìm kiếm. Lần đầu tiên đọc quyển sách ấy, dù nhà xuất bản không đưa ra nhận định về những thành viên trong gia đình Bác nhưng tôi đã tự đúc kết rằng: Không chỉ riêng Bác mà những người thân trong gia đình Bác, đều là người con ưu tú của quê hương Nam Đàn, Nghệ An và của  dân tộc Việt Nam, mỗi người đều có nhân cách cao quý, suốt đời phấn đấu cho quê hương, đất nước, là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo. Cốt cách của từng người, tiêu biểu cho từng thế hệ, từng vai thứ, bổn phận, vai trò, trách nhiệm của con người Việt Nam đối với gia đình, xã hội trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể. Tựu chung những phẩm chất cao quý của những người thân trong gia đình Bác, đều là đại diện cho những đức tính tốt đẹp, truyền thống quý báu của dân tộc ta. Cũng có thể nói rằng, gia đình Bác là gia đình kiểu mẫu, là tế bào gốc, chứa đựng tất cả tinh hoa tạo nên một bức tranh đẹp đầy tự hào cho dân tộc Việt. Tổng hợp những đức tính tốt đẹp từ những con người cụ thể trong ngôi nhà ấy, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy nó hiện hữu trong từng người, từng nhà, từng thế hệ trong khắp xã hội Việt Nam ta.

* Đầu tiên, chúng ta nói về cụ Nguyễn Sinh Sắc (1863-1926)

Ông là người có nhiều tố chất cao quý như:

- Cần cù, nổ lực, hiếu học

Dù từ nhỏ ông đã mồ côi cả cha lẫn mẹ: ba tuổi mẹ mất, bốn tuổi cha mất. Ông phải về sống với người anh cùng cha khác mẹ với mình, nhưng kinh tế gia đình người anh (ông Nguyễn Sinh Trợ) đang trong giai đoạn khó khăn, ông không được đi học hành như những đứa trẻ cùng trang lứa mà phải giúp anh làm việc nhà và chăn trâu trên đồng. Nhưng ông đã vượt lên khó khăn, tụ học, tự rèn và còn học giỏi hơn những người cùng trang lức được đi học tử tế.

Sau khi được cụ Hoàng Đường đem vể nuôi dạy, tạo điều kiện cho ăn học và giai đoạn sau thì có sự chăm lo, giúp sức, ủng hộ của người vợ, ông đã thi đỗ nhiều kỳ thi: Kỳ thi tuyển sinh ở huyện Nam Đàn (1980); đậu kỳ thi Hương (1891) và đậu cử nhân (1894); đậu phó bảng (1901)

Điều đó cho thấy, ông luôn nổ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn để đạt thành tích trong học tập.

- Khiêm tốn, giản dị

Khi ông đậu cử nhân, địa phương tổ chức lễ tiệc đẽ đón tân khoa, ông lấy lý do đang chịu tang bố vợ nên không tham dự, mà chỉ làm lễ bái ở nhà thờ rồi sau đó đi bộ về nhà.

Hai mươi năm sau, ông đậu phó bảng kỳ thi hội ở Huế. Lần này, ông cũng được chuẩn bị võng, lọng, cờ, trống lên tỉnh để rước ông bái tổ vinh quy. Lúc này ông lại viện lý do là đang chịu tang vợ nên cũng từ chối lễ rước. Theo quy định ông được nhân dân xã Chung Cự trích cho 200 quan tiền quỹ để ông làm cổ đãi mọi người, nhưng ông chỉ nhận 10 quan tiền để mua trầu, nước để mời dân làng, phần còn lại ông đem đi chia cho dân nghèo. Ông còn tận tình đi xuống từng nhà chỉ cho bà con tìm chọn mua nguyên vật liệu làm nghề, chăn nuôi...Nguồn vốn đó, có nơi còn duy trì đến tận năm 1945.

Trong thời kỳ làm quan, trong nhà, ông viết "vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng" (đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) để răn dạy con. Riêng đối với bản thân ông, chúng ta luôn thấy hình ảnh của ông gắng với bộ áo bà ba đen sờn vai với đôi guốc mộc. Hai thứ ấy, nó theo ông đến lúc ông tạ thế.

- Yêu nước, thương dân, chăm lo cho dân

Khi ông đỗ đạt, triều đình Huế nhiều lần mời ông ra làm quan nhưng ông từ chối với lý do bị bệnh phải ở nhà để chạy chữa thuốc than, nhưng thực chất không ra làm quan là để ở nhà dạy học cho trẻ em nghèo trong làng.

Tháng 5/1905, khi ông hết tang vợ, triều đình lại giục ông ra làm quan, lúc ông ra đi chỉ để lại cho cô con gái lớn là bà Nguyễn Thị Thanh ít sào ruộng để canh tác mưu sinh, còn số ruộng còn lại của gia đình ông đem bán hết lấy tiền đi giúp những gia đình trong làng có người bị giặc bắt đi phu phen.

Thời gian làm tri huyện ở huyện Bình Khê (Bình Định), ông ít có mặt ở huyện đường mà thường đi đến từng nhà dân để thăm hỏi, khám bệnh cho dân; các tù chính trị trong phong trào chống thuế bị triều đình bắt giam, ông tìm cách thả ra hết; còn các vụ kiện của những tên quan lại, ác ôn thì ông không xét xử vụ nào.

- Người có tư tưởng tiến bộ

Ông thường đi đến các địa danh gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp sôi nổi và anh dũng và tìm đàm đạo với các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu để nắm vận mệnh của đất nước và tìm con đường cứu nước.

Nếu như các nho sĩ khác không cho con mình theo học ở trường Pháp - Việt, vì vào đấy là phải học chữ Pháp, bỏ mất chữ Nho là mất chữ thánh hiền. Các sĩ phu cho rằng, chữ Pháp là chữ của kẻ thù không cho con mình học, thì ông Sắc lại cho hai con trai của mình học ở trường đó. Đây là điểu kiện để con ông chứng kiến thực trạng xã hội của chế độ phong kiến, để tiếp xúc với nền văn minh Pháp. Đặc biệt, là để thấy rõ bộ mặt thật đê hèn của Pháp đằng sau các từ mỹ miều "tự do, bình đẳng, bát ái"

Lúc ông làm quan ở Bình Khê, khi con trai đến thăm ông, ông đã bảo quay về và nói "nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có ích gì". Từ cuộc gặp gỡ đó, đã thôi thức thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Hay lúc ông làm thầy thuốc ở Sài Gòn, làm lương y ở Đồng Tháp, thì được rất nhiều người dân nể phục, thương yêu, trong đó có không ít thanh niên cảm phục ông thường đến thăm ông, ông đã dạy: "mày đến thăm tao tao cũng thế. Chẳng đến thăm tao cũng thế này. Chúng mày đang tuổi thanh niên phải học hành và làm việc. Đến thăm tao phỏng có ích gì".

Để cho con an tâm làm cách mạng, khi ông Lê Mạnh Trình đến từ biệt ông để đi sang Quảng Châu dự lớp Thanh niên cách mạng Đồng chí hội. Ông Sắc nhắn gửi cho con trai" "cháu ra đi cố gắng. Bác nghe nói Quốc đang ở Quảng Châu. Cháu gặp thì nói bác vẫn khỏe, đừng lo, cứ cố gắng làm việc...trung với nước tức là hiếu với bác". Đây là tư tưởng tiến bộ mang tính vượt thời đại.

- Cống hiến đến suốt đời.

Ông thường dạy chữ nghĩa cho học trò nghèo, cho thanh niên, xem mạch, kê đơn, bóc thuốc cho dân nghèo từ Nam Đàn đến tận Đồng Tháp, từ lúc còn trẻ đến lúc tạ thế.

Khi tuổi về chiều, tuy sức khỏe đã yếu ông vẫn ngày ngày đi xuồng đến từng nhà khám bệnh, kê đơn cho bà con ở Đồng Tháp, chiều về bào chế thuốc, tối đi đàm đạo với bạn bè tìm đường giúp dân, cứu nước.

Đến lúc còn những hơi thở cuối cùng, ông biết mình không qua khỏi, ông cũng gượng dậy trao tặng cho ông Lê Chánh Đáng phương thuốc y học dân tộc bí truyền để giúp dân và qua đó nhờ gửi cho con gái Nguyễn Thị Thanh tập thơ rồi trút hơi thở cuối cùng tại Cao Lãnh Đồng Tháp, hưởng thọ 66 tuổi.

* Thứ hai, nói vể Bà Hoàng Thị Loan (1968-1901)

Là người phụ nữ sinh ra trong gia đình truyền thống gia giáo, nho học lâu đời. Trong bà, hội tụ đầy đủ bốn đức tính Công, Dung, Ngôn, Hạnh của người phụ nữ phương Đông. Nó được cụ thể hóa trong cuộc sống hằng ngày từ lúc còn ở cùng với cha mẹ đến lúc lìa xa cỗi đời nơi xứ lạ quê người. Bà là người phụ nữ:

- Xinh đẹp, tài giỏi, đảm đang

Từ nhỏ bà đã sớm thể hiện là người thuộc và thông hiểu nhất về những điệu hát ở Hí vải phường (hát giao duyên lúc dệt vải). Những người khác chỉ đơn thuần là học thuộc và hát giao lưu trong lúc dệt vải, nhưng riêng bà bà hiểu tận tường ý nghĩa của từng câu chữ mà mình hát.

Khi 16 tuổi bà đã là trụ cột cho gia đình, toàn tâm, toàn ý lo cho gia đình để chồng an tâm lo việc sách đèn. Bà lao động cật lực không để chồng, con thiếu thốn. Buổi sáng bà tảo tần ngoài đồng ruộng, tối về dệt vải, ru con:

 " À ơi!

Ru con, con ngủ đi nào

Mong con khôn lớn nên người khôn ngoan

Là trai gánh vác giang san

Mẹ cha trông xuống, thế gian trong vào

Ru con, con ngủ đi nào

Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng

Làm trai quyết chí anh hùng

Ra tay xây dựng vẫy vùng nước non".

- Chịu thương, chịu khó

Năm 1895, do muốn giúp chồng theo đuổi con đường học vấn, bà phải gửi con gái lớn ở lại quê với mẹ mà khăn gối cùng chùng và hai con trai di lý vào kinh đô Huế lao động nuôi chồng, nuôi con ăn học, làm hậu phương vững chắc cho chồng an tâm mài kinh nấu sử ở trường Quốc Tử Giám.

Trong suốt hành trình cùng chồng đi tìm con đường học vấn, bà lúc nào cũng  chân đi dép mo cau, vai quẩy đoàn gánh, một bên là con nhỏ, một bên là cả gia đình mang theo, vượt bao suối, bao đèo, suốt giữa những ngày mưa rào, những ngày nắng gắt. Cũng chính hình ấy, mà cả đời ông Sắc không bao giờ quên về người vợ tào khan của mình.

Những ngày ở Huế, với quyết tâm không muốn chồng dừng con đường học tập vì thiếu cơm, áo, không để con mình quá thiếu thốn, trong 5 năm 1895-1901 khung cửi của bà không một ngày ngừng tiếng thoi đưa.

Sống giữa chốn bộn bề ở Kinh thành Huế, bà nuôi gia đình bằng nghề vệt dải truyền thống, nhưng bà phải chật vật lắm mới lo đủ cái ăn, cái mặt cho gia đình, vì sản phẩm của bà làm ra không đủ sức cạnh tranh nơi chốn đô thành xa hoa, tráng lệ. Do đó, bà phải sử dụng sự khéo léo của mình để làm ra những sản phẩm tốt nhất đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng lúc bấy giờ. Chính những ngày tháng lao động cơ cực, cộng với cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nơi xứ người đã bào mòn sức khỏe của bà đến cạn kiệt. Và bà đã từ biệt cỡi đời khi tuổi còn rất trẻ -33 tuổi

- Luôn lạc quan về tương lai của chồng con

Suốt đời tảo tần vì gia đình nhưng bà chưa bao giờ than thân trách phận mà luôn tin tưởng ông Sắc sẽ công thành danh toại cùng bà bái tổ vinh qui về làng. Bà có lòng tin vững chắc về tài đức của chồng. Đó còn là động lực để bà lao động không mệt mỏi bao năm và cũng là giúp chồng thực hiện di nguyện của cha mình- cụ Hoàng Đường trước khi qua đời.

Từ nhỏ bà luôn dạy các con những điều hay lẻ phải, làm việc tốt, biết kính trọng người trên, biết sống chan hòa với bạn bè, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết nhường nhịn mọi người và phải yêu quê hương đất nước.

 "Con ơn mẹ dạy câu này

Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm người đói sạch rách thơm

Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền"  

* Thứ ba, Bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954)

- Thông minh, xinh đẹp

Chị gái của Bác tuy không được học cao nhưng là người có nhiều kiến thức, am hiển về nhiều lĩnh vực như: Hán học, y học dân tộc, kiến thức nhà nông, mưu trí trong cách đánh giặc...

Thời xuân thì, bà là người xinh đẹp, có rất nhiều người ngỏ lời muốn xin cưới bà nhưng bà đã không màng chuyện gia đình chồng con, mà chỉ lo việc giúp dân, cứu nước.

- Là người phụ nữ tự lập

Năm 11 tuổi, cha mẹ cùng các em vào Huế, dì An đi lấy chồng, mới 11 tuổi đầu bà phải lo liệu hết mọi việc sinh hoạt thường ngày trong nhà và thay dì, hay mẹ lo cho bà ngoại tuổi đã ngoài 60.

Khi lên 17 tuổi (lúc mẹ đã qua đời) bà phải thay mẹ chăm sóc người em út mới mấy tháng tuổi như một người mẹ.

Trong lúc ông Sắc đi làm quan, ông chỉ để lại cho bà Thanh 01 mảnh đất nhỏ đủ để canh tác nuôi thân, bà phải tự lập, tự quản cho gia đình.

Đến lúc bà 20 tuổi, ông Sắc lại vào Huế làm quan theo lệnh của triều đình, bà chỉ một mình ở lại làng Kim Liên tham gia các hoạt động cứu nước.

- Yêu nước, kiên trung

Tham gia các hoạt động yêu nước từ lúc còn rất trẻ, nhưng bà Thanh rất dũng cảm, mưu trí, nhiều lần mai phục, cướp vũ khí của Pháp giúp cho cách mạng. Bà cũng nhiều lần bị giặc bắt, chúng đã dùng mọi thủ đoạn và mọi hình thức tra tấn dã man nhất để tra tấn bà khai thác về tài liệu và tổ chức của nghĩa quân nhưng bà không hề nao núng. Vì chịu nhiều cực hình tra tấn của giặc, nên trên thân thể của người phụ nữ ấy còn để lại rất nhiều vết thương chằn chịt và đến cuối đời bà bị chứng bệnh lẫn thẫn do di chứng của việc bị tra tấn.

Do bà nhiều lần tổ chức cướp súng của Pháp, nên khi bị bắt chúng đã mắn bà "Người ta chửa thì đẻ ra con, còn mày chửa thì đẻ ra súng". Và bà đã bị chúng phạt 100 trượng và kết án tù khổ sai 9 năm.

- Hiếu thảo

Những năm tháng bị giam cầm ở Huế, bà luôn canh cánh bên lòng về người mẹ thân thương đang nằm lạnh lẽo một mình nơi xứ người, xa quê hương gần  400 km, lòng dạ day dứt không nguôi nên đã bà quyết định lấy tro cốt của mẹ đem về quê an táng.

Để làm điều đó, trước tiên bà tìm một loại gổ quý, lấy nước thơm từ loại gỗ quý dùng để rữa sạch hài cốt của bà Loan, sau đó đem bỏ vào một tấm vải điều màu đỏ thật đẹp gói lại như một gối hành lý. Sau đó bà đi theo đường thiên lý Bắc - Nam, ngày ngủ đêm đi, hơn 02 tuần mới về tới làng Kim Liên, tận tay trao hài côt của mẹ cho ông Khiêm tìm chổ an táng.

Cũng trong thời gian ở Huế, bà đã đi tìm thăm cha mình. Khi thấy Ông Sắc ốm o gầy mòn, bà đã khóc thật nhiều và lạy xin cha hãy cho bà rước về phụng dưỡng. Nhưng ông Sắc có chí lớn của riêng mình đã không đồng ý việc đó mà tiếp tục đi vào miền nam. Sau đó bà quay về sống với dì An. Sau cách mạng tháng tám thắng lợi, bà đã ra Hà Nội tìm thăm em trai là Hồ Chủ Tịch rồi vế quê sống đến cuối đời.

* Thứ tư, ông Nguyễn Sinh Khiêm (1888-1950)

- Yêu nước, thương dân, chăm lo cho dân

Sinh ra trong gia đình có truyền thống hiếu học, yêu nước nồng nàn nên ông cũng hội đủ các yếu tố tốt đẹp của truyền thống gia đình. Trong giai đoạn, khi ông Sắc vào Huế làm quan, ở nhà ông đã cùng chị Thanh tham gia cách mạng trong phong trào yêu nước của cụ Phan Bội Châu. Cũng như chi gái của mình, ông cũng từng nhiều lần vào tù ra khám, ở tù nhiều hơn ở nhà.

Ông ở làng Kim Liên mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho con cháu và nhân dân trong vùng. Đây là lớp dạy chữ quốc ngữ đầu tiên ở làng Kim Liên và Hoàng Trù.

Ngoài ra, ông còn mở lớp dạy võ cho dân trong làng để giúp bà con tự vệ và cũng để sẵn sàng tham gia vào hoạt động của nghĩa quân.

Năm 1912 ông thay mặt nhân dân làng Sen đưa bản điều trần tới nhà nước bảo hộ đòi "Nới rộng quyền tự do dân chủ, giảm bớt sưu thuế, mở mang việc học hành cho dân".

- Là người trượng nghĩa

Trong thời gian gánh vác việc làng, ông tìm cách giảm sưu thuế, rút ruộng của bọn cường hào, ác bá chia cho dân nghèo (ông đã rút được 36 hecta). Ông còn cải cách chế độ cúng bái, tế lễ, đình đám, bỏ đốt vàng mã...để giảm gánh năng cho dân.

Ông bí mật tham gia chống Pháp. Vận động tài chính tiếp tế cho nghĩa quân. Quãng thời gian ông bị giam lỏng ở Huế, ngoài những ngày phải đi trình diện chính quyền, ông mở lớp dạy học cho dân nghèo. Trong cuộc sống hằng ngày, nếu ông thấy người đói rách thì ngay cả quần áo ông đang mặc trên người ông cũng sẵn sàn nhường cho người khác bất hạnh hơn mình.

- Giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc

Khi một công sứ người Pháp rất thích văn thơ, ca dao tục ngữ, hò vè nên đã sai ông sưu tầm và nộp về tỉnh những câu ca dao tục ngữ Việt Nam. Khi làm việc đó, ông chỉ tập trung những câu có nội dung tiến bộ, ca ngợi dân tộc, quê hương, con người Việt Nam còn những câu ca tụng công lao của bọn thống trị thì ông bỏ ra hết.

- Hiếu thảo

Cả cuộc đời ông là việc dạy chữ, dạy võ và tham gia cách mạng. Nhưng chúng ta không nghĩ ông còn là người rất chu đáo, hiếu lễ. Khi được ra khỏi nhà từ, ông đã nhận thêm một trách nhiệm trọng đại của gia đình, đó là việc nhận hài cốt của người mẹ hiền đáng kính từ bà Thanh mới mang từ Huế về tới quê nhà, ông đã đi khắp nơi trong vùng để tìm vị trí có phong cảnh đẹp, phù hợp để an táng mẹ mình. Ông cùng người cháu ruột đã đào chín cái hố trên núi, chính ông là người đặt hài cốt của bà Loan vào trong một trong những cái hố đó và cũng chỉ có mình ông mới biết được bà Loan nằm ở vị trí nào. Chính việc đó, đã giúp bảo vệ được bà Loan đến ngày đất nước tươi đẹp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng "Gia đình là tế bào của xã hội".
Và chúng ta cũng thấy rằng, gia đình được xem chính là nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi người; tình cảm gia đình như những tia sáng diệu kì sưởi ấm cho tâm hồn mỗi người; là cái nôi giáo dục nên nhân phẩm, tính cách và là yếu tố tác động đến tâm lý, lối sống của các thành viên trong gia đình. Tình cảm gia đình là tình cảm đẹp đẽ thiêng liêng nhất mà ai cũng trân trọng bằng cả trái tim. Nếu chúng ta mở rộng ra, thì nó chính là sự gắn kết giữa người với người trong xã hội. Nó không còn bó hẹp trong phạm vị huyết thống, mà có thể hiểu là toàn xã hội, là tình cảm giữa con người với nhau trong cộng đồng dân tộc. Nếu tất cả mọi gia đình đều tốt đẹp thì sẽ xây dựng nên một xã hội phát triển, văn minh.

Chúng ta nhìn lại gia đình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rõ ràng gia đình ấy không chỉ là một gia đình kiểu mẫu, là tế bào "gốc", là gia đình tinh hoa, tổng hợp tất cả những phẩm chất, đặc điểm tốt đẹp của mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam trong đó. Mà hơn hết, mỗi thành viên trong gia đình Bác đều là những hạt giống quý, là kết quả của quá trình vun trồng, chăm bón bằng thực tiễn của xã hội và truyền thống tốt đẹp của quê hương, dân tộc. Nếu mọi gia đình hiện nay, chúng ta học tập theo tấm gương của những người thân trong gia đình Bác hay nói cách khác, nếu chúng ta nhân rộng mô hình từ gia đình "gốc" đó, thì từng thành viên trong gia đình hiện đại đều có những phẩm chất đạo đức cao đẹp; từng gia đình trong xã hội ngày nay sẽ hết lòng vì dân, vì nước, phấn đấu vì mục đích, lý tưởng chung. Từ đó, mỗi gia đình thật sự là tế bào lành mạnh để xây dựng nên một xã hội phát triển, văn minh, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" trong thời kỳ mới./.

Phạm Thúy Kiều (TTBDCT)




 


Lượt người xem:   46
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Ảnh
Video
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ
Chịu trách nhiệm chính:​  Ông Lê Văn Nên - PCT.UBND huyện. ​
Địa chỉ: ​Khu phố 2 thị trấn Đông Thành huyện Đức Huệ, Long An.
Điện thoại : (072) 3854230​ * Fax: (072) 3854771 ​ * Email: bbtduchue​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​